Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn thai nhi và test không kích thích trong tiên lượng thai ở bệnh nhân tiền sản giật

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 229 bệnh nhân tiền sản

giật tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian

từ 04/2014 đến 07/2015.

Mục tiêu: nghiên cứu giá trị của hình thái phổ Doppler động mạch tử

cung, chỉ số trở kháng động mạch não / động mạch rốn (CSNR), test

không kích thích và kết hợp 3 thăm dò này trong tiên lượng thai suy ở

bệnh nhân tiền sản giật.

Kết quả: giá trị tiên lượng thai suy của CSNR tại điểm cắt 1,1 có độ

nhậy (ĐN) 75% và độ đặc hiệu (ĐĐH) 74% . Khi Doppler động mạch tử

cung có vết khuyết tiền tâm trương giá trị chẩn đoán thai suy với ĐN và

ĐĐH 76% và 77%. Test không kích thích dương tính giá trị tiên lượng

thai suy với ĐN và ĐĐH 70% và 90%. Khi kết hợp cả 3 thăm dò trên giá

trị chẩn đoán thai suy với ĐN và ĐĐH tăng cao 87% và 93%.

Kết luận: hình thái phổ Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn và

test không kích thích rất có giá trị tiên lượng thai suy ở bệnh nhân tiền

sản giật, đặc biệt là khi kết hợp 3 thăm dò này với nhau.

pdf 6 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn thai nhi và test không kích thích trong tiên lượng thai ở bệnh nhân tiền sản giật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn thai nhi và test không kích thích trong tiên lượng thai ở bệnh nhân tiền sản giật

Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn thai nhi và test không kích thích trong tiên lượng thai ở bệnh nhân tiền sản giật
PHẠM THỊ MAI ANH, TRẦN DANH CƯỜNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
50
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phạm Thị Mai Anh(1), Trần Danh Cường(2), Phan Trường Duyệt(2), Trần Thị Tú Anh(3)
(1) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, (2) Trường Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ sản Trung ương
GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH
TỬ CUNG, CHỈ SỐ NÃO RỐN THAI NHI VÀ TEST
KHÔNG KÍCH THÍCH TRONG TIÊN LƯỢNG THAI
Ở BỆNH NHÂN TIỀN SẢN GIẬT
Tóm tắt
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 229 bệnh nhân tiền sản 
giật tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian 
từ 04/2014 đến 07/2015. 
Mục tiêu: nghiên cứu giá trị của hình thái phổ Doppler động mạch tử 
cung, chỉ số trở kháng động mạch não / động mạch rốn (CSNR), test 
không kích thích và kết hợp 3 thăm dò này trong tiên lượng thai suy ở 
bệnh nhân tiền sản giật.
 Kết quả: giá trị tiên lượng thai suy của CSNR tại điểm cắt 1,1 có độ 
nhậy (ĐN) 75% và độ đặc hiệu (ĐĐH) 74% . Khi Doppler động mạch tử 
cung có vết khuyết tiền tâm trương giá trị chẩn đoán thai suy với ĐN và 
ĐĐH 76% và 77%. Test không kích thích dương tính giá trị tiên lượng 
thai suy với ĐN và ĐĐH 70% và 90%. Khi kết hợp cả 3 thăm dò trên giá 
trị chẩn đoán thai suy với ĐN và ĐĐH tăng cao 87% và 93%. 
Kết luận: hình thái phổ Doppler động mạch tử cung, chỉ số não rốn và 
test không kích thích rất có giá trị tiên lượng thai suy ở bệnh nhân tiền 
sản giật, đặc biệt là khi kết hợp 3 thăm dò này với nhau.
Từ khóa: tiền sản giật, Doppler động mạch tử cung, chỉ số trở kháng động 
mạch não giữa, chỉ số trở kháng động mạch rốn, test không kích thích.
Abstract 
THE VALUE OF UTERIN ARTERY, CEREBRAL 
- UMBILICAL RATIO DOPPLER ULTRASOUND 
AND NON STRESS TEST IN PREDITION OF FETAL 
DISTRESS IN PATIENTS WITH PREECLAMPSIA
The cross-sectional descriptive study of 229 patients with preeclampsia 
in pathological obstetrics and gynocology from 04/2014 to 07/2015. 
Objective: the study value of spectrum image uterine artery Doppler, 
the middle cerebral artery to umbilical artery resistance index (C/U 
RI) ratio, non stress test and combination of these three indicators in 
prediction of fetal distress in patients with preeclampsia. 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Thị Mai Anh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: tiền sản giật, Doppler 
động mạch tử cung, chỉ số trở 
kháng động mạch não giữa, chỉ 
số trở kháng động mạch rốn, 
test không kích thích. 
Keywords: Preeclampsie, 
Doppler, Resistance index, 
Middle celebral artery 
resistance index, Umbilical 
artery resistance index, non 
trest test.
vào y học từ những năm 1970. Sau đó người ta 
ứng dụng phương pháp này đẻ thăm dò tuần hoàn 
tử cung – rau – thai [5]. Nhiều công trình nghiên 
cứu trên thế giới và trong nước khẳng định rằng 
siêu âm Doppler có vai trò quan trọng trong tiên 
lượng thai nhi, đặc biệt ở thai nghén nguy cơ cao 
như mẹ bị TSG, đái tháo đường... Tuy nhiên các 
nghiên cứu trong nước chỉ dừng lại ở những nghiên 
cứu đơn lẻ từng mạch máu như động mạch tử cung 
(ĐMTC) của mẹ, động mạch rốn, động mạch não 
thai nhi hoặc chỉ số não rốn (CSNR) [4-7]. Trong 
nghiên cứu này chúng tôi nghiên cứu giá trị kết 
hợp của Doppler ĐMTC của mẹ, chỉ số não rốn 
thai nhi thai nhi và biểu đồ theo dõi liên tục nhịp 
tim thai bằng test không kích thích trong tiên lượng 
tình trạng thai suy ở thai phụ TSG nhằm mục tiêu: 
nghiên cứu giá trị của hình thái phổ Doppler động 
mạch tử cung, chỉ số trở kháng động mạch não / 
động mạch rốn (CSNR), test không kích thích và kết 
hợp 3 thăm dò này trong tiên lượng thai suy ở bệnh 
nhân tiền sản giật.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Thai phụ được chẩn đoán và điều trị tiền sản 
giật tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương từ 04/2014 đến 07/2015.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Tuổi thai từ 28 tuần trở lên, một thai, thai sống.
Thai phụ có các triệu chứng: phù, huyết áp 
tâm thu ≥ 140 mmHg, huyết áp tâm trương ≥ 90 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 50 - 55, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Tiền sản giật là một hội chứng bệnh lý phức tạp 
do thai gây ra, thường xảy ra trong nửa sau thai kì 
với các triệu chứng chính là: phù, tăng huyết áp và 
protein niệu. Tiền sản giật (TSG) có thể gây những 
biến chứng nặng cho mẹ như: Sản giật, rau bong 
non, rối loạn đông máu, suy gan, suy thận, chảy 
máu, phù phổi cấp. Với thai nhi TSG gây ra những 
hậu quả như: thai chậm phát triển, suy thai thậm 
chí có thể gây chết thai, nếu không được xử trí kịp 
thời. Ngoài ra TSG cũng góp phần làm tăng tỉ lệ 
bệnh và di chứng về thần kinh, vận động và trí tuệ 
cho trẻ sau này [1]. 
Để hạn chế được những biến chứng do TSG gây 
ra với thai nhi, có nhiều phương pháp thăm dò để 
đánh giá sự phát triển và tình trạng của thai nhi 
trong tử cung nhằm phát hiện sớm biến chứng và 
xử trí kịp thời như: Siêu âm thai, phương pháp ghi 
biểu đồ nhịp tim thai - cơn co tử cung, phương 
pháp định lượng các chất nội tiết và chuyển hóa 
của thai, đo PH máu động mạch rốn... Trong số đó 
siêu âm Doppler thăm dò tuần hoàn mẹ con và ghi 
biểu đồ nhịp tim thai được coi là hai phương pháp 
thăm dò không can thiệp có giá trị nhất hiện nay 
ở nước ta [1-3].
Trên thế giới monitoring sản khoa được ứng 
dụng vào y học từ năm 1950 để theo dõi sự thay 
đổi của nhịp tim thai trong thời kỳ thai nghén và 
trong chuyển dạ để phát hiện những trường hợp 
suy thai. Sự ra đời của monitoring sản khoa là bước 
ngoặt trong chẩn đoán và can thiệp các trường hợp 
suy thai [3],[4]. Siêu âm Doppler được ứng dụng 
Results: the C/U RI ratio with “ cut off ” value for predictive fetal distress is 1,1 with sensitivity, 
specsificity are 75% , 74% . When the uterine artery Doppler have notch, the diagnostic value on 
fetal distress with sensitivity, specsificity are 76% and 77%. Non tress test value for predictive fetal 
distress with sensitivity is 70% and specsificity is 90% . The diagonotic value when combination 
of C/U RI ratio, spectrum image uterine artery Doppler and non tress test for fetal distress with 
sensitivity, specsificity are increased 87% và 93% . 
Conclusion: The spectrum image uterine artery Doppler, the middle cerebral artery to umbilical 
artery resistance index ratio, non stress test are good predictor of fetal distress in patients with 
preeclampsia, espcecially when combine these three indicators.
Key words: Preeclampsie, Doppler, Resistance index, Middle celebral artery resistance index, 
Umbilical artery resistance index, non trest test.
PHẠM THỊ MAI ANH, TRẦN DANH CƯỜNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
52
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
mmHg, protein niệu ≥ 0,3 g/l ở mẫu nước tiểu 24 
giờ hoặc ≥ 0,5g/l ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Đa thai, thai dị dạng, mẹ có tiền sử mắc các 
bệnh kèm theo: suy tim, suy thận, đái tháo đường
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
229 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị tiền 
sản giật tại khoa sản bệnh Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương từ 04/2014 đến 07/2015.
2.2.3. Các biến số nghiên cứu
Trước đẻ các thông tin cần thu thập: tên, tuổi, 
nghề nghiệp, số lần mang thai, đo huyết áp, khám 
mức độ phù.
Xét nghiệm sinh hóa máu để đánh giá chức 
năng gan, thận. Công thức máu để đánh giá số 
lượng hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu, các yếu tố 
đông máu.
Xét nghiệm nước tiểu định lượng protein niệu.
Siêu âm Doppler để xác định hình thái phổ 
động mạch tử cung, đo chỉ số trở kháng động 
mạch não, động mạch rốn trong vòng 24 giờ trước 
khi ngừng thai nghén.
Test không kích thích là mắc máy monitoring 
sản khoa theo dõi liên tục nhịp tim thai ít nhất 
30 phút trong 24 giờ trước khi ngừng thai nghén 
không có bất cứ một kích thích nào vào mẹ cũng 
như thai nhi.
Sau đẻ các biến số nghiên cứu là: tuổi thai, cân 
nặng sơ sinh, chỉ số apgar trẻ sơ sinh, màu sắc 
nước ối.
2.2.4. Các tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên 
cứu này
- Chẩn đoán và phân loại tiền sản giật nặng và 
tiền sản nhẹ (theo hướng dẫn chuẩn quốc gia năm 
2011) [1].
- Đánh giá tình trạng thai suy: Trong nghiên 
cứu này tôi đánh giá có dấu hiệu suy thai trong 
tử cung bằng kiểm chứng sau đẻ có 1 trong 2 dấu 
hiệu sau [6]
+ Trẻ sơ sinh có chỉ số apgar ở phút thứ nhất 
< 7 điểm
+ Nước ối lẫn phân xu.
- Đánh giá Doppler ĐMTC: trong nghiên cứu này 
chỉ nghiên cứu hình thái phổ Doppler ĐMTC:[5][7].
+ Doppler ĐMTC được coi là bình thường khi có 
cả 3 dấu hiệu : phổ có hình ảnh giả bình nguyên, 
phức hợp tâm trương lớn chiếm ¾ đỉnh tâm thu, 
không có vết khuyết tiền tâm trương (notch).
+ Doppler ĐMTC được coi là bệnh lý khi có 1 
trong 2 dấu hiệu : phức hợp tâm trương xuống dưới 
35% đỉnh tâm thu, xuất hiện vết khuyết tiền tâm 
trương (notch). 
- Đánh giá CSNR: là thương số của chỉ số trở 
kháng động mạch não / chỉ số trở kháng động mạch 
rốn [6],[8]. Kết hợp với kiểm chứng lại trẻ sơ sinh sau 
đẻ qua chỉ số Apgar và màu sắc nước ối, từ đó tính ra 
điểm cắt của CSNR trong tiên lượng thai suy.
- Đánh giá test không kích thích [3],[5]: 
+ Test (+): là test không đáp ứng tức là độ dao 
động nhịp tim thai ≤ 5 nhịp / phút hoặc xuất hiện 
nhịp chậm và không xuất hiện tăng nhịp tim thai 
nhất thời khi có cử động thai.
+ Test (-): là test có đáp ứng tức là độ dao động 
nhịp tim thai > 5 nhịp /phút, xuất hiện tăng nhịp 
tim thai nhất thời khi có cử động thai.
2.2.5. Xử lý số liệu 
Bằng phần mềm SPSS 16.0, đánh giá giá trị 
của phương pháp chẩn đoán thông qua độ nhậy, 
độ đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị 
chẩn đoán âm tính.
2.3. Đạo đức nghiên cứu
Cho đến nay các nghiên cứu đều thừa nhận 
rằng siêu âm Doppler và test không kích thích 
không có hại cho sức khỏe của mẹ cũng như thai 
nhi. Trong quá trình thu thập số liệu không làm mất 
thời gian cũng như chi phí của thai phụ.
3. Kết quả nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 229 bệnh nhân 
TSG, trong đó TSG nặng chiếm 61%.
CSNR
Thai suy
ĐN ĐĐH
Có Không
0,90 53 3 40 97
0,95 60 6 47 94
1 75 9 58 91
1,05 82 18 64 82
1,1 96 26 75 74
1,15 105 31 81 69
1,2 115 37 89 63
1,25 118 48 91 52
1,3 122 64 95 36
Bảng 1. Giá trị chẩn đoán thai suy tại các điểm cắt của CSNR
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 50 - 55, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nhận xét: tại điểm cắt 1,1 của CSNR giá trị 
chẩn đoán suy thai với cả ĐN và ĐĐH cao lần lượt 
là 75% và 74%.
ĐN= 96/129= 0,75. ĐĐH= 74/100= 0,74
GT( +)= 96/122=0,79 GT(-)= 74/107= 0,69.
Nhận xét: Doppler ĐMTC có giá trị chẩn đoán 
thai suy với độ nhậy là 76% và độ đặc hiệu là 0,77.
Nhận xét : giá trị chẩn đoán thai suy của test 
không kích thích với ĐN là 0,7 và ĐĐH là 0,9.
Nhận xét bảng 5: khi kết hợp 2 trong 3 thăm 
dò giá trị chẩn đoán suy với ĐN từ 81% đến 83% 
và ĐĐH từ 86 đến 95%.
Nhận xét bảng 6: khi kết hợp cả 3 thăm dò 
giá trị chẩn đoán thai suy với ĐN 87% và ĐĐH 
là 93%.
Nhận xét bảng 7: Khi kết hợp 3 phương pháp 
thăm dò giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH 
CSNR
Thai suy
Tổng
Có Không
≤ 1,1 96 26 122
> 1,1 33 74 107
Tổng 129 100 229
Bảng 2. Giá trị chẩn đoán thai suy tại điểm cắt 1,1 của CSNR
Doppler ĐMTC
Suy thai
Tổng ĐN ĐĐH
Có Không
Bệnh lý 98 23 121
0.76 0.77Bình thường 31 77 108
Tổng 129 100 229
Bảng 3. Giá trị chẩn đoán thai suy của hình thái phổ Doppler ĐMTC
Test không kích thích
Suy thai
Tổng ĐN ĐĐH
Có Không
Test(+) 90 10 100
0,7 0,9Test(-) 39 90 129
Tổng 129 100 229
Bảng 4. Giá trị chẩn đoán thai suy của test không kích thích
Doppler ĐMTC CSNR
Test không kích thích
Thai suy
Tổng ĐN ĐĐH
Có Không
Doppler ĐMTC bệnh lý
CSNR ≤ 1,1
Test không kích thích (+)
68 4 72
0,87 0,93Doppler ĐMTC bình thường
CSNR > 1,1
Test không kích thích (-)
10 56 66
Tổng 78 60 138
Bảng 6. Giá trị chẩn đoán thai suy khi kết hợp cả 3 thăm dò: hình thái Doppler ĐMTC, 
CSNR, test không kích thích.
Thăm dò
ĐN, ĐĐH
Một phương pháp thăm dò Kết hợp 2 phương pháp thăm dò Kết hợp 3 
phương 
pháp 
thăm dò
CSNR Doppler ĐMTC
Test không 
kích thích
CSNR+ 
Doppler 
ĐMTC
CSNR+ Test 
không kích 
thích
Doppler ĐMTC+ 
Test không kích 
thích
Độ nhậy (%) 75 76 70 81 81 83 87
Độ đặc hiệu(%) 74 77 90 86 93 95 93
Bảng 7. So sánh giá trị chẩn đoán suy thai của 1 phương pháp thăm dò, kết hợp 2 phương 
pháp thăm dò và kết hợp cả 3 phương pháp thăm dò.
Kết hợp 2 trong 3 thăm dò
Thai suy
ĐN ĐĐH
Có Không
CSNR và test 
không kích 
thích
CSNR ≤ 1,1 và test (+) 74 5
0,81 0,93CSNR > 1,1 và test (-) 17 69
Tổng 91 74
CSNR và 
Doppler 
ĐMTC
CSNR ≤ 1,1 và Doppler ĐMTC bệnh lý 85 10
0,81 0,86CSNR > 1,1 và Doppler ĐMTC bình thường 20 61
Tổng 105 71
Doppler ĐMTC 
và test không 
kích thích
Doppler ĐMTC bệnh lý và test (+) 74 4
0,83 0,95Doppler ĐMTC bình thường và test (-) 15 71
Tổng 89 75
Bảng 5. Giá trị chẩn đoán thai suy khi kết hợp 2 trong 3 thăm dò: hình thái Doppler ĐMTC, 
CSNR, test không kích thích
là cao nhất là 87% và 93% , thấp nhất là dựa vào 
1 phương pháp thăm dò.
4. Bàn luận
 Giá trị chẩn đoán suy thai của CSNR : theo kết 
quả nghiên cứu của bảng 1 chúng tôi chọn điểm 
cắt của CSNR là 1,1 vì tại điểm cắt này giá trị 
tiên lượng thai suy với ĐN và ĐĐH đều cao lần 
lượt là 75% và 74%. Kết quả nghiên cứu này cũng 
trùng với hầu hết các nghiên cứu trong nước cũng 
như trên thế giới các nghiên cứu đều kết luận rằng 
CSNR ở thai nghén bình thường luôn lớn hơn 1. Tuy 
nhiên ngưỡng cụ thể của CSNR trong tiên lượng 
tình trạng thai có khác nhau giữa các nghiên cứu. 
Theo nghiên cứu của Arbeille (1994),Tranquar, 
Collet M (1991), ngưỡng CSNR bất thường là 1,1 
và tại giá trị này của CSNR có giá trị tiên đoán các 
rối loạn tuần hoàn của thai ở giai đoạn đầu và 
phát hiện sớm thiếu oxy thai [9].Theo nghiên cứu 
của của Dandolo (1992), tác giả tìm ra ngưỡng 
CSNR là 1,08 có giá trị tiên lượng thai suy. Khi 
CSNR ≤ 1,08 tỉ lệ trẻ sơ sinh đẻ ra có chỉ số Apgar 
1,08 [10]. Nhiều 
các tác giả đưa ra ngưỡng bệnh lý của CSNR là 
1. Theo nghiên cứu của Rudigoz R.C, Thome Saint 
Paul M.(1991) trong cao huyết áp và thai nghén 
khi CSNR < 1 giá trị tiên đoán suy thai với ĐN và 
ĐĐH là 91,6% và 87,5% [8]. Theo nghiên cứu của 
Alaa Ebrashy và cs (2005), trong TSG khi CSNR 
< 1 tỉ lệ trẻ sơ sinh đẻ ra có Apgar phút thứ 5 < 6 
PHẠM THỊ MAI ANH, TRẦN DANH CƯỜNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
54
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
điểm với ĐN và ĐĐH là 64,1% và 72,7% [11]. Ở 
Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Thiết 
(2011), nghiên cứu 175 bệnh nhân TSG tìm ra 
ngưỡng của CSNR trong tiên lượng thai suy là 1,00 
và khi CSNR ≤ 1,00 giá trị chẩn đoán thai suy với 
ĐN là 86% và ĐĐH là 82% [4].
Giá trị chẩn đoán thai suy của hình thái Doppler 
ĐMTC : từ kết quả nghiên cứu của bảng 3 cho thấy 
tỉ lệ Doppler ĐMTC xuất hiện vết khuyết tiền tâm 
trương (Notch) chiếm 53%. Khi Doppler ĐMTC có 
Notch giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN là 76% và 
ĐĐH là 77%. Vì đối tượng của nghiên cứu này là 
bệnh nhân TSG nên Doppler ĐMTC có dấu hiệu 
Notch cao chiếm 53%, hầu hết các nghiên cứu đều 
kết luận Doppler ĐMTC ở thai nghén bình thường 
sau 28 tuần không có dấu hiệu này. Theo nghiên 
cứu của Trần Danh Cường (2007), nghiên cứu 
Doppler ĐMTC của 100 thai phụ tuổi thai từ 28 
tuần có thai nghén bình thường không có trường 
hợp nào Doppler ĐMTC có Notch và theo dõi đến 
khi đẻ không có trường hợp nào có dấu hiệu suy thai 
[6]. Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự của Trần 
Danh Cường (2010), nghiên cứu Doppler ĐMTC ở 
200 bệnh nhân TSG tỉ lệ Doppler ĐMTC có Notch 
là 60,5%. Giá trị chẩn đoán suy thai của Dopler 
ĐMTC bệnh lý với ĐN là 80% và ĐĐH là 54% [7]. 
Theo nghiên cứu của Rudigoz R.C, Thome Saint 
Paul M.(1991) tiến hành siêu âm Doppler ĐMTC 
cho 130 thai nghén bình thường và cao huyết áp 
kết quả cho thấy khi Doppler ĐMTC bình thường 
không có thai chậm phát triển trong tử cung, có 6 
trường hợp suy thai cấp trong đó có 5 trường hợp 
có doppler ĐMTC bệnh lý, có 2 trường hợp thai 
chết lưu đều có Doppler ĐMTC bệnh lý [8].
Từ kết quả nghiên cứu trên chúng tôi thấy rằng 
Doppler ĐMTC rất có giá trị trong tiên lượng tình 
trạng thai. Trên thực tế chúng ta thấy rằng ĐMTC 
là phần tuần hoàn về phía người mẹ nhưng lại là 
nguồn cung cấp máu cho toàn bộ hệ thống tuần 
hoàn rau thai vì vậy khi Doppler ĐMTC bệnh lý tức 
là nguồn cung cấp máu cho hệ thống tuần hoàn 
rau thai kém đi vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe 
và sự phát triển của thai.
Giá trị chẩn đoán thai suy của test không kích 
thích : từ quả nghiên cứu của bảng 4 cho thấy giá 
trị chẩn đoán suy thai của test này có ĐN và ĐĐH 
là 70% và 90% . Kết quả này cũng tương tự như 
nghiên cứu Nguyễn Bá Thiết (2011) giá trị chẩn 
đoán suy thai của biểu đồ nhịp tim thai có độ dao 
động loại 0 với ĐN và ĐĐH là 68% và 80% [4]. 
Theo nghiên cứu của Đào Thị Hoa (2001), giá trị 
tiên lượng thai suy khi nhịp tim thai có dao động 
loại 0 với ĐN và ĐĐH là 75% và 69%. Theo nghiên 
cứu của Trần Danh Cường (1998), giá trị tiên đoán 
suy thai của nhịp tim thai dao động loại 0 với ĐN 
và ĐĐH là 63% và 92% . Tất cả các nghiên cứu trên 
đều nghiên cứu trên bệnh nhân TSG và tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương . Theo nghiên cứu của 
Freeman (2003), biểu đồ nhịp tim thai dao động 
loại 0 có giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH 
là 68% và 80%.
Giá trị chẩn đoán suy thai khi kết hợp 2 trong 
3 thăm dò : hình thái Doppler ĐMTC, CSNR và test 
không kích thích. Theo kết quả nghiên cứu bảng 
5, khi kết hợp CSNR và test không kích thích giá 
trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH là 81% và 
93%, khi kết hợp CSNR và Doppler ĐMTC cho kết 
quả ĐN, ĐĐH là 81% và 86%, khi kết hợp Doppler 
ĐMTC và test không kích thích ĐN và ĐĐH trong 
chẩn đoán suy thai là 83% và 95%. Từ kết quả trên 
chúng tôi thấy rằng khi kết hợp 2 trong 3 thăm 
dò giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH cao 
hơn hẳn so với chỉ dựa vào 1 phương pháp thăm 
dò. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của 
Nguyễn Bá Thiết (2011) khi kết hợp CSNR và biểu 
đồ nhịp tim thai giá trị tiên lượng thai suy với ĐN và 
ĐĐH là 96% và 83% và cũng cao hơn hẳn khi chỉ 
dựa vào 1 trong 2 thăm dò trên [4]. Theo nghiên 
cứu của Anceschi và Ruozi Berreta khi nghiên cứu 
54 thai phụ có chẩn đoán là thai chậm phát triển 
trong tử cung đã có biến đổi bệnh lý trên siêu âm 
Doppler động mạch não và động mạch rốn thì giá 
trị chẩn đoán suy thai của biểu đồ nhịp thai với 
ĐN và ĐĐH là 100% và 77,8% [12].
Giá trị chẩn đoán suy thai khi kết hợp 3 thăm 
dò: hình thái Doppler ĐMTC, CSNR và test không 
kích thích: Theo kết quả nghiên cứu bảng 6 và 
bảng 7 khi kết hợp cả 3 phương pháp thăm dò giá 
trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH là 87% và 
93% , trong khi đó nếu chỉ dựa vào 1 phương pháp 
thăm dò ĐN trong chẩn đoán suy thai lần lượt của 
CSNR, hình thái Doppler ĐMTC, test không kích 
thích là 75%, 76%, 70% và ĐĐH lần lượt là 74%, 
77% và 90%. Nếu kết hợp 2 phương pháp thăm 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 50 - 55, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
dò: CSNR và Doppler ĐMTC giá trị chẩn đoán suy 
thai với ĐN và ĐĐH là 81% và 86%, CSNR và test 
không kích thích giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN 
và ĐĐH là 81% và 93%, khi kết hợp Doppler ĐMTC 
và test không kích thích ĐN và ĐĐH lần lượt là 83% 
và 95%.
Như vậy tính trung bình của ĐN và ĐĐH khi kết 
hợp 3 phương pháp thăm dò cao hơn hẳn so với 
trung bình ĐN và ĐĐH khi chỉ dựa vào 1 phương 
pháp và 2 phương pháp thăm dò và sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê. Điều này có ý nghĩa lớn 
trong lâm sàng vì khi kết hợp cả 3 phương pháp 
trong chẩn đoán sẽ khắc phục được nhược điểm 
của từng phương pháp riêng lẻ từ đó giảm được tỉ 
lệ dương tính giả và âm tính giả cho kết quả chẩn 
đoán chính xác với ĐN và ĐĐH cao nhất.
5. Kết luận
Doppler ĐMTC, CSNR và test không kích thích 
là các phương pháp thăm dò có giá trị lớn trong 
tiên lượng thai suy. Mỗi phương pháp có ưu và 
nhược điểm riêng khi kết hợp cả 3 phương thăm dò 
cho giá trị chẩn đoán suy thai với ĐN và ĐĐH cao 
nhất lần lượt là 87% và 93%. 
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế. Tăng huyết áp trong thai nghén. Hướng dẫn chuẩn quốc gia 
về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.2007; tr. 259 -267.
2. Trần Danh Cường. Thực hành sử dụng monitoring trong sản khoa. 
Nhà xuất bản y học. 2005
3. Ngô Văn Tài. Tiền sản giật và sản giật, Nhà xuất bản y học.2006; tr. 7-51
4. Nguyễn Bá Thiết, Trần Danh Cường. Nghiên cứu giá trị tiên lượng 
tình trạng thai của một số thăm dò trên bệnh nhân tiền sản giật tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Phụ Sản.2012; số 2.tập 10; tr 60- 64.
5. Trần Danh cường. Xác định một số thông số Doppler động mạch tử 
cung người mẹ, động mạch rốn, động mạch não thai nhi bình thường 
(28-40 tuần), Luận án tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.2007.
6. Phan Trường Duyệt, Đinh Thế Mỹ. Lâm sàng sản phụ khoa. Nhà 
xuất bản Y học. 2007;tr. 10-30, 296-306.
7. Trần Danh Cường. Nghiên cứu vai trò của phân tích hình thái phổ 
Doppler trong đánh giá tình trạng thai ở thai phụ tiền sản giật. Tạp chí 
Y Học Thực Hành.2010; số 6. tr 133 – 137.
8. Rudigoz R.C, Thome Saint Paul M. Vélocimétrie Doppler ombilicale et 
cérébrale. J. Gynécol. Obstét. Biol. Reprod. 1991; 434-442. 
9. Tranquart F, Collet M, Arbeile Ph. Hesmodynamique aotique, cérébral 
et resnale foetale. Dynamique cardio vasculaire foetale et nesonatale 
Echographie Doppler.1991; Masson: 27-66.
10. Dandolo G et al. Cerebral – umbilical Doppler ratio as a predictor 
of adverse perinatal outcome. Obsetric and Gynecol.1992; Vol 79, No 
3, pp 416 – 420.
11. A. Ebrashy O, Azmy M, Ibrahim et al. Middle cerebral/umbilical 
artery resistance index ratio as sensitive parameter for fetal well-being 
and neonatal outcome in patients with preeclampsia. Case-control study. 
Croat Med J.2005;, 46 (5), 821-825.
12. Anceschi M, Ruozi-berrtta A. Computer cardiotocography of 
intrauterine growth restriction associated with velocimetry alterations. 
Internationnal journal of Gynecology and Obstetrics.2004;Vol.86,pp. 
365-370.

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_cua_sieu_am_doppler_dong_mach_tu_cung_chi_so_nao_ron.pdf