Giá trị của đường mở ngực tối thiểu trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị

ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng đường mở

ngực tối thiểu tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức.

Nghiên cứu mô tả hồi cứu trong thời gian 02 năm

(từ 1/2015 đến 12/2016). 93 bệnh nhân được

chọn vào mẫu nghiên cứu với tỉ lệ nam/nữ = 1,7

và tuổi trung bình là 56,87±10,9 (từ 15 đến 76

tuổi). Thời gian phẫu thuật trungbình 155,10 ±

38,5 phút, có 3 BN phải truyền máu trong mổ

(3,23%), thời gian dẫn lưu màng phổi 4,94± 2,09

ngày, thời gian nằm viện 9,91± 3,03 ngày, biến

chứng sau phẫu thuật chiếm 10,8%. Chức năng

khớp vai bình thường và gần như bình thường lần

lượt là 39,1% và 52,4%, 100% BN hài lòng và rất

hài lòng về thẩm mỹ của vết mổ sau phẫu thuật.

Đường mổ ngực tối thiểu là đường mổ khả thi,

hiệu quả, an toàn trong phẫu thuật điều trị ung thư

phổi không tế bào nhỏ, khắc phục một số hạn chế

của đường mổ ngực sau - bên kinh điển

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị của đường mở ngực tối thiểu trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị của đường mở ngực tối thiểu trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Giá trị của đường mở ngực tối thiểu trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
GIÁ TRỊ CỦA ĐƯỜNG MỞ NGỰC TỐI THIỂU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 45 
GIÁ TRỊ CỦA ĐƯỜNG MỞ NGỰC TỐI THIỂU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ 
UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Bùi Văn Bình*, Phạm Hữu Lư** 
TÓM TẮT 
Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị 
ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng đường mở 
ngực tối thiểu tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức. 
Nghiên cứu mô tả hồi cứu trong thời gian 02 năm 
(từ 1/2015 đến 12/2016). 93 bệnh nhân được 
chọn vào mẫu nghiên cứu với tỉ lệ nam/nữ = 1,7 
và tuổi trung bình là 56,87±10,9 (từ 15 đến 76 
tuổi). Thời gian phẫu thuật trungbình 155,10 ± 
38,5 phút, có 3 BN phải truyền máu trong mổ 
(3,23%), thời gian dẫn lưu màng phổi 4,94± 2,09 
ngày, thời gian nằm viện 9,91± 3,03 ngày, biến 
chứng sau phẫu thuật chiếm 10,8%. Chức năng 
khớp vai bình thường và gần như bình thường lần 
lượt là 39,1% và 52,4%, 100% BN hài lòng và rất 
hài lòng về thẩm mỹ của vết mổ sau phẫu thuật. 
Đường mổ ngực tối thiểu là đường mổ khả thi, 
hiệu quả, an toàn trong phẫu thuật điều trị ung thư 
phổi không tế bào nhỏ, khắc phục một số hạn chế 
của đường mổ ngực sau - bên kinh điển. 
Từ khóa: Ung thư biểu mô không tế bào 
nhỏ, đường mở ngực tối thiểu 
SUMMARY 
EVALUATION OF EARLY RESULTS OF 
SURGICAL TREATMENT NON-SMALL 
CELL LUNG CANCER BY MUSCLE-
SPARING MINITHORACOTOMY IN VIET 
DUC UNIVERSITY HOSPITAL 
To evaluate the early results of surgery for 
small non-small cell lung cancer using the open 
thoracic tract at the Vietduc University Hospital. 
A descriptive retrospective study for 2 years 
(1/2015 to 12/2016). 93 patients were selected 
with a male/female ratio of 1.7 and an average 
age of 56.87 ± 10.9 years (15 to 76 years). The 
average time of operation was 155.10 ± 38.5 
minutes, three patients had transfusions (3.23%), 
The drainage time was 4.94 ± 2.09 days, The 
hospitalization time was 9, 91 ± 3.03 days, 
postoperative complications accounted for 10.8%. 
Good and normal shoulder function were 39.1% 
and 52.4% respectively, 100% of patients were 
satisfied and very satisfied with the aesthetics of 
postoperative surgery. A muscle – sparing 
minithoracotomy is a viable, effective, safe 
procedure for the treatment of small non-small 
cell lung cancer, and to overcome some of the 
limitations of the posterior-lateral thoracotomy.* 
Keyword: NSLC, Muscle-sparing 
minithoracotomy 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư phổi không tế bào nhỏ 
(UTPKTBN) là loại ung thư biểu mô chiếm trên 
85% tổng số bệnh nhân mắc ung thư phổi và là 
một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng 
đầu tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Cho tới 
nay, phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị hiệu 
quả nhất đối với giai đoạn bệnh còn khu trú tại chỗ 
và xu hướng của các phương pháp phẫu thuật hiện 
nay là ngày càng ít xâm lấn. 
Phẫu thuật bằng đường mở ngực tối thiểu 
(ĐMNTT) là phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn 
có độ dài đường rạch da nhỏ (5-8 cm), hạn chế 
tối đa sự cắt cơ thành ngực (chỉ cắt cơ liên 
sườn), các xương sườn được banh rộng ra cho 
phép thực hiện hầu hết các kĩ thuật trong phẫu 
thuật lồng ngực. Phương pháp nàycó nhiều ưu 
điểm, hiệu quả cao và mang lại nhiều lợi ích cho 
bệnh nhânnhưng không phải là không có hạn 
* Bác sỹ nội trú Ngoại lồng ngực – Trường Đại học Y Hà Nội 
**Khoa phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực – Bệnh viện Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Phạm Hữu Lư 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 46 
chế. Bài báo này đánh giá kết quả sớm phẫu 
thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ 
bằng đường mở ngực tối thiểu tại Bệnh viện 
Hữu Nghị Việt Đức. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 93 bệnh 
nhân (BN) được phẫu thuật điều trị UTPKTBN 
bằng ĐMNTT tại khoa phẫu thuật tim mạch- lồng 
ngực Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức trong thời 
gian 24 tháng (từ 1/2015 đến 12/2016). 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên 
cứu mô tả hồi cứu. 
Các tham số - biến số nghiên cứu: Đặc 
điểm lâm sàng: tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng; 
Cận lâm sàng: vị trí, kích thước u, kết quả giải 
phẫu bệnh; Kết quả trong mổ: thời gian phẫu 
thuật, cách thức phẫu thuật, nạo vét hạch, lượng 
máu truyền; Kết quả sớm sau mổ: biến chứng 
sớm sau phẫu thuật, thời gian điều trị sau phẫu 
thuật, mức độ đau,chức năng vận động khớp vai 
và mức độ hài lòng về thẩm mỹ vết mổ. 
Quy trình phẫu thuật: 
 BN được gây mê NKQ thông khí chọn 
lọc một phổi, tư thế nằm nghiêng 90°, kê gối dưới 
lưng để mở rộng khoang liên sườn, treo tay, chân 
dưới gấp, chân trên thẳng và được cố định bằng 
dây đai với bàn mổ. 
 Phẫu thuật viên sử dụng đèn đầu đứng 
phía trước (phía bụng) bệnh nhân. Phụ phẫu thuật 
đứng phía sau (phía lưng) bệnh nhân. 
 Kỹ thuật: Rạch da 5-8cm đường ngực 
bên từ đường nách trước đến đường nách sau 
khoang liên sườn IV hoặc V. Phẫu tích bó cơ 
lưng rộng theo chiều dọc rồi kéo ra phía sau bộc 
lộ cơ răng trước, phẫu tích bó cuối cùng của cơ 
răng trước rồi kéo ra trước. Cắt qua cơ gian sườn 
để vào khoang màng phổi. Sử dụng một banh 
ngực nhỏ làm rộng khoang liên sườn, có thể 
dùng banh ngực nhỏ thứ hai đặt vuông góc với 
chiếc thứ nhất để mở rộng trường quan sát. Bộc 
lộ TM, ĐM, PQ rồi cắt như trong phẫu thuật 
kinh điển và nạo vét hạch. Đặt dẫn lưu, trả các 
cơ lưng rộng và cơ răng trước về vị trí cũ, khâu 
đóng vết mổ. 
 Sau mổ đánh giá về mức độ đau, các 
biến chứng, thời gian phục hồi và mức độ hài 
lòng của BN về vết mổ. 
Hình 1. Phẫu tích cơ lưng rộng; Hình 2. Mở rộng khoang liên sườn bằng 2 banh ngực nhỏ; 
Hình 3. Phẫu trường qua đường mở ngực tối thiểu; Hình 4. Đóng ngực trả lại vị trí các cơ thành 
ngực; Hình 5. Thùy phổi được cắt bỏ; Hình 6. Chiều dài sẹo mổ 
Xử lý số liệu: Thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 
GIÁ TRỊ CỦA ĐƯỜNG MỞ NGỰC TỐI THIỂU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 47 
III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1.Đặc điểm bệnh nhân: Tuổi trung bình: 
56,87±10,9, từ 15 đến 76 tuổi; Tỉ lệ nam/nữ là 
59/34= 1,7; Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào: 
51,3%; Triệu chứng lâm sàng thường gặp là đau, 
tức ngực và ho kéo dài chiếm 48,4% và 41,9%. 
3.2. Đặc điểm phẫu thuật: Thời gian phẫu 
thuật trung bình: 155,10 ± 38,5phút, ngắn nhất là 
85 phút và dài nhất là 310 phút. Có 3/93 BN 
(3,23%) phải truyền máu trong mổ với số lượng 
trung bình 833 ml. 
Cách thức phẫu thuật (n=93): 
Phẫu thuật n % 
Cắt 1 thùy phổi 75 80,6 
Cắt 2 thùy phổi 13 14,0 
Cắt 1 thùy phổi + 1 phần 
thùy phổi 
4 4,3 
Cắt 1 phổi 1 1,1
Tổng 93 100 
3.3. Kết quả sớm sau phẫu thuật: Thời 
gian dẫn lưu màng phổi trung bình 4,94± 2,09 
ngày; Thời gian nằm viện trung bình là 9,91± 3,03 
ngày. Có 51/93 (54,8%) BN sử dụng giảm đau 
ngoài màng cứng, tất cả các BN này chỉ phải dùng 
1 loại thuốc giảm đau Paracetamol sau phẫu thuật. 
Chỉ 33% BN phải dùng 2 loại là Paracetamol và 
Morphin. Biến chứng sau phẫu thuật chiếm 10,8%, 
rò khí kéo dài có 7BN, 1 trường hợp chảy máu sau 
mổ phải mổ lại và 2 trường hợp nhiễm trùng vết 
mổ. Chức năng khớp vai: Mức độ vận động khớp 
vai sau phẫu thuật bình thường và gần như bình 
thường là rất cao lần lượt là 39,1% và 52,4%. Chỉ 
có 7 trường hợp vận động kém chiếm 8,5%. 100% 
BN hài lòng và rất hài lòng (47,6% và 52,4%) về 
thẩm mỹ của vết mổ sau phẫu thuật. 
IV. BÀN LUẬN: Trước những năm 1930, 
bác sĩ phẫu thuật lồng ngực thường thực hiện 
những phẫu thuật đơn giản trong lồng ngực. 
Sau đó, với sự ra đời phương pháp thông khí 
chọn lọc một phổi (1931) và ống NKQ 2 nòng 
(1949) mà bác sĩ phẫu thuật lồng ngực đã có thể 
cho ngừng một bên phổi và dễ dàng thực hiện các 
phẫu thuật trong lồng ngực. Cho đến nay phẫu 
thuật lồng ngực không ngừng phát triển, có thể 
thực hiện hầu hết các phẫu thuật trong lồng ngực 
đến các phẫu thuật phức tạp như ghép phổi[1]. 
Hơn nữa, những kỹ thuật mới với nhiều ưu điểm, 
hiệu quả cao đã được áp dụng trong đó phẫu thuật 
ít xâm lấn là một hướng phát triển đang được 
nhiều trung tâm trong và ngoài nước quan tâm, 
dần thay thế cho phương pháp mở ngực sau bên 
tiêu chuẩn gây tổn thương nhiều cơ thành ngực và 
biến chứng đáng kể sau mổ. Năm 1973, Noirclerc 
và cộng sự đã lần đầu tiên mổ tả đường mở ngực 
tối thiểu hạn chế cắt cơ và thấy giảm đáng kể các 
biến chứng so với mở ngực tiêu chuẩn. Lần lượt 
sau đó, Baeza OR và Foster ED (năm 1976); 
Bethencourt và Holmes (năm 1988) cũng báo cáo 
những ưu điểm của kĩ thuật mở ngực mới như 
giảm đau sau mổ, phục hồi chức năng khớp vai 
tốt và rút ngắn thời gian nằm viện[2],[3]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, với đường 
rạch da nhỏ từ 5-8 cm chophép thực hiện kỹ thuật 
một cách thuận lợi mà không làm tăng nhiều thời 
gian phẫu thuật (155,10 ± 38,5phút). So với 
đường mở ngực sau – bên kinh điển, đường mở 
ngực hạn chế cắt cơ có thể mất nhiều thời gian 
hơn để mở ngực nhưng thời gian đóng ngực lại 
nhanh hơn, đỡ chảy máu hơn do không mất thời 
gian cầm máu, khâu lại cân cơ đã cắt. Thời gian 
thực tế phẫu thuật phụ thuộc vào từng phẫu thuật 
viên, đối với phẫu thuật viên quen với trường mổ 
nhỏ thì thời gian phẫu thuật cũng không lâu hơn 
so với đường mổ kinh điển[4]. 
Benedetti đánh giá tình trạng đau ngực 1 
tháng sau phẫu thuật chỉ ra rằng tổn thương thần 
kinh liên sườn là nguyên nhân dẫn đến đau kéo 
dài ở bệnh nhân sau mổ. Ông cũng nhận thấy 
rằng đường mở ngực sau - bên liên quan đến tổn 
thương thần kinh liên sườn nhiều hơn là đường 
mở ngực tách cơ. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra 
rằng, nguyên nhân gây tổn thương thần kinh liên 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 48 
sườn ở bệnh nhân sau mổ lồng ngực thường do 2 
lý do: Banh ngực chèn vào bó mạch thần kinh 
liên sườn trong quá trình mổ và động tác siết 
sườn (khâu giữa xương sườn trên và xương sườn 
dưới) với đường mổ nhỏ banh sườn ở mức tối 
thiểu và không siết sườn sau mổ có thể là lý do 
đường mổ hạn chế cắt cơ ít gây đau hơn [5]. 
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng 
minh chức năng khớp vai được phục hồi hoàn toàn 
và nhanh sau phẫu thuật với đường mở ngực tối 
thiểu [2],[3],[6],[7],[8],[9].... Tất cả các báo cáo đều 
cho rằng chức năng khớp vai, biên độ vận động và 
sức mạnh của cánh tay được phục hồi một cách ấn 
tượng sau phẫu thuật, cải thiện rõ rệt so với đường 
mở ngực sau – bên kinh điển. Ngoài ra đường mổ 
này cũng đảm bảo yếu tố thẩm mỹ khi gần như toàn 
bộ đường rạch da được cánh tay che phủ, 100% BN 
trong nghiên cứu hài lòng và rất hài lòng về thẩm 
mỹ của vết mổ sau phẫu thuật. Sẹo mổ nhỏ và 
không có gờ ‘sẹo xơ’ hình thành khi khâu nối lại cơ 
đã cắt trong quá trình đóng như vết mổ truyền 
thống. Điều này có ý nghĩa đối với những bệnh 
nhân còn trẻ tuổi, yêu cầu thẩm mỹ cao, nâng cao 
chất lượng cuộc sống sau mổ. 
Một ưu điểm nữa là chúng tôi chỉ ghi nhận 
2 trường hợp bị nhiễm trùng vết mổ (2,1%). Với 
đường mở ngực sau bên kinh điển, với việc cắt 
ngang các cơ thành ngực sau đó khâu đóng lại vết 
mổ không thể tránh khỏi việc thiểu dưỡng và hoại 
tử một phần cơ ngực tại đường mở,điều này dẫn 
đến tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. 
Một lợi ích khác của đường mổ này là trong 
nhữngtrường hợp có biến chứng rò phế quản sau 
mổ. Cơ lưng rộng và cơ răng trước được dùng 
như một vậtliệu để đóng lỗ rò, điều này là khó 
thực hiện đối vớiđường mổ sau bên kinh điển [4]. 
V. KẾT LUẬN: Đường mổ ngực tối thiểu 
là đường mổ khả thi, hiệu quả, an toàn trong phẫu 
thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, khắc 
phục một số hạn chế của đường mổ ngực sau - 
bên kinh điển. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. J. B. Brodsky và H. J. Lemmens (2007). 
The history of anesthesia for thoracic surgery. 
Minerva Anestesiol, 73(10), 513-524. 
2. Daniel M Bethencourt và E Carmack 
Holmes (1988). Muscle-sparing posterolateral 
thoracotomy. The Annals of Thoracic Surgery, 
45(3), 337-339. 
3. M Ashour (1990). Modified muscle sparing 
posterolateral thoracotomy. Thorac, 45, 935-938. 
4. K. Athanassiadi, S. Kakaris, N. Theakos 
và cộng sự (2007). Muscle-sparing versus 
posterolateral thoracotomy: a prospective study. 
Eur J Cardiothorac Surg, 31(3), 496-499; 
discussion 499-500. 
5. Fabrizio Benedetti, Sergio Vighetti, Claudia 
Ricco và cộng sự (1998). Neurophysiologic 
assessment of nerve impairment in posterolateral and 
muscle-sparing thoracotomy. J Thorac Cardiovasc 
Surg, 115(4), 841-847. 
6. Kazuro Sugi, Sumihiko Nawata, 
Yoshikazu Kaneda và cộng sự (1996). 
Disadvantages of muscle-sparing thoracotomy in 
patients with lung cancer. World journal of 
surgery, 20(5), 551-555. 
7. Yiğit Akçalı, Hasan Demir và Bekir 
Tezcan (2003). The effect of standard 
posterolateral versus Muscle-Sparing 
thoracotomy on multiple parameters. The Annals 
of Thoracic Surgery, 76(4), 1050-1054. 
8. Stephen R. Hazelrigg, Rodney J. 
Landreneau, Thersa M. Boley và cộng sự (1991). 
The effect of muscle sparing versus standard 
posterolateral thoracotomy on pulmonary 
function muscle strength and postoperative pain. 
Thorac Cardiovasc Surg, 394-402. 
9. E. Andrew Ochroch, Alan Gottschalk, 
John G. Augoustides và cộng sự (2005). Pain and 
Physical Function Are Similar Following 
Axillary, Muscle-Sparing vs Posterolateral 
Thoracotomy. Chest, 128(4), 2664-2670. 

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_cua_duong_mo_nguc_toi_thieu_trong_phau_thuat_dieu_tr.pdf