Giá trị tiên lượng của amh đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist

Mục tiêu: Xác định tiên lượng của AMH với đáp ứng của buồng trứng

trong thụ tinh trong ống nghiệm.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, 600

bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng

phác đồ GnRH antagonist,sử dụng FSH tái tổ hợp.

Kết quả: Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng kém là 1,52 ng/ml với

độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%,nồng độ AMH ≤ 1,52 ng/ml thì nguy

cơ đáp ứng kém cao gấp 7,4 lần khi AMH > 1,52 ng/ml. Sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê với p < 0,001.="" giá="" trị="" ngưỡng="" của="" amh="" trong="" đáp="">

quá mức là 4,04 ng/ml với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%. Nồng độ

AMH ≥ 4,04 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng quá mức cao gấp 2,69 lần khi

AMH < 4,04="" ng/ml,="" sự="" khác="" biệt="" có="" ý="" nghĩa="" thống="" kê="" với="" p=""><>

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy AMH có giá trị tiên lượng cao đối với

đáp ứng của buồng trứng.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị tiên lượng của amh đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng của amh đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist

Giá trị tiên lượng của amh đối với đáp ứng của buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist
NGUYỄN XUÂN HỢI, HOÀNG VĂN HÙNG
172
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nguyễn Xuân Hợi(1), Hoàng Văn Hùng(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Đại học Y Hà Nội
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA AMH ĐỐI VỚI ĐÁP ỨNG CỦA 
BUỒNG TRỨNG TRONG THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM 
BẰNG PHÁC ĐỒ GnRH ANTAGONIST
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tiên lượng của AMH với đáp ứng của buồng trứng 
trong thụ tinh trong ống nghiệm. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, 600 
bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng 
phác đồ GnRH antagonist,sử dụng FSH tái tổ hợp. 
Kết quả: Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng kém là 1,52 ng/ml với 
độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%,nồng độ AMH ≤ 1,52 ng/ml thì nguy 
cơ đáp ứng kém cao gấp 7,4 lần khi AMH > 1,52 ng/ml. Sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng 
quá mức là 4,04 ng/ml với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%. Nồng độ 
AMH ≥ 4,04 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng quá mức cao gấp 2,69 lần khi 
AMH < 4,04 ng/ml, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy AMH có giá trị tiên lượng cao đối với 
đáp ứng của buồng trứng.
Từ khóa: AMH, đáp ứng buồng trứng, thụ tinh trong ống nghiệm.
Abstract 
AMH CUT-OFF VALUE FOR PREDICTING 
OVARIAN STIMULATION IN GnRH ANTAGONIST 
PROTOCOL IN VITRO FERTILZATION
Objective: To assess AMH cut-off value for predicting ovarian 
stimulation in antagonist protocol in vitro fertilization. 
Subjects and Methods: A prospective study included 600 patients. 
Ovarian stimulation protocol was fixed GnRH antagonist and rFSH. 
Results: AMH cut-off value for predicting poor ovarian response was 
1.52 ng/ml. The sensitivity was 80% and specificity was 93%. The risk for 
poor ovarian response was higher 7.4 times in patients having AMH ≤ 
1.52 comapared to those who had AMH > 1.52 ng/ml. The difference was 
significant with p < 0,001. AMH cut-off value for predicting hyper ovarian 
response was 4.04 ng/ml. The sensitivity was 73% and specificity was 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Xuân Hợi,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: AMH, đáp ứng 
buồng trứng, thụ tinh trong ống 
nghiệm. 
Keywords: AMH, ovarian 
response IVF 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 172 - 177, 2016
173
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
61%. The risk for hyper ovarian response was higher 2.69 times in patients having AMH ≥ 4.04 ng/ml 
comapared to those who had AMH AMH < 4.04 ng/ml. The difference was significant with p < 0.001. 
Conclusions: AMH is a good marker for predicting ovarian response.
Key words: AMH, ovarian response IVF 
1. Đặt vấn đề
Dự trữ buồng trứng là khái niệm dùng để xác 
định tiềm năng sinh sản của phụ nữ, cũng như chức 
năng, số lượng và chất lượng trứng còn lại của 
mình [1]. Hiện tại, chưa có một yếu tố độc lập nào 
có độ chính xác cao trong đánh giá dự trữ buồng 
trứng và tiên đoán đáp ứng buồng trứng trong kích 
thích buồng trứng. các bác sĩ thường sử dụng một 
số yếu tố về lâm sàng, nội tiết hay siêu âm để đánh 
giá dự trữ buồng trứng, từ đó, tiên đoán đáp ứng 
của buồng trứng. Các yếu tố thường được sử dụng 
như tuổi của người phụ nữ, nồng độ FSH, inhibinB 
vào ngày 3 của chu kỳ kinh và siêu âm đếm số 
nang noãn thứ cấp ở đầu chu kỳ kinh [2].
Gần đây, anti-Mullerian hormone (AMH) được 
chuyên gia thụ tinh trong ống nghiệm tập trung 
nghiên cứu như là một chỉ điểm của chức năng 
buồng trứng. AMH là một glycoprotein của buồng 
trứng được sản xuất từ các tế bào hạt của nang noãn 
sơ cấp, tiền hốc và có hốc ở giai đoạn sớm nhưng 
không có ở các nang noãn thoái hóa hay đang phát 
triển [3]. Nồng độ AMH trong máu được ghi nhận 
tùy thuộc vào số lượng và hoạt động của các nang 
noãn nhỏ [4],[5], giảm trong suốt cuộc đời người 
phụ nữ và không còn ở tuổi mãn kinh [6]. Ngoài ra, 
định lượng AMH có khả năng ứng dụng lâm sàng 
cao do nồng độ AMH được ghi nhận không thay 
đổi trong chu kỳ kinh nguyệt [7], khi người phụ nữ 
đang mang thai [8], đang điều trị với GnRH đồng 
vận hay dùng thuốc ngừa thai ngắn hạn [9], vì vậy, 
bệnh nhân có thể thực hiện xét nghiệm AMH ở bất 
kỳ thời điểm nào của chu kỳ kinh nguyệt. 
Nhiều kết quả từ các nghiên cứu tìm mối tương 
quan giữa AMH và đáp ứng buồng trứng cho thấy 
giá trị ngưỡng của AMH để tiên đoán đáp ứng 
buồng trứng kém hay nguy cơ quá kích buồng 
trứng vẫn còn rất khác biệt. Do đó, chúng tôi thực 
hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu:
1. Giá trị tiên lượng của AMH đối với đáp ứng 
kém của buồng trứng trong thụ tinh trong ống 
nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist.
2. Giá trị tiên lượng của AMH đối với đáp ứng 
quá mức của buồng trứng trong thụ tinh trong ống 
nghiệm bằng phác đồ GnRH antagonist.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng
Gồm các bệnh nhân làm điều trị vô sinh tại 
Trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương từ tháng 10/2014 đến tháng 6/2015 phù 
hợp tiêu chuẩn lựa chọn và đồng thuận tham gia 
vào nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn lựa chọn 
Bao gồm tất cả các bệnh nhân được chọc 
hút noãn kích thích buồng trứng bằng phác đồ 
antagonist, tuổi 18-45, kích thích buồng trứng 
bằng FSH tái tổ hợp. 
Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng 
các phác đồ khác như phác đồ dài và agonist, các 
trường hợp cho nhận noãn.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô tả tiến cứu.
Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 đến 
tháng 6/2015 có 600 bệnh nhân thụ tinh trong ống 
nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ 
GnRN antagonist, sử dụng FSH tái tổ hợp, liều FSH 
ban đầu được xác định dựa trên tuổi bệnh nhân, 
AMH, AFC khi có ít nhất 2 nang noãn ≥ 18mm, 
hCG được sử dụng để gây trưởng thành nang noãn. 
Chọc hút nang được tiến hành 36h sau tiêm hCG.
Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng của buồng trứng 
theo số noãn thu được:
- Đáp ứng kém khi số noãn thu được < 4 noãn 
(Đồng thuận Bologna, ferreretti, 2011) [10]. 
30 noãn. Số noãn thu được < 4 chiếm 4,7 % ( 28 
bệnh nhân ), từ 4-15 noãn chiếm 62,3 % (374 bệnh 
nhân), trên 15 noãn chiếm 33% ( 198 bệnh nhân).
Tỷ lệ đáp ứng kém là 4,7%, đáp ứng tốt là 
62,3%, đáp ứng quá mức là 33%.
3.2. Giá trị trung bình của AMH đối 
với đáp ứng buồng trứng
Tỷ lệ đáp ứng kém là 4,7% (28 bệnh nhân) , 
đáp ứng tốt là 62,3% (374 bệnh nhân ), đáp ứng 
quá mức là 33% (198 bệnh nhân ).
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của nồng độ 
AMH giữa các nhóm đáp ứng. Nồng độ AMH rất 
thấp ở nhóm đáp ứng kém, cao hơn ở nhóm đáp ứng 
tốt và rất cao ở nhóm đáp ứng quá mức với p < 0,001. 
3.3. Giá trị tiên lượng của AMH với 
đáp ứng kém
Giá trị ngưỡng của AMH đối với đáp ứng kém là 
1,52 ng/ml với độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 93%.
Diện tích dưới đường cong của AFC trong đáp ứng 
kém là 91%, p < 0,01. Khoảng tin cậy 87% - 95%.
NGUYỄN XUÂN HỢI, HOÀNG VĂN HÙNG
174
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
- Đáp ứng quá mức khi số noãn thu được là >15 
noãn (Sunkara, 2011) [11]. 
- Đáp ứng tốt khi số noãn thu được từ 4-15 noãn. 
2.3. Đạo đức nghiên cứu 
Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều tự 
nguyện,đồng ý tham gia nghiên cứu. Danh sách 
và thông tin bệnh nhân được bảo mật, được Giám 
đốc trung tâm Hỗ trợ sinh sản cho phép thực hiện, 
nghiên cứu theo đề cương đã được phê duyệt.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân 
và kết quả kích thích buồng trứng.
Nghiên cứu được thực hiện trên 600 bệnh ,kết 
quả nghiên cứu cho thấy :
Tuổi trung bình 31,7 ± 5,2,nhóm tuổi 30-34 
chiếm tỷ lệ cao nhất là 42%, tuổi nhỏ nhất là 18 và 
lớn nhất là 45 tuổi. 
Nhóm vô sinh I hay gặp nhất chiếm 54,7%, vô 
sinh II chiếm 45,3%. Thời gian vô sinh trung bình 
là 5,0 ± 3,2, thời gian vô sinh hay gặp nhất dưới 
5 năm chiếm 52,2%. Có 33 đối tượng thời gian vô 
sinh lâu nhất là trên 10 năm. 
Bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân chiếm 
tỷ lệ cao nhất 44,2%.
Số nang AFC thấp nhất là 1; cao nhất là 30. 
Trung bình là 13,0 ± 10,8.
 Nồng độ AMH thấp nhất là 0,2; cao nhất là 
23,6. Trung bình là 4,57 ± 3,25.
Nồng độ FSH thấp nhất là 0,09; cao nhất là 
15,00. Trung bình là 5,97 ± 4,56.
Nồng độ E2 thấp nhất là 1,54; cao nhất là 
174,00. Trung bình là 36,22 ± 19,00.
Tổng liều rFSH trung bình là 1971,2 ±753,4. 
Tổng liều thấp nhất 400, cao nhất là 6750.
Số ngày kích thích buồng trứng trung bình 9,84 
±1,16. Thấp nhất là 8 ngày, nhiều nhất là 15 ngày.
Số nang noãn ≥14mm trung bình 12,09 ± 
5,74. Thấp nhất 3 nang, nhiều nhất 30 nang.
Số noãn chọc hút được trung bình 13,21 ± 6,66. 
Thấp nhất 0 noãn (có 6 bệnh nhân), nhiều nhất 
Đáp ứng của buồng trứng Số lượng Tỷ lệ
Đáp ứng kém 28 4,7
Đáp ứng tốt 374 62,3
Đáp ứng quá mức 198 33
Tổng 600 100%
Bảng 1. Đáp ứng của buồng trứng
Xét nghiệm
Dự đoán đáp ứng kém(< 4 noãn)
Giá trị Độ nhạy Độ đặc hiệu
AMH(ng/ml)
0,90 50 % 50 %
1,13 88% 71%
1,25 85% 75%
1,36 84% 85%
1,47 81% 89%
1,52 80% 93%
1,58 79% 92%
1,63 73% 92%
1,69 74% 92%
1,75 73% 92%
Bảng 2. Giá trị tiên lượng của AMH với đáp ứng kém
Biểu đồ 1. Đường cong ROC trong đáp ứng kém
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 172 - 177, 2016
175
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
3.4. Giá trị tiên lượng của AMH với đáp 
ứng quá mức
Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng quá mức 
là 4,04 ng/ml với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%.
Diện tích dưới đường cong của AMH trong đáp 
ứng quá mức là 71%, p < 0,01. Khoảng tin cậy 
67% - 75%.
Hệ số tương quan của AMH với đáp ứng 
buồng trứng
Giữa nồng độ AMH và số noãn bào có sự tương 
quan chặt (r=0,436, p < 0,01). AMH có sự tương 
quan ở cả 3 nhóm đáp ứng kém, tốt và quá mức với 
p < 0,01. Trong đó AMH có sự tương quan chặt chẽ 
nhất trong nhóm đáp ứng kém.
Xét nghiệm
Dự đoán đáp ứng quá mức (>15 noãn)
Giá trị Độ nhạy Độ đặc hiệu
AMH(ng/ml)
3,125 85% 45%
3,49 81% 51%
3,54 80% 52%
3,62 78% 54%
3,87 73% 58%
3,95 73% 59%
4,04 73% 61%
4,12 72% 61%
4,21 71% 61%
4,25 69% 62%
Bảng 3.Giá trị tiên lượng của AMH với đáp ứng quá mức
Biểu đồ 2. Đường cong ROC của AMH trong đáp ứng quá mức
Chỉ số Hệ số r Phương trình tương quan p
Chung 0,436 Số noãn = 0,772xAMH+1,539 <0,01
Đáp ứng kém 0,512 Số noãn = 0,534xAMH+1,904 <0,01
Đáp ứng tốt 0,414 Số noãn = 0,453xAMH+7,354 <0,01
Đáp ứng quá mức 0,338 Số noãn = 0,382xAMH+17,336 <0,01
Bảng 4. Tương quan giữa nồng độ AMH và số noãn
4. Bàn luận
Nghiên cứu 600 bệnh nhân được kích thích 
buồng trứng bàng phác đồ GnRH antagonist 
cho thấy bệnh nhân có hàm lượng AMH từ 2-< 
6 ng/ml là 279 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ cao nhất 
46,5%. Nồng độ thấp nhất 0,2 ng/ml, cao nhất 
23,5 ng/ml. Trung bình 4,57 ± 3,25 ng/ml. 
Nghiên cứu của Lê Viết Nguyên Sa (2013) [12], 
khi nghiên cứu trên 53 bệnh nhân vô sinh, nồng 
độ AMH trung bình là 3,53 ± 2,21 ng/ml.
Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
nồng độ AMH trung bình cao hơn tác giả trên. 
Điều này có thể giải thích do tỷ lệ đáp ứng kém 
(4,7%) trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn 
tác giả Lê Viết Nguyên Sa (13,2%). Mặt khác 
trong nghiên cứu của Lê Viết Nguyên Sa (2013) 
[12], tiêu chuẩn loại trừ không lấy bệnh nhân 
có buồng trứng đa nang còn nghiên cứu của 
chúng tôi không loại trừ. Theo Lie Fong và cộng 
sự (2011), thấy rằng nồng độ AMH ở bệnh 
nhân có hội chứng buồng trứng đa nang cao 
gấp 2-4 lần phụ nữ bình thường.
Nồng độ AMH trung bình trong nghiên cứu 
của chúng tôi thấp ở nhóm đáp ứng kém là 1,04 ± 
0,52; cao hơn ở nhóm đáp ứng tốt là 3,52 ± 2,17 
và rất cao ở nhóm đáp ứng quá mức là 7,02 ± 
3,73. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 
0,001. Kết quả này cũng tương tự như kết quả của 
một số nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nghiên cứu của Himabindu và cộng sự (2013) 
[13], nồng độ AMH giữa các nhóm đáp ứng (AMH 
trung bình trong nhóm đáp ứng kém, tốt lần lượt là 
1,22 ± 1,55 ; 2,19 ± 1,74) khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,01.
Tác giả Lê Viết Nguyên Sa (2013) [12], 
nghiên cứu trên 53 bệnh nhân khi tìm mối liên 
quan giữa AMH, AFC, FSH và E2 trong đáp ứng 
của buồng trứng ở bệnh nhân TTON cũng cho 
kết quả AMH trung bình giữa các nhóm đáp ứng 
buồng trứng là: nhóm đáp ứng kém là 1,19 ± 
0,39; nhóm đáp ứng tốt là 3,41 ± 1,82; nhóm 
đáp ứng quá mức là 6,55 ± 2,07. Với p < 0.01 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê .
Nghiên cứu 600 bệnh nhân có đủ xét nghiệm 
AMH có 28 bệnh nhân có số noãn thu được < 4 
noãn chiếm tỉ lệ 4,7%. Nồng độ trung bình của 
AMH trong nhóm đáp ứng kém là 1,04 ± 0,52. 
NGUYỄN XUÂN HỢI, HOÀNG VĂN HÙNG
176
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm còn 
lại, p<0,001. Điểm cắt của chúng tôi cho AMH 
trong dự báo đáp ứng kém và tốt trong kích 
thích buồng trứng là 1,52ng/ml với độ nhạy 
80% và độ đặc hiệu 93%. Nghĩa là, nồng độ 
AMH của một bệnh nhân ≤ 1,52 ng/ml thì bệnh 
nhân này có khả năng xảy xa đáp ứng kém 
trong kích thích buồng trứng với độ nhạy 80% 
và độ đặc hiệu 93%.
Giá trị tiên lượng của AMH trong đáp ứng 
kém được thể hiện qua tương quan giữa nồng 
độ AMH với số noãn và độ nhạy và độ đặc hiệu 
qua diện tích dưới đường cong ROC.
Biểu đồ1.1 cho thấy diện tích dưới đường 
cong (AUC) ROC của AMH với đáp ứng kém 
là 91%, khoảng tin cậy 87%-95%. Có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,01. Như vậy, AMH có nồng 
độ ≤ 1,52 tiên lượng xảy ra đáp ứng kém theo 
diện tích dưới đường cong ROC là rất cao.
Kết quả của chúng tôi tương đồng với 
khoảng kết quả của một số nghiên cứu khác 
như nghiên cứu của Kwee và cộng sự (2008) 
[14] với ngưỡng nồng độ AMH ≤ 1,3 μg/ml 
tiên lượng xảy ra với đáp ứng kém với độ nhạy 
76%, độ đặc hiệu là 86%, Lê Viết Nguyên Sa 
(2013) [12] với ngưỡng nồng độ AMH ≤1,51 
μg/ml tiên lượng xảy ra với đáp ứng kém với độ 
nhạy 91%, độ đặc hiệu là 92%.
Bảng 4 cho thấy AMH tương quan đồng 
biến chặt với số noãn có ý nghĩa thống kê (r = 
0,512, p < 0,01). Khi AMH càng tăng số lượng 
noãn thu được càng tăng. Như vậy AMH là yếu 
tố tiên đoán tốt đáp ứng kém buồng trứng.Kết 
quả hồi qui đa biến khi AMH ≤ 1,52 ng/ml thì 
nguy cơ đáp ứng kém cao gấp 7,47 lần khi 
AMH > 1,52 ng/ml.
600 bệnh nhân nghiên cứu có 198 bệnh 
nhân chọc hút noãn có >15 noãn chiếm tỷ lệ 
33%. Nồng độ trung bình của AMH trong nhóm 
đáp ứng quá mức là 7,02 ± 3,73. Khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với hai nhóm còn lại, p < 0,001. 
Điểm cắt của chúng tôi cho AMH trong dự báo 
đáp ứng quá mức trong kích thích buồng trứng 
là 4,04 với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 61%.
Biểu đồ 1.2 cho kết quả diện tích dưới đường 
cong của AMH là 71%, có ý nghĩa thống kê với 
p < 0,01. Khoảng tin cậy 67%-75%. Như vậy, 
AUC của AMH trong nghiên cứu này thể hiện 
AMH có giá trị tiên lượng tốt đáp ứng quá mức.
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu 
của Vương Thị Ngọc Lan và cộng sự với điểm 
cắt 3,97 ng/ml có độ nhạy 82%,độ đặc hiệu 
81% [2].
Nghiên cứu của Ebner và cộng sự (2006) 
[16], trên 141 bệnh nhân kết quả ngưỡng đáp 
ứng quá mức là 4,52 ng/ml với độ nhạy 78% 
và độ đặc hiệu 65%.
Bảng 4 cho thấy có mối tương quan thuận 
chặt giữa AMH với số noãn bào chọc hút được 
(r = 0,338), với p < 0,01. Như vậy AMH là yếu 
tố tiên đoán được số noãn thu được. Khi AMH 
càng tăng số lượng noãn thu được càng tăng.
Khi AMH ≥ 4,04 ng/ml thì nguy cơ đáp ứng 
quá mức cao gấp 2,69 lần khi AMH < 4,04 
ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 
< 0,001.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 600 bệnh nhân thụ tinh 
trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng 
bằng phác đồ antagonist , sử dụng FSH tái tổ 
hợp. Chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
• Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng 
kém là 1,52 ng/ml; độ nhạy 80%; độ đặc hiệu 
93%. Nồng độ AMH ≤ 1,52 ng/ml thì nguy 
cơ đáp ứng kém cao gấp 7,4 lần khi AMH > 
1,52ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với p < 0,001.
• Giá trị ngưỡng của AMH trong đáp ứng 
quá mức là 4,04 ng/ml; độ nhạy 73%; độ 
đặc hiệu 61%. Nồng độ AMH ≥ 4,04 ng/ml 
thì nguy cơ đáp ứng quá mức cao gấp 2,69 
lần khi AMH < 4,04 ng/ml. Sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,001.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 172 - 177, 2016
177
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Testing and interpreting measures of ovarian reserve. a committee 
opinion. Practice Committee of the American Society for Reproductive 
Medicine. Fertil Steril. 2012;98:1407–15.
2. Vương Thị Ngọc Lan, Giang Huỳnh Như và Hồ Mạnh Tường. Tương 
quan giữa nồng độ anti-mullerian hormone và đáp ứng buồng trứng 
trong thụ tinh ống nghiệm, Tạp chí Y học TPHCM. 2012; Tập 16, phụ 
bản số 1, chuyên đề Sức khỏe Sinh sản và Bà mẹ - Trẻ em, 201 – 210.
3. Jayaprakasan K., Walker K. F., Clewes J. S. et al. The interobserver 
reliability of off-line antral follicle counts made from stored three-dimensional 
ultrasound data: a comparative study of different measurement techniques. 
Ultrasound Obstet Gynecol. 2007; 29(3), 335-41.
4. Weenen C., Laven J. S., Von Bergh A. R. et al. Anti-Mullerian hormone 
expression pattern in the human ovary: potential implications for initial and 
cyclic follicle recruitment, Mol Hum Reprod. 2004; 10(2), 77-83.
5. La Marca A., Broekmans F. J., Volpe A. et al. Anti-Mullerian hormone 
(AMH): what do we still need to know?. Hum Reprod. 2009; 24(9), 2264-75.
6. Shin S. Y., Lee J. R., Noh G. W. et al. Analysis of serum levels of 
anti-Mullerian hormone, inhibin B, insulin-like growth factor-I, insulin-
like growth factor binding protein-3, and follicle-stimulating hormone 
with respect to age and menopausal status, J Korean Med Sci. 2008; 
23(1), 104-10.
7. Seifer D. B., Baker V. L. Leader B. Age-specific serum anti-Mullerian 
hormone values for 17,120 women presenting to fertility centers within the 
United States, Fertil Steril. 2011; 95(2), 747-50.
8. La Marca A., Giulini S., Orvieto R. et al. Anti-Mullerian hormone 
concentrations in maternal serum during pregnancy, Hum Reprod. 2005; 
20(6), 1569-72.
9. Somunkiran A., Yavuz T., Yucel O. et al. Anti-Mullerian hormone levels 
during hormonal contraception in women with polycystic ovary syndrome, 
Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2007; 134(2), 196-201.
10. Ferraretti,La Marca A, Fauser BCJM, Tarlatzis B, 
NargundG,GianaroliL. EHSRE consensus on the definition of “poor 
response” to ovarian stimulation for in vitro fertilization: the Bologna 
criteria. Hum Reprod. 2011; 26(7):1616-1624.
11. Sunkara SK, Rittenberg V, Raine-Fenning N,Bhattacharya 
S,ZamoraJ, Coomarasamy A. Association between the number of eggs 
and live birth in IVF treatment: an analysis of 400135 treatment cycles. 
Hum Reprod. 2011;26(7):1768-1774.
12. 12.Lê Viết Nguyên Sa, Cao Ngọc Thành. Đánh giá mối liên quan 
giữa nồng độ FSH, E2, AMH huyết thanh và chỉ số AFC với đáp ứng 
kích thích buồng trứng ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm. Tạp chí 
Phụ Sản. 2013; 11(4):20-25.
13. Himabindu Y., Sriharibaru M., Gopinathan K. et al. Anti-Mullerian 
hormone and antral follicle count as predictors of ovarian response in 
assisted reproduction, J Hum Reprod Sci. 2013;6, 27-31.
14. Kwee J., Schats R., McDonnell J. et al. Evaluation of anti-mullerian 
hormone as a test for the prediction of ovarian reserve, Fertility and 
Sterility. 2008; 90(3),737-743.
15. Nardo LG,Gelbaya TA et al. Circulating basal anti-mullerian hormone 
levels as predictor of ovarian response in women undergoing ovarian 
stimulation for in vitro fertilization.Fertil Steril. 2009; 92(5):1586-93.
16. Ebner T,Moser M et al (2010).Basal level of anti-Mullerian hormone 
is associated with oocyte quality in stimulated cycles.Hum Reprod. 
2010;21:2022-2026.

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_tien_luong_cua_amh_doi_voi_dap_ung_cua_buong_trung_t.pdf