Ghép tim: thành tựu và tương lai ở Việt Nam

Từ 6 / 2010 đến 5 / 2017, trong số 16 ca ghép tim thì: 2 ca tại Học viện Quân y – bệnh viện 103; 1 ca tại bệnh viện Trung ương Huế; 13 ca tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ngoài ra còn 1 ca ghép tim-Thận tại bệnh viện Việt Đức (12/2012) và 1 ca ghép khối tim-phổi tại bệnh viện Trung ương Huế (7/2015). Có 100% các ca ghép thành công về mặt kỹ thuật, và 100% bệnh nhân ghép tim sống sau mổ > 30 ngày; ca ghép tim-thận và ghép khối tim-phổi tử vong sớm sau mổ do rối loạn đông máu. Tổn thương tim ở người nhận: đa số là bệnh cơ tim giãn (15/18); 2 ca bệnh mạch vành; 1 ca bệnh tim bẩm sinh phức tạp.Tổng kết 14/16 ca ghép tim dokíp ghép tạng của Việt Đức thực hiện, cho thấy: 2 ca lấy tạng hiến từ thành phố Hồ Chí Minh; 1 ca phối hợpthực hiện tại bệnh viện 103; 2 ca ghép tim trẻ em – nhỏ nhất là 10 tuổi (21kg). Hiện còn sống 10/16 ca ghép tim (62,5%), dài nhất là 74 tháng

pdf 7 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Ghép tim: thành tựu và tương lai ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ghép tim: thành tựu và tương lai ở Việt Nam

Ghép tim: thành tựu và tương lai ở Việt Nam
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 44 
GHÉP TIM: THÀNH TỰU VÀ TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM 
Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT 
Từ 6 / 2010 đến 5 / 2017, trong số 16 ca ghép 
tim thì: 2 ca tại Học viện Quân y – bệnh viện 103; 
1 ca tại bệnh viện Trung ương Huế; 13 ca tại 
bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ngoài ra còn 1 ca 
ghép tim-thận tại bệnh viện Việt Đức (12/2012) 
và 1 ca ghép khối tim-phổi tại bệnh viện Trung 
ương Huế (7/2015). Có 100% các ca ghép thành 
công về mặt kỹ thuật, và 100% bệnh nhân ghép 
tim sống sau mổ > 30 ngày; ca ghép tim-thận và 
ghép khối tim-phổi tử vong sớm sau mổ do rối 
loạn đông máu. Tổn thương tim ở người nhận: đa 
số là bệnh cơ tim giãn (15/18); 2 ca bệnh mạch 
vành; 1 ca bệnh tim bẩm sinh phức tạp.Tổng kết 
14/16 ca ghép tim dokíp ghép tạng của Việt Đức 
thực hiện, cho thấy: 2 ca lấy tạng hiến từ thành 
phố Hồ Chí Minh; 1 ca phối hợpthực hiện tại 
bệnh viện 103; 2 ca ghép tim trẻ em – nhỏ nhất là 
10 tuổi (21kg). Hiện còn sống 10/16 ca ghép tim 
(62,5%), dài nhất là 74 tháng. Đã tử vong 6 ca, 
nguyên nhân là: ngoài tim (3); thải ghép (2); 
nhiễm trùng phổi (1).Tại bệnh viện Việt Đức, 
cùng thời gian có 29 người hiến đa tạng chết não, 
với tỷ lệ ghép được gan là 27/29 (93,1%), ghép 
được thận là 100%; trong khi ghép được tim (kể 
cả ca tim-thận) chỉ có 14/29 (48,3%);khi cótạng 
hiến chết não thì luôn thiếu người nhận tim phù 
hợp; trong khi có hơn 30 cacó chỉ định ghép tim 
bị tử vong (do bệnh đã quá nặng khi đến Việt 
Đức, gia đình không đủ điều kiện ); bệnh nhân 
được ghép trong tình trạng quá nặng (có 13/14ca 
cần hồi sức tích cực, thở máy, thậm chí cả 
ECMO, siêu lọc máu); nguồn hiến tạng rất ít so 
với nhu cầu và phân bố không đồng đều, dù đã cố 
gắng tận dụng mọi nguồn cho tạng (ở xa trên 
1700 km); không có cơ sở dữ liệu bệnh nhân chờ 
ghép tim ở cấp khu vực, quốc gia. 
Từ khóa: ghép tim, bệnh viện Việt Đức, ghép 
tạng. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ghép tim là một phân ngành đặc biệt của 
phẫu thuật tim, đòi hỏi tính tổ chức và chuyên 
môn rất cao [1],[2],[3],[6],[7]. Ghép tim được coi 
là giải pháp điều trị cuối cùng cho một số thể 
bệnh rất nặng – suy tim giai đoạn cuối, như bệnh 
cơ tim thể giãn, bệnh mạch vành, bệnh van tim 
hoặc tim bẩm sinh phức tạp [1],[2],[9],[11]. Sau 
thành công của ca đầu tiên trên thế giới cách đây 
50 năm(2/12/1967), ghép tim đã dần trở thành 
phẫu thuật thường qui tại hầu hết các trung tâm 
phẫu thuật tim lớn trên thế giới, với số lượng trên 
4000 ca/năm (Biểu đồ 1) [1],[9]. Đài Loan đã 
thực hiện ca ghép tim đầu tiên ở châu Á, và Thái 
Lan làm ca đầu tiên ở Đông Nam Á – đều vào 
năm 1987 (trước Việt Nam 23 năm). Xu thế 
chung là ghép tim từ người cho đa tạng chết não. 
Trên 70% sử dụng kỹ thuật ghép kiểu 2 tĩnh mạch 
chủ (bi-caval). Theo dõi và điều trị chống thải 
ghéptheo qui trình không quá phức tạp. Về kết 
quả lâu dài, có hơn 50% bệnh nhân có khả năng 
sống trên 10 năm [1], [2], [9].9 
* Khoa Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực BV HN Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
Ngày nhận bài: 01/08/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 07/08/2017 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
GHÉP TIM: THÀNH TỰU VÀ TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM 
 45
Biểu đồ 1: Số lượng PT Ghép tim trên thế giới (số liệu đến năm 2014) [9] 
Ở Việt Nam, phẫu thuật ghép timbắt đầu 
được chú ý đến trong hơn 10 năm gần đây với ca 
đầu tiên thành công vào ngày 17/6/2010 [2]. Cho 
đến nay, cả nước đã thực hiện được 16 ca ghép 
tim, 1 ca ghép đa tạng tim-thận và 1 ca ghép khối 
tim-phổi. Tuy nhiên con số này còn khá khiêm 
tốn so với mặt bằng chung trên thế giới, nhất là 
khi so với gần 40 trường hợp hiến đa tạng chết 
não tính từ năm 2010. Báo cáo nhằm tổng kết 
những thành tựu và khó khăn sau 7 năm triển 
khai, từ đó đề xuất 1 số giải pháp thúc đẩy phát 
triển ghép tim tại Việt Nam. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
Báo cáo tổng quan, dựa trên các tài liệu – 
nghiên cứu ở trong và ngoài nước; kết quả chung 
của 18 ca ghép tim ở Việt Nam, từ 6/2010 tới 
5/2017; và tình hình ghép tạng tại bệnh viện Hữu 
nghị Việt Đức. 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 
3.1. Thành tựu ghép tim của Việt Nam 
Bảng 3.1. Đặc điểm tim ghép ở Việt Nam 
Loại 
ghép TT Thời điểm Kíp thực hiện Bệnh căn người nhận Số tạng hiến 
1. 6/2010 HVQY-103 1 
2. 3/2011 BVTƯ Huế 1 
3. 4/2011 
4. 1/2012 
5. 5/2012 
6. 6/2012 
7. 6/2013 
8. 6/2013 
9. 4/2014 
Bệnh cơ tim giãn 
10. 5/2014 Tim bẩm sinh phức tạp 
4 
11. 7/2015 2 
12. 9/2015 
13. 12/2015 
Bệnh cơ tim giãn 
14. 4/2016 
BV Việt Đức 
Bệnh mạch vành 
15. 7/2016 HVQY-103 + Việt Đức 
TIM 
16. 3/2017 BV Việt Đức Bệnh cơ tim giãn 
4 
1. 12/2012 (Tim-Thận) BV Việt Đức Nhồi máu cơ tim sau ghép thận 4 ĐA 
TẠNG 2. 7/2015 (Tim-Phổi) BVTƯ Huế Bệnh cơ tim + Tăng áp lực động mạch phổi nặng 5 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 46 
Trong vòng 7 năm, cả nước đã thực hiện 
được 16 ca ghép tim, trong đó: 2 ca tại Học viện 
Quân y – bệnh viện 103 (ca thứ 2 kết hợp cùng 
kíp ghép của Việt Đức); 1 ca tại bệnh viện 
Trung ương Huế; 13 ca tại bệnh viện Hữu nghị 
Việt Đức. Ngoài ra còn 1 ca ghép tim-thận tại 
bệnh viện Việt Đức và 1 ca ghép khối tim-phổi 
tại bệnh viện Trung ương Huế. Về mặt kỹ thuật, 
cả 100% các ca ghéptim và đa tạngđều thành 
công với việc tim đập lại và giữ được chức năng 
sau ghép. Đối với nhóm ghép tim đơn thuần thì 
100% sống > 1 tháng sau ghép (Biểu đồ 2); ca 
ghép tim-thận và ghép khối tim-phổi tử vong 
sớm sau mổ 3-5 ngày do rối loạn đông máu và 
một vài yếu tố khách quan khác.Tổn thương tim 
ở người nhận: đa số là bệnh cơ tim giãn (15/18); 
2 ca bệnh mạch vành; 1 ca bệnh tim bẩm sinh 
phức tạp [5]. Kỹ thuật ghép tim (17/18 ca) đều 
là ghép 2 tĩnh mạch chủ (Bi-caval), phù hợp với 
xu hướng chung của thế giới [1],[2].Nguyên 
nhân chết não của tất cả người cho tạng đều là 
chấn thương sọ não. Sau 2 ca khởi đầu là người 
cho đơn tạng, tất cả các trường hợp sau đều theo 
kịp xu hướng chung của thế giới là lấy đa tạng 
(tim, gan, thận), mô – tổ chức (giác mạc, van tim, 
đoạn mạch ) từ người cho chết não. Tuy nhiên, 
việc triển khai lấy đa tạng và ghép như vậy có thể 
gặp một số khó khăn về công tác tổ chức rất phức 
tạp, khó tuyển chọn đồng thời nhiều người nhận 
tạng, bảo vệ + vô trùng đa tạng trong khi lấy tạng, 
triển khai ghép nhiều tạng cùng thời điểm (nhân 
lực, trang thiết bị ), hậu phẫu nhiều bệnh nhân 
nhận tạng [1],[4],[6],[7]. 
Bảng 3.2. Đặc điểm nhóm ghép tim đơn thuần / kíp ghép bệnh viện Việt Đức 
Các đặc điểm 
(người cho / người nhận) TT 
Giới* Tuổi ABO* Trọng lượng (kg)
Phù 
hợp 
HLA 
T/g cặp 
chủ 
(phút) 
T/g mổ 
(giờ) 
T/g thở 
máy 
Nơi lấy 
tạng 
1. M/M 27/58 B/B 55-60/62 2/6 78 4 15 giờ 
2. M/M 37/47 O/A 55-60/55 2/6 84 6 14 giờ 
3. M/M 22/24 O/O 60-65/50 1/6 75 5 10 giờ 
4. M/M 18/35 A/A 60-65/57 1/6 70 5 8 giờ 
5. M/F 21/13 O/O 50-55/47 1/6 78 5 26 giờ 
6. F/F 30/54 B/B 50-55/45 1/6 82 3 15 giờ 
7. M/M 28/41 B/B 60-65/60 0/6 90 5 17 giờ 
8. M/F 26/27 O/B 65-70/45 1/6 170 9 4 tuần 
9. M/M 25/26 B/B 60-65/60 0/6 70 4 15 giờ 
Việt Đức
10. M/M 23/37 O/O 65-70/62 1/6 90 6 18 giờ Chợ Rẫy 
11. M/M 36/45 A/A 60-65/58 0/6 75 7 20 giờ Việt Đức
12. M/M 20/64 O/O 60-65/72 0/6 97 8 7 ngày Chợ Rẫy 
13. M/M 31/36 B/B 65-70/65 0/6 75 5 11 giờ HVQY 
14. M/M 18/10 O/O 55-60/21 1/6 95 7 10 ngày Việt Đức
* M – Nam; F – Nữ; ABO – nhóm máu ABO. 
GHÉP TIM: THÀNH TỰU VÀ TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM 
 47
Trong số 14 ca ghép tim được kíp ghép bệnh 
viện (BV) Việt Đức thực hiện, thì: đa số cặp 
ghép là nam giới (11/14); người cho đều dưới 40 
tuổi; có 2 người nhận là trẻ em – nhỏ nhất là 10 
tuổi. Đa số là ghép cùng nhóm máu (11/14), tuy 
nhiên có thể ghép khác nhóm máu theo nguyên 
tắc truyền máu A-B-O, người ta chưa tìm thấy 
sự khác biệt về hậu quả sớm cũng như lâu dài ở 
nhóm bệnh nhân được ghép tạng khác nhóm 
máu [1]. Mức chênh trọng lượng người 
cho/người nhận hầu hết đều giao động từ 1,0-
1,2, phù hợp với các khuyến cáo trên thế giới 
[1],[9],[11]. Có 1 trường hợp chênh nhau >1,4 
(ca 8) nhưng vẫn chỉ định ghép vì tình trạng 
người nhận quá nặng, không cho phép đợi người 
cho phù hợp hơn; một cặp ghép người lớn cho 
trẻ em nhỏ chênh nhau đến 2,7 – tuy kỹ thuật 
phức tạp song vẫn thành công do kíp ghép đã 
nghiên cứu và xử lý rất cẩn thận việc đặt quả tim 
cho vào hố tim nhận. Trên thế giới, ghép tim trẻ 
em thường xuyên có mức chênh trọng lượng từ 
1,5 – 2,5; trường hợp lớn nhất được báo cáo lên 
tới 3,4 - do rất khó tìm tim hiến của trẻ em để 
ghép cho trẻ em. Trên 80% ghép tim trẻ em 
được thực hiện với tim cho từ người lớn [8]. Có 
5 trường hợp không có yếu tố HLA nào hòa hợp 
giữa người cho và người nhận, các nghiên cứu 
gần đây đều cho thấy nhờ sự phát triển của các 
thuốc ức chế miễn dịch, thì hòa hợp tổ chức 
HLA không còn là yếu tố quan trọng để xét ghép 
tạng nữa, cả về kết quả sớm cũng như lâu dài sau 
ghép [1], [10]. Về mặt kỹ thuật ghép tim, với 5 
miệng nối của ghép kiểu Bi-caval, nếu không có 
bất thường về giải phẫu của cuống tim nhận 
hoặc tim cho (bệnh tim bẩm sinh, mất cân xứng 
lớn về kích thước), thì thời gian cặp động mạch 
chủ khoảng 70 – 90 phút và thời gian mổ khoảng 
5 giờ - tức là tương đương một ca mổ tim hở 
thông thường. Đối với 2 trường hợp kích thước 
tim cho quá lớn so với người nhận thì việc mở 
rộng khoang màng tim (bằng miếng vá nhân tạo) 
và điều chỉnh các cuống tim, các miệng nối và tư 
thế tim là rất quan trọng [8], việc khâu treo 
xương ức trong vài ngày đầu sau mổ cũng là một 
thủ thuật giúp giảm bớt lực đè ép vào tim sau 
ghép. Tương tự như vậy, mặc dù tình trạng trước 
mổ của bệnh nhân rất nặng, song với chức năng 
rất tốt của tim ghép, nên thời gian thở máy sau 
mổ không quá dài, đa số chỉ trong vòng 1 ngày, 
và sức khỏe bệnh nhân phục hồi rất nhanh, với 
khoảng 2 tuần ở phòng cách ly đặc biệt và ra 
viện sau ghép 3 – 4 tuần. Có 3 ca phải thở máy 
rất nhiều ngày, trong đó 2/3 ca là trường hợp tim 
cho quá lớn so với người nhận / suy đa tạng 
nặng trước mổ, và 1 ca ở bệnh nhân lớn tuổi (64) 
với nhiều rối loạn về hô hấp từ trước mổ. Để tận 
dụng tối đa mọi nguồn hiến tạng, sau 9 ca đầu 
tiên lấy – ghép tạng đồng thời ở BV Việt Đức, 
các thầy thuốc đã can đảm triển khai liền 2 
trường hợp lấy đa tạng tại bệnh viện Chợ Rẫy 
(cách xa 1700km), đi máy bay dân dụng mang 
tạng ra Việt Đức để ghép tim và gan, với thời 
gian thiếu máu nóng lên tới 7 giờ. Thành công 
của những ca ghép này đánh dấu một thành tựu 
quan trọng của ngành ghép tạng Việt Nam. Ở 
các nước phát triển, việc đi lấy tạng ở nơi khác 
là bình thường, song khoảng cách chỉ 500-
700km và sử dụng máy bay chuyên dụng cho y 
tế, nên thời gian thiếu máu nóng chỉ < 4 giờ [1], 
[11]. Tiếp đến là việc triển khai kíp ghép của BV 
Việt Đức đi hỗ trợ thực hiện thành công ghép 
tim ở một bệnh viện khác, điều này thể hiện sự 
trưởng thành, tính chuyên nghiệp cao và năng 
lực thực hiện thường qui ghép tim của các thầy 
thuốc Việt Nam, bước đầu thể hiện tính làm việc 
tập thể và tương hỗ nhau – một tiêu chí cần phấn 
đấu của công tác ghép tạng. Trong thời gian tới 
đây, chúng ta sẽ tiến thêm một bước nữa là 
chuyển giao kỹ thuật ghép tim giữa các bệnh 
viện trong nước, thay vì phải ra nước ngoài học 
hoặc mời chuyên gia nước ngoài như trước đây. 
Hơn nữa, việc tăng số lượng các đơn vị y tế có 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 48 
năng lực ghép tim ở các vùng miền khác nhau 
của đất nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng 
phục vụ bệnh nhân và giải quyết những khó 
khăn về đặc điểm địa lý của Việt Nam. 
Trong các tiêu chí lựa chọn bệnh nhân ghép 
tim, bên cạnh những tiêu chí đã được chuẩn hóa 
trên thế giới [1],[2], thì đối với người bệnh Việt 
Nam, cần chú ý thêm đến một số đặc điểm có 
liên quan chặt chẽ với thời gian sống thêm sau 
ghép, như: (1) điều kiện kinh tế của bệnh nhân 
không quá khó khăn – vì trung bình sau ghép, 
nếu người bệnh có bảo hiểm y tế (BHYT), thì 
mỗi tháng phải chi từ 1,5 đến 3,0 triệu tiền 
thuốc chống thải ghép, hoặc 15,0 đến 17,0 triệu 
nếu không có BHYT; (2) người bệnh và gia 
đình phải có văn hóa nhất định, điều đó liên 
quan chặt chẽ đến nếp sinh hoạt của người bệnh 
sau ghép với thể lực khỏe như người bình 
thường; (3) bệnh nhân cần người thân có uy tín 
ở bên cạnh để nhắc nhở người bệnh tuân thủ 
các qui định dùng thuốc, khám kiểm tra và chế 
độ sinh hoạt (hút thuốc lá, uống rượu, hoạt 
động sinh lý ) – hạn chế đến mức thấp nhất 
biến chứng thải ghép và nhiễm trùng. Trong số 
5 ca đã tử vong sau ghép ở Việt Đức, thì 3 ca 
liên quan đến các yếu tố này, còn 1 ca do nhiễm 
trùng phổi / cháu bé 13 tuổi có bệnh lý viêm 
phổi từ nhỏ, và 1 ca do rối loạn ngoài tim / đa 
dị tật phức tạp (xem Biểu đồ 2). 
Biểu đồ 2: Thời gian sống sau ghép tim ở Việt Nam – tính tới tháng 5 / 2017 
3.2. Một số khó khăn và hạn chế 
Bảng 3.3. Tình hình ghép tạng từ người cho đa tạng chết não của BV Việt Đức (n=29) 
Loại ghép n % n (% cộng dồn) 
Ghép Tim 13 44,8% 
Ghép Tim (+thận) 1 14 (48,3%) 
Ghép Gan* 27 93,1% 27 (93,1%) 
Ghép Thận 57 98,3% 
Ghép Thận (+tim) 1 58 (100%) 
* Không tính 3 ca ghép gan với tạng hiến lấy từ BV Chợ Rẫy (2) và BV 103 (1). 
GHÉP TIM: THÀNH TỰU VÀ TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM 
 49
Tuy số lượng ghép tạng từ người cho chết 
não tại BV Việt Đức (29 ca hiến tạng) luôn chiếm 
trên 70% số lượng của cả nước (gần 40 ca hiến 
tạng), song trong khi thận hiến được tận dụng tối 
đa (100%); đại đa số gan hiến (93,1%); thì chỉ sử 
dụng được < 50% số ca hiến tim – trong khi kỹ 
thuật ghép tim đã trở thành thường qui và nhiều 
bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối đã tử vong do 
không có tim hiến. Thực tiễn cho thấy mỗi khi có 
người hiến tim thì kíp ghép đã rất vất vả để tìm 
được người nhận phù hợp, trong khi có tới hơn 30 
trường hợp tử vong do không có tim hiến hoặc 
không đủ điều kiện kinh tế để ghép tim. 
Thực trạng này đến từ nhiều khó khăn khách 
quan khác nhau, như: 
- Rất nhiều bệnh nhân được chỉ định ghép tim 
khi đã quá nặng, không đủ sức chờ đợi đến khi có 
tạng hiến. Có tới 13/14 ca ghép tim ở BV Việt Đức 
thực hiện trong tình trạng đang hồi sức rất tích cực 
với trợ tim liều cao, thở máy, siêu lọc máu, thậm chí 
bóng đối xung nội động mạch chủ, ECMO. 
- Nguồn hiến tạng rất ít so với nhu cầu và 
phân bố không đồng đều (đa số đều ở Việt Đức), 
dù đã cố gắng tận dụng mọi nguồn cho tạng (ở xa 
trên 1700 km); thời gian dài nhất giữa 2 lần có 
tạng hiến là 14 tháng. 
- Nhận thức về ghép tạng của nhiều cơ sở y tế 
và người dân chưa cao, nên đã bỏ sót hoặc chỉ 
định muộn cho một số trường hợp cần ghép tim. 
- Chi phí cho ghép tạng tuy ở mức rất thấp so 
với mặt bằng chung của thế giới, song còn khá 
cao so với nhận thức của đa số người bệnh về sử 
dụng y tế kỹ thuật cao. Chưa có một khung giá 
hợp lý cho ghép tạng. 
- Chưa có cơ sở dữ liệu bệnh nhân chờ ghép 
tim cấp khu vực, quốc gia. 
3.3. Đề xuất một số giải pháp phát triển 
ghép tim trong tương lai 
Do ghép tim là một phân ngành hết sức đặc 
biệt trong phẫu thuật tim. Phân tích ở trên cho 
thấy không thể có một cách riêng rẽ nào đủ sức 
đẩy mạnh phát triển ghép tim ở Việt Nam, mà cần 
có các giải pháp tổng thể để huy động sức mạnh 
của toàn bộ hệ thống y tế và xã hội, được thực 
hiện một cách kiên trì và liên tục [1]. Cụ thể có 
thể đề xuất một số giải pháp như sau: 
Tăng cường tổ chức tọa đàm, tuyền truyền về 
ghép tim cho cộng đồng và toàn bộ hệ thống y tế, 
cả về vấn đề hiến tạng và ghép tim. Công tác này 
đã được tích cực thực hiện từ 1 – 2 năm trở lại 
đây, và bước đầu mang lại những tín hiệu tích 
cực, như số lượng người bệnh đến đăng ký ghép 
tim gần đây có xu hướng tăng lên. 
BHYT cần dần dần chi trả toàn bộ chophẫu 
thuật ghép tạng. Cần xây dựng biểu giá riêng cho 
ghép tạng khác với các phẫu thuật khác – bao 
gồm cả chi phí “tâm linh” và tiền công lao động 
kỹ thuật cao, quản lý phí  
Hợp pháp hóa và công khai các hình thái 
“tâm linh” cho người hiến đa tạng chết não, như 
phí hậu sự, phụ cấp – BHYT suốt đời cho người 
thân của họ  
Lập các quỹ từ thiện hỗ trợ riêng cho ghép 
tạng để xã hội có cơ hộichung tay đóng góp phát 
triển ghép tạng. 
Từng bước xem xét tính pháp lý của bộ dữ 
liệu bệnh nhân chờ ghép, trên nguyên tắc bệnh 
nhân nào đăng ký vào hệ thống thì được ưu tiên 
ghép khi có tạng hiến. 
Chỉ đạo phát triển ghép tim theo mô hình 
trung tâm và vệ tinh theo khu vực – phù hợp cấu 
trúc địa lý quốc gia. Ví dụ cần phát triển ít nhất 3 
Trung tâm ghép tim ở 3 miền. Hiện nay BV Việt 
Đức đang thực hiện đề án chuyển giao ghép tim 
cho một số bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh. 
Tăng cường chất lượng điều trị bệnh nhân 
sau ghép tim, tập trung vào các chương trình 
giáo dục bệnh nhân sau ghép về nếp sống, sinh 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 50 
hoạt, kỹ năng dùng thuốc, tuân thủ lịch khám 
kiểm tra  [10], [12]. 
IV. KẾT LUẬN 
Với các thành tựu về ghép tim nói riêng cũng 
như ghép tạng nói chung, có thể nói là ngành y tế 
Việt Nam đã làm chủ được các kỹ thuật ghép 
tạng. Tuy nhiên số lượng các ca ghép tạng còn 
chưa theo kịp tiềm năng, nhất là ghép tim. Cần có 
nhiều giải pháp đồng bộ trong thời gian tới để 
thúc đẩy phát triển ghép tim nói riêng và ghép 
tạng nói chung lên một tầm cao mới. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Nghiên 
cứu ứng dụng ghép tim trên người từ người cho 
đa tạng chết não, Đề tài cấp Bộ Y tế 2011 - 2013, 
nghiệm thu năm 2014. 
2. Học viện Quân y, Nghiên cứu triển khai 
ghép tim trên người lấy từ người cho chết não, 
Công trình KH & CN trọng điểm cấp Nhà nước 
KC.10.32/06-10, nghiệm thu năm 2010. 
3. Bùi Đức Phú và CS, Qui trình kỹ thuật và 
hệ thống tổ chức trong ghép tim lấy từ người cho 
chết não, Nhà xuất bản Đại học Huế 2009. 
4. Nguyễn Tiến Quyết, Nguyễn Quang Nghĩa, 
Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Hữu Ước và CS, Ghép 
tạng từ người cho chết não tại Bệnh viện Hữu nghị 
Việt Đức, Ngoại khoa, 2012, Tập 61(1-3):72-79. 
5. Nguyen Huu Uoc, Pham Tien Quan, Heart 
Transplant for Dextrocardia Situs Inversus with 
Very Complex Very Complex Congenital 
Lesions a Challenge of Cardiac Surgery, Int J 
Clin Cardiol, 2015, 2:049. 
6. Nguyễn Hữu Ước, Phạm Tiến Quân, 
Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn Quốc Kính, Phạm 
Hữu Lư, Vũ Ngọc Tú, Nguyễn Tiến Quyết và CS, 
Kết quả bốn ca ghép tim đầu tiên từ người cho đa 
tạng chết não tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, 
Ngoại khoa, 2012, Tập 62 (4):3-10. 
7. Nguyễn Hữu Ước, Phạm Tiến Quân, 
Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn Quốc Kính, Trịnh 
Hồng Sơn, Hà Phan Hải An, Nguyễn Tiến Quyết 
và CS, Kết quả phẫu thuật ghép tim từ người cho 
đa tạng chết não tại Bệnh viện Việt Đức, Tạp chí 
Y Dược học quân sự, 2012, Vol.37: 227-231. 
8. Hong Ju Shin, Won Kyoung Jhang et al., 
Heart transplantation in pediatric patients: twelve-
year experience of Asan medical center, J. 
Korean Med Scj, 2011 May, 26(5):593-598. 
9. ISHLT, Heart transplantation Overall, 
Journal of Heart and Lung Transplant, 2016 
Oct., 35(10): 1149-1205. 
10. Kfoury AG, Renlund DG, Snow GL, 
Stehlik J, Folsom JW, Fisher PW, et al. A clinical 
correlation study of severity of antibody-mediated 
rejection and cardiovascular mortality in heart 
transplantation, J Heart Lung Transplant, Jan 
2009;28(1):51-7. 
11. Niloo M. Edwards, Jonathan M. Chen, 
Pamela A. Mazzeo, Cardiac Transplantation, 
Humana Press Inc 2004. 
Ramakrishna H, Jaroszewski DE, Arabia 
FA. Adult cardiac transplantation: A review of 
perioperative management Part – I, Ann Card 
Anaesth, Jan-Jun 2009;12(1):71-8. 

File đính kèm:

  • pdfghep_tim_thanh_tuu_va_tuong_lai_o_viet_nam.pdf