Giá trị PIVKA-II trên người mắc viêm gan B, viêm gan C mạn tính biến chứng ung thư gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) khó sàng lọc, phát hiện sớm vì bệnh tiến triển thầm lặng,

thường không có triệu chứng gì. Mà nguyên nhân chính là nhiễm vi-rút viêm gan B (HBV) và vi-rút viêm gan C

(HCV). Theo ước tính của WHO đến 2017, đã có 248 triệu người sống chung với viêm gan B mạn tính và

887.000 ca tử vong. Tương tự, số người nhiễm viêm gan C mãn tính ước tính tới 110 triệu người và khoảng

399.000 người chết. Chỉ dấu PIVKA-II được phát hiện là nhạy và đặc hiệu hơn AFP trong việc hỗ trợ chẩn đoán,

theo dõi đáp ứng điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.

Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi giá trị các xét nghiệm Alpha-fetoprotein (AFP), và PIVKA-II trong chẩn

đoán bệnh HCC.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên hai nhóm bệnh nhân: nhóm bệnh

nhân HCC, nhóm bệnh nhân viêm gan B và C. AFP, PIVKA-II được đo bằng điện di mao quản vi chip trên máy

phân tích tự động μTASWako i30.

Kết quả: Nồng độ AFP, PVKA-II cao hơn có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân HCC so với những bệnh nhân

không có HCC (p <0,05). bên="" cạnh="" đó,="" afp="" không="" có="" mối="" tương="" quan="" với="" các="" chỉ="" số="" lâm="" sàng="" alt,="" ast,="">

Bilirubin toàn phần, Albumin. PIVKA-II có mối tương quan với mỗi nồng độ AST.

Kết luận: PIVKA-II góp phần gia tăng khả năng chẩn đoán, theo dõi điều trị ở những bệnh nhân viem gan

mạn tính so với chỉ thực hiện AFP và các xét nghiệm sinh hoá khác.

pdf 5 trang phuongnguyen 520
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị PIVKA-II trên người mắc viêm gan B, viêm gan C mạn tính biến chứng ung thư gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị PIVKA-II trên người mắc viêm gan B, viêm gan C mạn tính biến chứng ung thư gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Giá trị PIVKA-II trên người mắc viêm gan B, viêm gan C mạn tính biến chứng ung thư gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 206 
GIÁ TRỊ PIVKA –II TRÊN NGƯỜI MẮC VIÊM GAN B, VIÊM GAN C 
MẠN TÍNH BIẾN CHỨNG UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y 
DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
Trần Thị Anh Thư1, Phạm Thanh Long2, Lê Minh Khôi1,3, Nguyễn Thị Băng Sương1,3, 
Nguyễn Hoàng Bắc1,3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) khó sàng lọc, phát hiện sớm vì bệnh tiến triển thầm lặng, 
thường không có triệu chứng gì. Mà nguyên nhân chính là nhiễm vi-rút viêm gan B (HBV) và vi-rút viêm gan C 
(HCV). Theo ước tính của WHO đến 2017, đã có 248 triệu người sống chung với viêm gan B mạn tính và 
887.000 ca tử vong. Tương tự, số người nhiễm viêm gan C mãn tính ước tính tới 110 triệu người và khoảng 
399.000 người chết. Chỉ dấu PIVKA-II được phát hiện là nhạy và đặc hiệu hơn AFP trong việc hỗ trợ chẩn đoán, 
theo dõi đáp ứng điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. 
Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi giá trị các xét nghiệm Alpha-fetoprotein (AFP), và PIVKA-II trong chẩn 
đoán bệnh HCC. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên hai nhóm bệnh nhân: nhóm bệnh 
nhân HCC, nhóm bệnh nhân viêm gan B và C. AFP, PIVKA-II được đo bằng điện di mao quản vi chip trên máy 
phân tích tự động μTASWako i30. 
Kết quả: Nồng độ AFP, PVKA-II cao hơn có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân HCC so với những bệnh nhân 
không có HCC (p <0,05). Bên cạnh đó, AFP không có mối tương quan với các chỉ số lâm sàng ALT, AST, PT, 
Bilirubin toàn phần, Albumin. PIVKA-II có mối tương quan với mỗi nồng độ AST. 
Kết luận: PIVKA-II góp phần gia tăng khả năng chẩn đoán, theo dõi điều trị ở những bệnh nhân viem gan 
mạn tính so với chỉ thực hiện AFP và các xét nghiệm sinh hoá khác. 
Từ khóa: PIVKA-II, ung thư biểu mô tế bào gan 
ABSTRACT 
THE DIAGNOSTIC PERFORMANCE OF PROTHROMBIN 
INDUCED BY VITAMIN K ABSENCE-II (PIVKA-II) FOR HEPATOCELLULAR CARCINOMA 
IN THE UNIVERSITY MEDICAL CENTER OF HO CHI MINH HOSPITAL 
Tran Thi Anh Thu, Pham Thanh Long, Le Minh Khoi, Nguyen Thi Bang Suong, Nguyen Hoang Bac 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 206 - 210 
Background: Hepatocellular carcinoma (HCC) is difficult to screen and can be detected early because the 
disease progresses quietly, often without any symptoms. The main cause is hepatitis B virus (HBV) and hepatitis 
C virus (HCV) infection. According to WHO estimates by 2017, there were 248 million people living with 
chronic hepatitis B and 887,000 deaths. Similarly, the number of people with chronic hepatitis C infection is 
estimated to be 110 million people and about 399,000 people died. PIVKA-II was found to be more sensitive and 
specific than AFP, supporting the diagnosis and monitoring of HCC treatment response. 
1Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM 2Đại học Y Dược Huế 3Đại học Y Dược TP. HCM 
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Băng Sương ĐT:0913281386 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 207 
Objective: This study researched the exchange value of two tests: alpha-fetoprotein (AFP) and PIVKA-II in 
the diagnosis of HCC. 
Methods: The study was composed of two groups, one with HCC patients, one with chronic HBV or HCV 
patients. AFP and PIVKA-II were measured using a microchip capillary electrophoresis and liquid-phase binding 
assay on a μTASWako i30 auto analyzer. 
Results: Levels of AFP, PIVKA-II were significantly higher in patients with HCC than in those without 
HCC (p <0.05). Besides, AFP didn’t correlate with clinical indicators ALT, AST, PT, Bilirubin total and 
Albumin. PIVKA-II correlated with each AST concentration. 
Conclusions: PIVKA-II contributes to increase the ability to diagnose, follow-up treatment in patients with 
chronic liver disease compared with the only AFP and other biochemical tests. 
Keywords: PIVKA-II, Hepatocellular carcinoma 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nhiễm vi-rút viêm gan B (HBV) và vi-rút 
viêm gan C (HCV) là nguyên nhân chính của 
bệnh gan cấp tính và mãn tính (ví dụ như xơ 
gan và ung thư biểu mô tế bào gan: HCC) trên 
toàn cầu, gây ra khoảng 1,4 triệu ca tử vong 
hàng năm. Theo ước tính của WHO đến 2017, 
đã có 248 triệu người sống chung với viêm gan 
B mạn tính và 887.000 ca tử vong. Tương tự, số 
người nhiễm viêm gan C mãn tính ước tính tới 
110 triệu người và khoảng 399.000 người chết. 
Theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) 
năm 2018, tại Việt Nam có 10 triệu trường hợp 
nhiễm vi-rút viêm gan B và gần 1 triệu người 
nhiễm vi-rút viêm gan C. Viêm gan đã trở 
thành nguyên nhân đứng thứ 3 gây tử vong và 
gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam.Viêm gan B 
với tỷ lệ người nhiễm rất cao trong cộng đồng 
(10-15%), tiến triển nhanh tới suy gan cấp, xơ 
gan và ung thư gan. 
HCC là bệnh lý gan mật ác tính thường gặp 
nhất của ung thư gan (hơn 80%) và có tỷ lệ 
tử vong cao. HCC khó sàng lọc, phát hiện sớm vì 
bệnh tiến triển thầm lặng, thường không có triệu 
chứng gì nên đa số bệnh nhân thường được phát 
hiện muộn. 
Alpha-fetoprotein huyết thanh (AFP) được 
công nhận là dấu hiệu đặc hiệu của HCC(1), được 
chỉ định phổ biến trong tầm soát ung thư gan. 
Mức AFP cao có thể là dấu hiệu của ung thư gan 
hoặc ung thư buồng trứng hoặc tinh hoàn, cũng 
như các bệnh gan không phải ung thư như xơ 
gan và viêm gan. AFP cũng tăng trong trường 
hợp ung thư đường mật hoặc trong một số 
trường hợp di căn từ ung thư đại tràng(2). Theo 
khuyến cáo của AASLD năm 2018, việc sử dụng 
AFP như một xét nghiệm để chẩn đoán HCC có 
độ đặc hiệu thấp hơn mong đợi. Hiện tại, AFP 
không có trong các hướng dẫn của phương Tây 
về sàng lọc và chẩn đoán HCC(3,4,5). Nó vẫn được 
đưa vào như một công cụ bổ sung cho việc sàng 
lọc và chẩn đoán HCC trong hầu hết các hướng 
dẫn của Châu Á. Tuy nhiên, vai trò của PIVKA-
II như một dấu hiệu chẩn đoán và tiên lượng 
HCC cũng đã được nghiên cứu kỹ ở các nước 
phương Tây(6). Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu “Giá trị PIVKA-II trên người mắc viêm gan 
B, viêm gan C mạn tính biến chứng ung thư gan 
tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh”. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhân (BN) được theo dõi và điều trị 
viêm gan trong thời gian từ 1/2020 đếm 12/2020 
tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
thông qua hồ sơ bệnh án sàng lọc được 240 bệnh 
nhân đưa vào nghiên cứu gồm có 120 bệnh nhân 
biến chứng HCC và 120 bệnh nhân viêm gan 
B/C mạn tính. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Phương pháp thực hiện 
Thực hiện xét nghiệm AFP và PIVKA-II 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 208 
Định lượng PIVKA-II, AFP bằng hệ thống 
µTASWako®. PIVKA-II huyết thanh được đo 
bằng kỹ thuật định lượng điện di mao quản vi 
mạch và pha loãng trên máy phân tích tự động 
µTAS Wako i30 (Wako Pure Chemical 
Industries, Ltd, Osaka, Nhật Bản). Phạm vi đo là 
0,3-1.000 ng/ mL đối với AFP và 5-50.000 AU/ L 
đối với PIVKA-II. 
Xử lý và phân tích số liệu 
Sử dụng phần mềm SPSS version 20.0 cho 
các phân tích thống kê. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 57/GCN-HĐĐĐ, ngày 
5/12/2020. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu (NC) 
Tuổi của bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu 
Hình 1: Tuổi của bệnh nhân ở các nhóm NC 
Kết quả Hình 1 cho thấy: tuổi trung bình 
nhóm bệnh nhân ung thư gan có tuổi trung bình 
cao nhất 65,43±13,81; nhóm bệnh nhân viêm gan 
mạn có tuổi trung bình là 60,28±13,03. 
Giới tính của bệnh nhân ở các nhóm NC 
Từ Hình 2, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nam 
giữa các nhóm bệnh nhân nghiên cứu đều chiếm 
đa số và có sự đồng nhất, nhóm bệnh nhân biến 
chứng HCC tỷ lệ nam cao là 74,34%, nhóm bệnh 
nhân viêm gan mạn không biến chứng 77%. 
Tương tự, tỷ lệ nữ cao nhất trong các nhóm 
nghiên cứu là nhóm bệnh nhân viêm gan mạn 
không biến chứng 34,65% và nhóm nữ bệnh 
nhân HCC 35,66%. 
Hình 2: Phân bố giới của bệnh nhân ở các nhóm NC 
Đặc điểm cận lâm sàng 
Giá trị nồng độ AFP ở các nhóm bệnh nhân 
Nồng độ AFP ở các nhóm nghiên cứu được 
trình bày dạng giá trị trung vị (Median), nhỏ 
nhất (Min), lớn nhất (Max). Nồng độ AFP có 
phân bố không chuẩn, được chia làm 2 nhóm. 
Nhóm 1: bệnh nhân viêm gan mạn tính không 
biến chứng HCC; nhóm 2: bệnh nhân có biến 
chứng HCC, tất cả đều được kiểm định bằng 
phương pháp MannWhitney được thể hiện qua 
Bảng 1. 
Bảng 1: Giá trị nồng độ AFP ở các nhóm BN 
Nhóm BN n 
Nồng độ AFP (ng/mL) p Kiểm định 
Mann Whitney Median Min Max 
Viêm gan mạn 120 39,39 0,5 1397,4 p=0,000<0,05 
HCC 120 9447,20 0,5 261780 
Khi so sánh nồng độ AFP giữa các nhóm 
nghiên cứu chúng tôi nhận thấy nồng độ AFP 
thấp ở nhóm bệnh nhân viêm gan mạn (median 
39,39 ng/ml; min 0,5 ng/ml; max 1397,4 ng/ml), 
cao ở nhóm bệnh nhân HCC (median 9447,20 
ng/ml; min 0,5 ng/ml; max 261780 ng/ml). Khi so 
sánh nồng độ AFP giữa các nhóm nghiên cứu 
(p=0,000, z= -8,455) chỉ ra nhóm bệnh nhân HCC 
có nồng độ AFP khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với nhóm còn lại. 
Giá trị nồng độ PIVKA-II ở các nhóm BN 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 209 
Nồng độ PIVKA-II ở các nhóm nghiên cứu 
được trình bày dạng giá trị trung vị (Median), 
nhỏ nhất (Min), lớn nhất (Max). Nồng độ 
PIVKA-II có phân bố không chuẩn, được chia 
làm 2 nhóm. Nhóm 1: bệnh nhân viêm gan mạn 
tính không biến chứng HCC; nhóm 2: bệnh nhân 
có biến chứng HCC, tất cả đều được kiểm định 
bằng phương pháp MannWhitney được thể hiện 
qua Bảng 2. 
Bảng 2: Giá trị nồng độ PIVKA-II ở các nhóm BN 
Nhóm bệnh 
nhân 
n 
Nồng độ PIVKA-II 
(mAU/mL) p Kiểm định 
MannWhitney 
Median Min Max 
Viêm gan mạn 120 29,00 5,0 296 
p=0,000<0,05 
HCC 120 8090,88 105 100000 
Khi so sánh nồng độ PIVKA-II giữa các 
nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy nồng độ 
PIVKA-II thấp nhất ở nhóm bệnh nhân viêm gan 
mạn (median 29,00 mAU/mL; min 5,0 
mAU/mL;max 296 mAU/mL), ở nhóm bệnh 
nhân HCC (median 8090,88 mAU/mL; min 105 
mAU/mL; max 100.000 mAU/mL). 
Mối tương quan giữa AFP, PIVKA-II và các chỉ 
số cận lâm sàng 
Mối tương quan giữa AFP và các chỉ số cận 
lâm sàng 
Sau khi phân tích hệ số tương quan Pearson 
cho thấy nồng độ AFP không tương quan với 
các chỉ số cận lâm sàng tuy nhiên có tương quan 
thuận với tương quan thuận khá chặt nồng độ 
PIVKA-II (p <0,05, r=0,313) (Bảng 3). 
Mối tương quan giữa PIVKA-II và các chỉ số 
cận lâm sàng 
Sau khi phân tích hệ số tương quan Pearson 
cho thấy nồng độ PIVKA-II có tương quan thuận 
thấp với AST (r=0,182, p <0,05) (Bảng 4). 
Bảng 3: Mối tương quan giữa AFP và các chỉ số cận lâm sang 
 Bilirubin (mg%) Albumin (g%) AST (U/L) ALT (U/L) PT (s) PIVKA-II (mAU/mL) 
AFP 
(ng/mL) 
Mối tương quan r 0,004 -0,059 0,091 0,044 -0,071 0,313** 
p 0,955 0,433 0,192 0,533 0,375 0,000 
Bảng 4: Mối tương quan giữa PIVKA-II và các chỉ số cận lâm sàng 
 Bilirubin (mg%) Albumin (g%) AST (U/L) ALT (U/L) PT (s) 
PIVKA-II 
(mAU/mL) 
Mối tương quan r 0,084 -0,113 0,182** 0,088 -0,004 
p 0,268 0,135 0,008 0,206 0,964 
BÀN LUẬN 
Việc sử dụng kết hợp phân tích PIVKA - II 
và Alpha-fetoprotein (AFP) đã được chúng minh 
có thể dự đoán tốt hơn HCC giai đoạn sớm(7). 
Nghiên cứu cho kết quả tương tự một số nghiên 
cứu khác khi so sánh tuổi trung bình của nhóm 
HCC. Trong nghiên cứu của Lê Minh Huy (2010) 
là 54,8±13 tuổi(8); Trần Anh Linh (2015) là 
70,78±8,46 tuổi(9). Sự khác biệt này phụ thuộc vào 
địa điểm lấy mẫu của mỗi nghiên cứu nhưng các 
bệnh nhân HCC đều chủ yếu thuộc lứa tuổi 50-
70 tuổi. Giữa các nhóm chúng tôi nhận thấy có 
sự phù hợp với tiến trình diễn biến theo thời 
gian của bệnh lý từ viêm gan mạn tới xơ gan sau 
đó là ung thư gan. Kết quả trên cũng phù hợp 
với nghiên cứu của Vũ Văn Khiên tỷ lệ nam giới 
bệnh nhân HCC là 84,4% còn nữ giới 15,6%(10) 
hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Hồng, 
Nguyễn Văn Thanh nam giới chiếm 81,29% nữ 
giới chiếm 18,71%(11). Tỷ lệ mắc bệnh của nam 
giới trong các nhóm nghiên cứu thường cao hơn 
nữ giới phù hợp với thực tế cuộc sống vì nam 
giới tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ cao như 
nhiễm virut viêm gan, lạm dụng ruợu bia, hút 
thuốc 
Trong nghiên cứu chúng tôi cũng chỉ ra rằng 
chỉ có AST có mối tương quan với nồng độ 
PIVKA-II (r=0,82,p <0,05). Điều này tương tự kết 
quả trong nghiên cứu của Wang Q năm 2019(12), 
AST và GGT/AST tốt hơn AFP trong chẩn đoán 
HCC giai đoạn sớm và khi kết hợp với PIVKA-
II, giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán HCC. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Spangenberg HC, Thimme R, Blum HE (2006). Serum markers 
of hepatocellular carcinoma. Semin Liver Dis, 26(4):385-90. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 210 
2. Galle PR (2018). Discrepancies between EASL, AASLD and 
APASL guidelines on hepatocellular carcinoma management. 
ELIMINATION, pp.83-84. 
3. Bruix J, Sherman M, American Association for the Study of 
Liver (2011). Management of hepatocellular carcinoma: an 
update. Hepatology, 53(3):1020-2. 
4. European Association for Study (2012). EASL-EORTC clinical 
practice guidelines: management of hepatocellular carcinoma. 
Eur J Cancer, 56(4):908-43. 
5. Song DS, Bae SH (2012). Changes of guidelines diagnosing 
hepatocellular carcinoma during the last ten-year period. Clin 
Mol Hepatol, 18(3):258-67. 
6. Carr BI, Kanke F, Wise M, Satomura S (2007). Clinical 
evaluation of lens culinaris agglutinin-reactive alpha-fetoprotein 
and des-gamma-carboxy prothrombin in histologically proven 
hepatocellular carcinoma in the United States. Dig Dis Sci, 
52(3):776-782. 
7. Ertle JM, Heider D, Wichert M, et al (2013). A combination of 
alpha-fetoprotein and des-gamma-carboxy prothrombin is 
superior in detection of hepatocellular carcinoma. Digestion, 
87(2):121-31. 
8. Lê Minh Huy, Nguyễn Thúy Oanh (2010). Tương quan giữa 
AFP huyết thanh và các yếu tố tiên lượng khác trong carcinoma 
tế bào gan. Y học Việt Nam - Chuyên đề giải phẫu bệnh-Tế bào 
bệnh học, pp.36-42. 
9. Trần Anh linh (2010). Nghiên cứu nồng độ AFP (Alpha-Feto-
Protein) và một số chỉ số hóa sinh trên bệnh nhân ung thư gan 
đến khám tại Bệnh viện Hữu Nghị. Luận văn Thạc sĩ Y học, 
Trường Đại học Y Hà Nội. 
10. Vũ Văn Khiên (1999). Giá trị của AFP và AFP có ái lực với lectin 
trong chuẩn đoán, theo dõi, và tiên lượng HCC. Luận án Tiến sĩ 
Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 
11. Nguyễn Thị Vân Hồng (2008). Tìm hiểu đặc điểm hình thái học 
và định lượng Alpha-Fetoprotein trong chẩn đoán ung thư gan 
tại khoa tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu Y học, 53(1):26-
32. 
12. Wang Q, Chen Q (2019). Diagnostic value of gamma-
glutamyltransferase/ aspartate aminotransferase ratio, protein 
included by vitamin K absence or antagonist II, and alpha-
protein in hepatits B virus related hepatocella carcinoma. World 
Journal of Gastroenterology, 25(36):5515-5529. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_pivka_ii_tren_nguoi_mac_viem_gan_b_viem_gan_c_man_ti.pdf