Giá trị của siêu âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu âm nhũ 2D trong phát hiện bất thường tuyến vú tại Bệnh viện Phụ nữ thành phố Đà Nẵng

Bất thường tuyến vú là một vấn đề rất hay gặp trong chuyên ngành sản

phụ khoa. Bất thường tuyến vú bao gồm ung thư vú và các tổn thương lành

tính như nhân xơ vú ( bướu sợi tuyến), xơ nang ( thay đổi sợi bọc), nang vú

Việc phát hiện bất thường tuyến vú đặc biệt là phát hiện sớm ung thư vú là một

trong những mục tiêu hàng đầu của Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng

pdf 6 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị của siêu âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu âm nhũ 2D trong phát hiện bất thường tuyến vú tại Bệnh viện Phụ nữ thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị của siêu âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu âm nhũ 2D trong phát hiện bất thường tuyến vú tại Bệnh viện Phụ nữ thành phố Đà Nẵng

Giá trị của siêu âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu âm nhũ 2D trong phát hiện bất thường tuyến vú tại Bệnh viện Phụ nữ thành phố Đà Nẵng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
109
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 109 - 114, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Võ Xuân Phúc, Bùi Thị Như Quỳnh, Nguyễn Thị Thùy Trang 
Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng
GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM NHŨ 3D TỰ ĐỘNG ABVS
SO VỚI SIÊU ÂM NHŨ 2D
TRONG PHÁT HIỆN BẤT THƯỜNG TUYẾN VÚ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Bùi Thị Như Quỳnh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Abstract 
The automated breast volume scanner (ABVS) represents a new 
technology for diagnosing breast masses. To compare the efficacy of 
automated beast volume scanner with that of conventional ultrasonography 
in the detection of breast abnormal lesions in Da Nang’s Women Hospital. 
In this study, 2986 subjects were performed handheld ultrasound and 
1033 subjects were performed ABVS. ABVS detected 17 (1,6%) malignant 
lesions, whereas handheld ultrasound detected 13 (0,4%) malignant 
lesions ( p < 0,05). Mean lesion size as assessed with the ABVS (12,5± 
0,2 mm ) differ significantly from that determined by handheld ultrasound 
(15,9 ± 0,3 mm) (p < 0,05). ABVS shows an almost perfect agreement in 
assessing pathology result (Kappa = 0,943). Overall, ABVS is a promising 
modality for clinical screening abnormal breast lesion.
1. Đặt vấn đề
Bất thường tuyến vú là một vấn đề rất hay gặp trong chuyên ngành sản 
phụ khoa. Bất thường tuyến vú bao gồm ung thư vú và các tổn thương lành 
tính như nhân xơ vú ( bướu sợi tuyến), xơ nang ( thay đổi sợi bọc), nang vú 
Việc phát hiện bất thường tuyến vú đặc biệt là phát hiện sớm ung thư vú là một 
trong những mục tiêu hàng đầu của Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng.
Ung thư vú là một trong những loại ung thư chiếm tỷ lệ cao ở phụ nữ 
ở các nước phát triển và đang phát triển. Tại Việt Nam tỷ lệ này lại tăng 
trong 2 thập kỷ vừa qua và dần trở thành căn bệnh ung thư hay gặp nhất ở 
phụ nữ . Theo Globocan 2018 [11], số trường hợp mới mắc của ung thư vú 
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH, NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
110
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
ở Việt Nam là 15 229, chiếm tỷ lệ cao nhất trong 
các loại ung thư ở phụ nữ Việt Nam [6].Theo những 
ghi nhận trước đây, phần lớn ung thư vú ở Việt 
Nam và các nước Đông Nam Á được chẩn đoán 
ở giai đoạn muộn của bệnh và trên 25% đã có di 
căn xa. Vì vậy vai trò của chẩn đoán hình ảnh học 
tuyến vú đóng vai trò quan trọng.
 Chụp nhũ ảnh là một tiêu chuẩn vàng trong 
việc tầm soát ung thư vú cho phụ nữ từ 40 tuổi trở 
lên và làm giảm tỷ lệ tử vong [10]. Tuy nhiên người 
ta nhận thấy rằng nhũ ảnh cũng có hạn chế đặc 
biệt là độ nhạy thấp, giảm đến 50% trong tầm soát 
ung thư vú ở người có mô vú đặc so với người có 
mô vú mỡ [1]. Độ nhạy càng thấp hơn ở người phụ 
nữ trẻ dưới 50 tuổi và mô tuyến vú rất dày (đối 
tượng nguy cơ cao mắc ung thư vú) [6], [10]. 
Siêu âm là một phương tiện hỗ trợ tầm soát, ít 
bị ảnh hưởng bởi độ dày của mô tuyến vú. Từ lâu 
siêu âm 2D đã được sử dụng rộng rãi bởi vì tính 
đơn giản, dễ được chấp nhận, tương đối rẻ tiền, 
đặc biệt không bị nhiễm tia xạ. Tuy nhiên siêu âm 
2D lại mang tính chủ quan cao, việc đánh giá 
cũng như chẩn đoán phải được thực hiện ngay 
thời điểm kiểm tra hoặc ngay sau đó thông qua 
một vài hình ảnh được sao chép lại. Gần đây, một 
hệ thống siêu âm tự động 3D nhũ ABVS không 
phụ thuộc người thực hiện, cùng với đầu dò tần số 
cao, đã và đang cho thấy sự tiến bộ trong chẩn 
đoán hình ảnh học tuyến vú. Trên thế giới đã có 
một vài nghiên cứu về ABVS, tuy nhiên vai trò 
của nó trong đánh giá bất thường tuyến vú vẫn 
còn bàn cãi [4], [16]. Nghiên cứu của Chang 
và cộng sự năm 2011 [4] trên 69 tổn thương vú 
cho thấy rằng cả ABVS và siêu âm 2D đều có độ 
nhạy (100%) và độ đặc hiệu cao (95% và 85%), 
hơn nữa ABVS có tính chính xác trong chẩn đoán 
cao hơn siêu âm 2D. Nghiên cứu của Wojincki 
và cộng sự [16] lại có kết quả trái ngược. Khi 
mô tả 50 tổn thương, ABVS có độ nhạy , độ đặc 
hiệu, độ chính xác tương đối thấp (52,8%; 73,2%; 
66%). Hơn nữa có đến 47% trường hợp cần được 
siêu âm đánh giá lần 2 sau khi thực hiện ABVS. 
Như vậy vẫn chưa có sự thống nhất về giá trị của 
ABVS so với siêu âm 2D trên thế giới. Tại Việt 
Nam việc sử dụng hệ thống ABVS trong tầm soát 
bệnh lý tuyến vú mới được thực hiện trong vài năm 
trở lại đây và vẫn chưa có nghiên cứu nào về giá 
trị của hệ thống ABVS và siêu âm 2D. Từ những 
lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài 
“Giá trị siêu âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu 
âm nhũ 2D trong phát hiện bất thường tuyến vú 
tại Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng” với 2 
mục tiêu (1) xác định tỷ lệ bất thường tuyến vú 
của phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ nữ Thành 
phố Đà Nẵng và (2) nghiên cứu giá trị của siêu 
âm nhũ 3D tự động ABVS so với siêu âm nhũ 2D 
trong việc phát hiện bất thường tuyến vú tại Bệnh 
viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm tất cả các trường 
hợp đến khám vú tại Bệnh viện Phụ nữ Thành phố 
Đà Nẵng trong thời gian từ 07/2018 - 02/2019. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
 - Bệnh nhân nữ trên 18 tuổi đến khám vú tại 
Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng.
Tiêu chuẩn loại trừ 
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Trong thời gian từ 07/2018- 02/2019 có tất cả 
có 2986 bệnh nhân thực hiện siêu âm nhũ 2D và 
1033 bệnh nhân thực hiện siêu âm nhũ 3D ABVS 
thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại 
trừ. Việc lựa chọn phương pháp siêu âm là lựa 
chọn ngẫu nhiên của bệnh nhân. Tất cả bệnh nhân 
đều được thực hiện bởi cùng một bác sĩ có nhiều 
năm kinh nghiệm trong siêu âm vú và trên 6 tháng 
quét vú 3D.
Nhóm 1: Thực hiện siêu âm vú bằng máy Siêu 
âm 2D Siemens
 Bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa với cánh tay 
giơ lên trên đầu. Siêu âm theo chiều nan hoa và 
chiều song song với các ống tuyến vú. Hình ảnh tổn 
thương đều được lưu lại.
 Nhóm 2: Thực hiện siêu âm vú bằng hệ thống 
quét khối vú 3D ABVS ACUSON S2000 [5]
Siêu âm vú tự động được thực hiện bởi hệ thống 
ABVS tích hợp với hệ thống siêu âm ACUSON 
S2000 và kết quả được phân tích bởi cùng một 
bác sĩ thực hiện siêu âm 2D. Bệnh nhân nằm ở tư 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
111
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 109 - 114, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
thế giống siêu âm 2D. Dựa vào hình dáng, kích 
thước, độ dày của tuyến vú mà người kỹ thuật 
viên sẽ chọn các thông số kỹ thuật phù hợp. 3 mặt 
cắt chính được thực hiện cho mỗi vú là trước- sau 
(anterior-posterior (AP)), bên ngoài (lateral (LAT)), 
bên trong ( medial (MED)). Đối với vú có kích thước 
lớn có thể quét thêm 2 mặt cắt trên (superior (SUP)) 
và dưới (inferior (INF)) [5]. 
Thời gian cho một lát cắt là 65s. Sau khi quét 
xong, toàn bộ hình ảnh được chuyển sang hệ thống 
máy tính work station, tại đây có bộ công cụ hỗ trợ 
cho việc phân tích hình ảnh. Thông thường hình 
ảnh của mỗi lát cắt được thể hiện dưới dạng 3 mặt 
cắt dọc, ngang và đứng dọc (siêu âm 2D không 
thấy được mặt cắt này). Đặc biệt mặt cắt đứng dọc 
có thể được nhìn dưới dạng cắt lớp, các lát cắt cách 
nhau ít nhất là 0,5mm. 
Hình ảnh tổn thương được mô tả theo các đặc 
điểm: hình dạng, trục, hồi âm, đường bờ, hồi âm 
sau tổn thương, vi vôi hóa, dấu hiệu co kéo mô vú 
xung quanh.
Tổn thương nếu có được phân loại theo hệ thống 
BI-RADS theo Hiệp hội Điện quang ACR 2013
+ BI-RADS I: bình thường, theo dõi định kỳ
+ BI-RADS II: tổn thương lành tính, theo dõi định 
kỳ, xử lý theo lâm sàng
+ BI-RADS 0: chưa xếp loại được, cần khảo sát 
hình ảnh thêm, đối chiếu kết quả cũ, tham khảo ý 
kiến khác nhưng không có bổ sung về lâm sàng
+ BI-RADS III: khả năng lành tính, cần theo dõi 
định kỳ 3 – 6 tháng.
+ BI-RADS IV: nghi ngờ (2 – 95%), cần xác định 
mô học
IVA: nghi ngờ ít, IVB: trung bình, IVC: cao.
+ BI-RADS V: rất nghi ngờ ác tính (>95%), cần 
sinh thiết.
+ BI-RADS VI: ung thư đã biết, đánh giá giai 
đoạn và kế hoạch điều trị.
Tất cả các tổn thương BI-RADS III trở lên và một 
phần BI-RADS 2 (vì bệnh nhân lo lắng) được tiến 
Hình 2: Các mặt cắt chính (trái) và bổ sung (phải) cho mỗi vú khi quét ABVS
Hình 3: Hình ảnh 3 mặt cắt siêu âm 3D của ABVS, dấu hiệu co kéo tuyến vú trên mặt cắt 
coronal [5]
hành chọc hút tế bào FNA và hoặc mổ sinh thiết 
(nếu nghi ngờ) để có chẩn đoán cuối cùng.
2. Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý theo phần mêm 
thống kê y học. Sự khác biệt có ý thống kê khi p < 
0,05. Khảo sát mức độ phù hợp giữa siêu âm và 
kết quả giải phẫu bệnh
Kappa: Độ phù hợp:
< 0.20 Rất ít
0.21 - 0.40 Nhẹ
0.41 - 0.60 Trung bình
0.61 - 0.80 Chặt chẽ
0.81 - 1.00 Hầu như hoàn toàn
3. Kết quả nghiên cứu
Có tất cả 2986 trường hợp thực hiện siêu âm 
nhũ 2D và 1033 trường hợp thực hiện siêu âm nhũ 
3D ABVS. Độ tuổi trung bình của nhóm siêu âm 2D 
và ABVS lần lượt là 36 ± 1,6 và 39 ± 1,8. Phần lớn 
các trường hợp đi khám đều không có tiền sử đặc 
biệt. Khám lâm sàng bình thường chiếm tỷ lệ cao 
nhất lần lượt là 37,2% và 32,6% trong nhóm siêu 
âm nhũ 2D và siêu âm nhũ 3D ABVS. Sự khác biệt 
về độ tuổi, tiền sử, đặc điểm lâm sàng giữa 2 nhóm 
không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Kết quả siêu âm phân loại BI-RADS cho thấy 
tỷ lệ cao nhất trong nhóm 2D và 3D là BI-RADS 
III (52,4% và 75,4%). Số bệnh nhân được đánh 
giá BI-RADS IV trong nhóm 2D là 0,7%, với 3D là 
1,9%. Sự khác biệt giữa các nhóm BI-RADS trong 
hai mẫu nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với 
p > 0,05.
Trong tổng số 4021 trường hợp siêu âm vú (2D, 
3D) và thực hiện FNA hoặc mổ sinh thiết nếu cần, 
kết quả lành tính chiếm tỷ lệ 99,1%; ác tính chiếm 
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH, NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
112
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
tỷ lệ 0,9% (Bảng 2). Tổn thương lành tính bao gồm 
nhân xơ ( bướu sợi tuyến), viêm, nang, xơ nang 
(thay đổi sợi bọc), u mỡ. Trong 2986 bệnh nhân 
thực hiện siêu âm 2D, có tổng 1615 tổn thương 
được thực hiện FNA, trong đó nhân xơ vú chiếm tỷ 
lệ 20,5%, 13 trường hợp ung thư vú (đã được kiểm 
chứng bằng mô bệnh học) chiếm tỷ lệ 0,4%. Tương 
tự trong 1033 bệnh nhân thực hiện ABVS, có tổng 
810 tổn thương được thực hiện FNA, trong đó phát 
hiện 17 trường hợp ung thư (đã được kiểm chứng 
bằng mô bệnh học) chiếm tỷ lệ 1,6%. Sự khác biệt 
về tỷ lệ lành tính và ác tính giữa 2 nhóm siêu âm 
nhũ 2D và siêu âm nhũ 3D ABVS có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,05.
Về kích thước ung thư (bảng 3), trong tổng số 
13 trường hợp ung thư phát hiện ở nhóm siêu âm 
nhũ 2D, có 1 trường hợp có kích thước < 5mm 
chiếm 7,7%, 3 trường hợp có kích thước 5 – 
10mm, còn lại phát hiện ở kích thước > 10mm. 
Tương tự trong 17 trường hợp ung thư ở nhóm siêu 
Đặc điểm siêu âm 
(BI-RADS)
Số bệnh nhân (n)
p2D
N (%)
ABVS
N (%)
1 735 (24,6) 96 (9,3)
>0,05
2 667 (22,3) 139 (13,4)
3 1563 (52,4) 779 (75,4)
4
A 12(0,4) 8(0,8)
B 6 (0,2) 5 (0,5)
C 3 (0,1) 6 (0,6)
Tổng 2986 (100) 1033 (100)
Bảng 1: Phân loại BI-RADS trên siêu âm 2D và 3D ABVS
Phân loại Bản chất tổn thương
2D
 N (%)
3D 
N (%) Tổng p
Lành 
tính
FNA
Nhân xơ
(bướu sợi tuyến)
612
(20,5)
367 
(35,5)
979
(24,3)
Viêm 166 (5,5)
74 
(7,2)
240
(5,9)
U mỡ 90 (3,0)
 64 
(6,2)
154
(3,9)
Nang 411 (13,8)
135
(13,1)
546
(13,6)
Xơ nang 
(thay đổi sợi bọc)
 323 
(10,8)
 153 
(14,8)
476
(11,8)
Không FNA 1371(45,9)
223
(21,6)
1594
(39,6)
Tổng 2975 (99,6)
1016
(98,4)
3991
(99,1)
<0,05
Ác tính Ung thư vú(tại chỗ và xâm lấn)
13 
(0,4)
 17
 (1,6)
40
(0,9)
Tổng 2986 (100)
1033 
(100)
4019
(100)
Bảng 2: Phân loại bất thường tuyến vú trên FNA
âm nhũ 3D ABVS, kích thước < 5mm có 3 trường 
hợp chiếm 17,6%; kích thước 5-10mm chiếm tỷ 
lệ 52,3%; kích thước > 10mm chiếm tỷ lệ 30,1%. 
Kích thước khối u ác tính trung bình trong nhóm 
2D là 15,9 ± 0,3 mm, tương tự trong nhóm 3D là 
12,5 ± 0,2 mm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,05.
Chúng tôi cũng nghiên cứu giá trị của dấu 
hiệu co kéo mô tuyến vú xung quanh trên mặt cắt 
coronal của các khối u đặc (nhân xơ vú, ung thư) 
phát hiện trên 3D ABVS. Trong 17 trường hợp ung 
thư vú phát thì có 15 trường hợp có hình ảnh co 
kéo mô tuyến vú xunh quanh trên mặt cắt coronal, 
2 trường hợp không có hình ảnh này. Trong 367 
trường hợp nhân xơ vú, không có trường hợp nào 
có hình ảnh co kéo này. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05.
Mức độ tương đồng giữa hình ảnh siêu âm và 
kết quả giải phẫu bệnh được thể hiện thông qua hệ 
số Kappa. Mức độ tương đồng giữa hình ảnh siêu 
âm 2D và kết quả giải phẫu bệnh là chặt chẽ với 
Kappa = 0,763 (0,61-0,80). Đối với nhóm siêu âm 
3D ABVS, với Kappa = 0,943 ( 0,81-1,00) mức độ 
tương đồng là hầu như hoàn toàn.
4. Bàn luận
Kỹ thuật siêu âm quét vú 3D ABVS đã trải qua 
nhiều thập kỷ của phát triển tuy nhiên đến nay vẫn 
chưa được chấp nhận rộng rãi trong ứng dựng 
cũng như chưa có sự đồng thuận trong các nghiên 
cứu. Việc phát hiện bệnh lý tuyến vú lành tính , ác 
tính đặc biệt ung thư vú giai đoạn sớm cũng là một 
trong những mục tiêu hàng đầu trong việc nâng 
cao chất lượng sống của người phụ nữ. Trong thời 
gian nghiên cứu từ 07/2018 đến tháng 02/2019, 
bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Phụ nữ Đà 
Nẵng vẫn ưu tiên lựa chọn phương pháp siêu âm 
2D thông thường bởi vì tính quen thuộc, giá thành 
Kích thước (mm) 2D N (%)
3D
N (%)
<5 1 (7,7) 3 (17,6)
5-10 3 (23,1) 9 (52,3)
11-20 6 (46,1) 3 (17,6)
>20 3 (23,1) 2 (12,5)
Tổng 13 (100) 17 (100)
Bảng 3: Kích thước khối u ác tính
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
113
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 109 - 114, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
rẻ, thời gian ngắn. Hệ thống siêu âm quét vú 3D 
ABVS vốn được giới thiệu là có nhiều ưu điểm hơn 
siêu âm 2D trong tầm soát phát hiện tổn thương 
tuyến vú, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về 
giá trị của hệ thống này, cũng như nghiên cứu so 
sánh giữa siêu âm 2D và siêu âm 3D ABVS. Tuy 
nhiên cũng có một vài nghiên cứu không ủng hộ 
giá trị của ABVS [16].
Xếp loại BI-RADS trong siêu âm vú nhằm chuẩn 
hóa trong việc chẩn đoán, tiên lượng nguy cơ ác 
tính cũng như để đưa ra thái độ xử trí cho phù hợp. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác nhau về 
tỷ lệ của các nhóm BI-RADS trong 2 mẫu nghiên 
cứu có thể giải thích vì số mẫu chênh lệch, nguyên 
nhân đi khám của các nhóm nghiên cứu khác nhau. 
Trong số các bệnh nhân được đánh giá BI-RADS III 
của 2D và 3D có 4 trường hợp sau thực hiện FNA 
thì có kết quả là u ác tính (2D: 3 trường hợp, 3D: 
1 trường hợp). Trong 21 trường hợp xếp BI-RADS 
IV của nhóm 2D thì chỉ có 10 trường hợp ra ung 
thư. Tương tự trong 19 trường hợp BI-RADS IV của 
nhóm 3D thì có 16 trường hợp ung thư. Như vậy 
có thể thấy rằng siêu âm nhũ 3D cho ra hình ảnh 
chi tiết (lát cắt mỏng), không bỏ sót vùng nào của 
vú (quét các mặt phẳng cơ bản và bổ sung nếu có) 
nên việc phát hiện, đánh giá tổn thương cũng đầy 
đủ và chính xác hơn.
Trong 2986 bệnh nhân thực hiện siêu âm vú 
2D, chúng tôi phát hiện 13 trường hợp ung thư 
vú chiếm tỷ lệ 0,4%. Trong 1033 bệnh nhân thực 
hiện siêu âm vú 3D ABVS, chúng tôi phát hiện 17 
trường hợp ung thư vú, chiếm tỷ lệ 1,6%. Sự khác 
biệt về tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Điều này cho thấy hệ thống siêu âm quét khối vú 
3D ABVS có khả năng phát hiện nhiều tổn thương 
ác tính hơn siêu âm 2D. Theo nghiên cứu của Woo 
Jung Choi và cộng sự năm 2014 [15], tỷ lệ ung thứ 
vú phát hiện được trong nhóm ABVS là 3,8 trên 
1000 bệnh nhân, trong nhóm siêu âm 2D là 2,7 
trên 1000 bệnh nhân.
Kích thước khối u ác tính lúc phát hiện đóng 
vai trò quan trọng trong giai đoạn cũng như điều 
trị về sau. Kích thước khối u ác tính trung bình 
trong nhóm siêu âm 2D là 15,9 ± 0,3 mm, tương 
tự trong nhóm 3D là 12,5 ± 0,2 mm. Với p < 0,05 
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, điều này 
cho thấy rằng trong nghiên cứu của chúng tôi siêu 
âm 3D có khả năng phát hiện kích thước khối u 
ác tính với kích thước nhỏ hơn so với 2D, mang lại 
nhiều lợi ích cho người bệnh. Nghiên cứu của Woo 
Jung Choi và cộng sự năm 2014 [15], trong các 
trường hợp ung thư xâm lấn, ABVS phát hiện khối 
u có kích thước trung bình là 12,4mm và tương tự 
trong nhóm 2D là 12,7mm. Có thể thấy kích thước 
trung bình của u ác tính trong siêu âm 2D giữa hai 
nghiên cứu có sự chênh lệch lớn trong khi đối với 
3D lại khá tương đồng. Điều này có thể giải thích 
do số mẫu nghiên cứu chênh lệch, tuy nhiên một 
thực tế ở đây là đa số người bệnh đi khám khi kích 
thước khối u đã lớn, người dân chưa có thói quen 
đi khám sức khỏe định kì. 
Về dấu hiệu co kéo trên mặt cắt coronal để 
phân biệt giữa khối u lành tính và ác tính, chúng 
tối nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kế với 
p < 0,05 khi có hình ảnh này. Tương tự với nghiên 
cứu của tác giả Lin Chen và cộng sự 2013 [5] thực 
hiện trên 219 khối u vú ở 175 bệnh nhân, kết quả 
là hình ảnh co kéo và viền tăng âm quanh khối u 
trên mặt cắt coronal có sự khác biệt ý nghĩa giữa 
u lành và u ác tính. Tuy nhiên nghiên cứu này lại 
không thấy sự khác biệt về độ nhạy cũng như độ 
đặc hiệu giữa 2 phương thức siêu âm này. Độ nhạy 
của ABVS và siêu âm 2D lần lượt là 92,5% và 88%. 
Độ đặc hiệu cũng lần lượt là 86,2% và 87,5%.
Trong nghiên cứu này chúng tôi không tính được 
độ nhạy và độ đặc hiệu của từng phương thức siêu 
âm nhưng chúng tôi khảo sát được mức độ phù hợp 
giữa kết quả hình ảnh trên siêu âm với kết quả giải 
phẫu bệnh giữa 2 nhóm. Ở nhóm siêu âm 2D mức 
độ phù hợp là chặt chẽ với Kappa = 0,763 (0,61- 
0,80). Đối với nhóm siêu âm 3D ABVS, với Kappa 
= 0,943( 0,81-1,00) mức độ phù hợp là hầu như 
hoàn toàn. Điều này cho thấy siêu âm 3D ABVS có 
độ chính xác cao hơn siêu âm 2D trong việc định 
hướng u lành hay ác tính.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu này, chúng tối nhận thấy hệ 
thống siêu âm quét khối vú 3D ABVS tỏ ra tương 
đối ưu thế hơn so với siêu âm vú 2D trong việc tầm 
soát phát hiện tổn thương tuyến vú đồng thời có 
giá trị cao trong việc xác định bản chất tổn thương 
lành tính hay ác tính.
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH, NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
114
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. Berg WA, Supplemental screening sonography in dense breasts, 
Radiologic Clinics of North America, 2004, 42(5), 845–851. 
2. Berg WA, Blume JD, Cormack JB, Mendelson EB, Lehrer D, Bohm-
Velez M, et al. (), Combined screening with ultrasound and mammography 
vs mammography alone in women at elevated risk of breast cancer, 
Journal of the American Medical Association, 2008 , 299, 2151-2163.
3. Boyd NF, Guo H, Martin LJ, Sun L, Stone J, Fishell E, et al. , 
Mammographic density and the risk and detection of breast cancer, The 
New England Journal of Medicine, 2007, 356, 227-236.
4. Chang JM, Moon WK, Cho N, Park JS, Kim SJ, Radiologists’ 
performance in the detection of benign and malignant masses with 3 D 
automated breast ultrasound (ABUS), European Journal Radiolology, 
2011, 78, 99–103.
5. Chen L, Chen Y, Diao XN et al, Comparative study of automated 
breast 3-D ultrasound and handheld B-mode ultrasound for differentiation 
of benign and malignant breast masses, Ultrasound in Medicine and 
Biology, 2013, 139(10), 1735–1742.
6. Danny R. Youlden, Susanna M. Cramb, Cheng Har Yip, Peter D. 
Baade, Incidence and mortality of female breast cancer in the AsiaPacific 
region, Cancer Biology Medicine, 2014, 11:101-115.
7. Eun Y. Ko, Laura A. Tuttle, Doreen Steed, Comparison of the Visibility 
of Suspicious Lesions with Automated Breast Volumetric Scanning Versus 
Hand-Held Breast Ultrasound, Academic Radiology, 2015, Vol 22( 7),pp. 
870-879.
8. Lin X, Wang J, Han F et al, Analysis of eighty- one cases with breast 
lesions using automated breast volume scanner and comparison with 
handheld ultrasound, European Journal of Radiology, 2012, 13(5), 
873–878.
9. McCormack VA, dos Santos Silva I, Breast density and parenchymal 
patterns as markers of breast cancer risk: a meta-analysis, Cancer 
epidemiology, biomarkers & prevention, 2006, 15, 1159–1169.
10. Schmidt MM, Powers KJ, Breast imaging: Screening and evaluation, 
Clinical Obstetric Gynecology, 2011, 54, 103–109.
11. The Global Cancer Observatory, March 2019.
12. Xu C, Wei S, Xie Y, Combined use of the automated breast volume 
scanner and the US elastography for the differentiation of benign from 
malignant lesions of the breast, BMC Cancer, 2014, 14:798.
13. Zhang Q, Hu B, Hu B et al, Detection of breast lesions using an 
automated breast volume scanner system, Journal of International 
Medical Research, 2012, 40(1), 300–306.
14. Wang HY, Jiang YX, Zhu QL, Differentiation of benign and malignant 
breast lesions: a comparison between automatically generated breast 
volume scans and handheld ultrasound examinations, European Journal 
of Radiology, 2012, 81(11), 3190–3200.
15. Woo Jung Choi, Joo Hee Cha, Cha*, Hak Hee Kim,Comparison of 
Automated Breast Volume Scanning and HandHeld Ultrasound in the 
Detection of Breast Cancer: an Analysis of 5,566 Patient Evaluations,Asian 
Pacific Journal of Cancer Prevention, 2014, Vol 15 (21), pp. 9101-9105.
16. Wojcinski S, Farrokh A, Hille U, Wiskirchen J, Gyapong S, Soliman AA 
et al, The automated breast volume scanner (ABVS): Initial experiences 
in lesion detection compared with conventional handheld B-mode 
ultrasound: A pilot study of 50 cases, International Journal of Women's 
Health, 2011, 3, 337–346.

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_cua_sieu_am_nhu_3d_tu_dong_abvs_so_voi_sieu_am_nhu_2.pdf