Đo chiều dài cổ tử cung qua siêu âm trong dự báo dọa sinh non

Chiều dài cổ tử cung ngắn là một trong những triệu chứng đầu tiên của cuộc chuyển dạ, có thể xảy ra trước khi chuyển dạ thực sự một vài tuần. Nguyên nhân dẫn đến chiều dài cổ tử cung ngắn hiện nay vẫn chưa rõ, có thể do hoạt động thầm lặng của cơ tử cung, bất thường cổ tử cung bẩm sinh hay mắc phải, chảy máu dưới màng rụng, viêm, nhiễm trùng hoặc do các biến đổi sinh học. Chiều dài cổ tử cung ngắn ở quý hai thai kỳ là một dấu hiệu có thể dự báo sinh non tự nhiên do sự xóa mở cổ tử cung thường bắt đầu ở lỗ trong cổ tử cung và dấu hiệu này chỉ có thể phát hiện trên siêu âm trước khi được đánh giá trên lâm sàng

pdf 4 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Đo chiều dài cổ tử cung qua siêu âm trong dự báo dọa sinh non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đo chiều dài cổ tử cung qua siêu âm trong dự báo dọa sinh non

Đo chiều dài cổ tử cung qua siêu âm trong dự báo dọa sinh non
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(01), 14 - 21, 2017
1514
Tậ
p 
15
, s
ố 
01
Th
án
g 
07
-2
01
7 Tập 15, số 01
Tháng 07-2017
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Lê Minh Tâm, Võ Văn Đức, Cao Ngọc Thành
Trường Đại học Y Dược Huế
ĐO CHIỀU DÀI CỔ TỬ CUNG QUA SIÊU ÂM 
TRONG DỰ BÁO DỌA SINH NON
Sau tuần 28 đến tuần 32 thai kỳ, chiều dài cổ 
tử cung ngắn hơn là hoàn toàn bình thường. Chiều 
dài cổ tử cung bình thường sau tuần thứ 32 khoảng 
30 mm, so với 35 mm ở tuần thai 22-32 tuần và 
với 40 mm ở tuần thai trước 22 tuần.
2. Chẩn đoán chiều dài cổ tử 
cung ngắn
Định nghĩa chiều dài cổ tử cung ngắn khi chiều 
dài cổ tử cung đo được ≤ 25 mm ở tuần thai 16 đến 
24 tuần. Định nghĩa này được rút ra từ những thử 
nghiệm có can thiệp hiệu quả các phương pháp 
điều trị tùy vào ngưỡng cut-off thu được.
Những thông số siêu âm khác cũng được nghiên 
cứu để cải thiện dự đoán sinh non. Tuy nhiên, trong 
nghiên cứu tổng quan hệ thống của Conde Agudelo 
năm 2015 đã kết luận việc thay đổi chiều dài cổ tử 
cung trên hai hoặc nhiều lần đo không cải thiện khả 
năng dự đoán sinh non khi so sánh với chiều dài cổ 
tử cung được đo từ tuần thai 18-24 tuần [18]. Tuy 
nhiên, ở những phụ nữ được chẩn đoán chiều dài 
cổ tử cung ngắn (≤ 25 mm), sự thay đổi chiều dài 
cổ tử cung ở những lần kiểm tra siêu âm tiếp theo 
có thể ảnh hưởng đến nguy cơ sinh non sau cùng 
[19-21]. Chiều dài cổ tử cung ổn định hoặc dài hơn 
ở lần khám tiếp theo có liên quan đến nguy cơ sinh 
non thấp hơn dự đoán ban đầu.
Sự thay đổi có ý nghĩa chiều dài cổ tử cung 
giữa hai lần đo (ví dụ: 30 còn 20mm so với 20 còn 
15 mm trong hai tuần) đối với khả năng dự đoán 
sinh non là không rõ ràng, và không có tỷ lệ phần 
trăm thay đổi cổ tử cung được xác định là ngưỡng 
để can thiệp giảm nguy cơ sinh non.
Cho đến nay, chưa có những nghiên cứu đáng 
tin cậy giúp lựa chọn ngưỡng tối ưu giữa 10 và 25 
mm để chẩn đoán và có can thiệp sau đó. Chiều 
dài cổ tử cung ≤ 25 mm ở tam cá nguyệt thứ hai 
làm tăng nguy cơ sinh non tự phát [2,4,22-25], 
đặc biệt là ở giai đoạn trước 24 tuần hoặc ở nhóm 
có tiền sử sinh non, đặc biệt là sinh trước tuần 32 
[1-6,22,26,27]. Tuy nhiên, không có ngưỡng chiều 
dài cổ tử cung đối với những trường hợp sinh non 
nhiều lần.
Kết quả nghiên cứu nhận thấy, 75% phụ nữ 
không đo chiều dài cổ tử cung ở tuần thứ 14 đến 
tuần 28 sinh non trước tuần 32 tuần [28]. Nếu 
không đo chiều dài cổ tử cung trong khoảng tuần 
thai 24 và việc quản lý thai nghén không thay đổi, 
thì tỷ lệ sinh non <35 tuần khoảng 18% ở nhóm có 
độ dài cổ tử cung dưới vị bách phân thứ 10 (25 
mm) và khoảng 50% ở nhóm có độ dài cổ tử cung 
dưới vị bách phân thứ nhất (13 mm) [1]
3. Hướng dẫn sàng lọc đo 
chiều dài cổ tử cung 
3.1. Sàng lọc mở rộng so với sàng lọc 
có lựa chọn
Việc lựa chọn những đối tượng phù hợp để siêu 
âm sàng lọc chiều dài cổ tử cung hiện nay vẫn đang 
là vấn đề gây tranh cãi. Một nghiên cứu tổng quan 
trên Cochrane năm 2013 không tìm thấy những 
bằng chứng đầy đủ để khuyến cáo đo chiều dài cổ 
tử cung ở tất cả các sản phụ. Hơn nữa, việc xác định 
giá trị chiều dài cổ tử cung trong công tác sàng lọc 
thường gặp khó khăn do giá trị ngưỡng cổ tử cung 
khác nhau giữa các nghiên cứu và những nghiên 
cứu này chưa có một quy trình rõ ràng để quản lý 
các thai phụ dựa vào chiều dài cổ tử cung. Ngoài 
ra, các đặc điểm của mẫu nghiên cứu có thể ảnh 
hưởng đến kết quả đo chiều dài cổ tử cung như tỷ lệ 
thai đơn so với đa thai, có triệu chứng so với không 
triệu chứng, ối vỡ hay chưa vỡ, có tiền sử sinh non 
trước hay không và có can thiệp phẫu thuật hay thủ 
thuật trên cổ tử cung trước đó hay không.
Ở những phụ nữ mang đơn thai, không có tiền 
sử sinh non, chiều dài cổ tử cung ngắn có độ nhạy 
dự báo sinh non vào khoảng 35-45% nếu không có 
can thiệp và giá trị tiên đoán dương được báo cáo 
vào khoảng 20-30% [31]. Một nghiên cứu khác 
cho kết quả độ nhạy là 8% với những trường hợp 
mang thai con so đơn thai có chiều dài cổ tử cung 
≤ 25mm đo ở tuần thai 16-22 tuần, 23% nếu đo 
ở tuần thai 22 – 30 tuần. Tuy nhiên, các nhà lâm 
sàng và bệnh nhân chỉ được thông báo để điều trị 
khi chiều dài cổ tử cung ≤ 15 mm để giảm nguy cơ 
sinh non. Ngoài ra, độ nhạy dự báo sinh non sẽ 
cao hơn ở nhóm dân số có tiền sử sinh non trước 
đây, độ nhạy tăng đến 70% và cao nhất ở nhóm 
sản phụ sinh non sớm và/hoặc sinh non nhiều lần.
Ngoài ra, việc điều trị với progesterone có hiệu 
quả giảm nguy cơ sinh non ở những thai phụ có 
chiều dài cổ tử cung ngắn. Một nghiên cứu có cỡ 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/4/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
19/5/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 16/6/2017
1. Giới thiệu
Chiều dài cổ tử cung ngắn là một trong những triệu chứng đầu tiên của 
cuộc chuyển dạ, có thể xảy ra trước khi chuyển dạ thực sự một vài tuần. 
Nguyên nhân dẫn đến chiều dài cổ tử cung ngắn hiện nay vẫn chưa rõ, 
có thể do hoạt động thầm lặng của cơ tử cung, bất thường cổ tử cung bẩm 
sinh hay mắc phải, chảy máu dưới màng rụng, viêm, nhiễm trùng hoặc do 
các biến đổi sinh học. Chiều dài cổ tử cung ngắn ở quý hai thai kỳ là một 
dấu hiệu có thể dự báo sinh non tự nhiên do sự xóa mở cổ tử cung thường 
bắt đầu ở lỗ trong cổ tử cung và dấu hiệu này chỉ có thể phát hiện trên siêu 
âm trước khi được đánh giá trên lâm sàng.
Những trường hợp được chẩn đoán chiều dài cổ tử cung ngắn và điều 
trị với progesterone âm đạo có thể giảm tần suất sinh non khoảng 35% và 
giảm tỷ lệ bệnh nặng, tử vong trẻ sơ sinh vào khoảng 40%. Liều progesteron 
đường âm đạo từ 90-200mg mỗi ngày và được khuyến cáo sử dụng cho 
đến tuần thứ 36 thai kỳ.
Chiều dài cổ tử cung không bị ảnh hưởng bởi số lần mang thai, chủng 
tộc hay chiều cao của sản phụ. Bình thường, chiều dài cổ tử cung ổn định 
từ tuần 14 đến tuần 28 của thai kỳ và giống một đường cong. Với những 
thai kỳ đơn thai từ tuần 22- 24 tuần, bách phân vị chiều dài cổ tử cung 
được chia thành năm mức sau:
(1) 15 mm - bách phân vị thứ hai
(2) 20 mm – bách phân vị thứ 5
(3) 25 mm – bách phân vị thứ 10
(4) 35 mm – bách phân vị thứ 50
(5) 45 mm – bách phân vị thứ 90
Với những thai kỳ đơn thai 20 tuần không có tiền sử sinh non tự nhiên, 
bách phân vị chiều dài cổ tử cung được phân loại:
(1) 15 mm – bách phân vị 0.5 
(2) 20 mm – bách phân vị 1 
(3) 25 mm – bách phân vị 2-3
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
mẫu lớn hơn cũng ghi nhận rằng việc sàng lọc 
chiều dài cổ tử cung cho tất cả các sản phụ có 
ý nghĩa trong việc giảm tỷ lệ sinh non trước tuần 
37 (6,7 so với nhóm chứng 6,0, OR 0,82, 95% CI 
),76-0,88); trước tuần 34 (1,9 so với nhóm chứng 
1,7, OR 0,74, 95% CI 0,64-0,85) và trước tuần 
32 (1,1 so với nhóm chứng 1,0; OR 0,74 [95% CI 
0.62-0.90]) và chủ yếu là giảm tỷ lệ sinh non tự 
phát. Nếu chỉ sàng lọc chiều dài cổ tử cung trên 
nhóm có yếu tố nguy cơ sinh non trước đó có thể 
sẽ bỏ sót 40% những trường hợp có chiều dài cổ tử 
cung ngắn và vì vậy sẽ đưa tới nguy cơ sinh non ở 
nhóm sản phụ này. 
3.2. Cách tiếp cận lâm sàng
Sơ đồ sau tóm tắt cách tiếp cận đo chiều dài 
cổ tử cung qua âm đạo để giảm nguy cơ sinh non 
tự phát ở những thai phụ đơn thai không có triệu 
chứng (Sơ đồ 1). 
Ngoài ra, có cách tiếp cận khác là đo chiều 
dài cổ tử cung qua đường bụng trong quý hai thai 
kỳ ở nhóm thai phụ có nguy cơ sinh non thấp. Với 
những trường hợp nghi ngờ cổ tử cung ngắn hoặc 
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(01), 14 - 21, 2017
1716
Tậ
p 
15
, s
ố 
01
Th
án
g 
07
-2
01
7 Tập 15, số 01
Tháng 07-2017
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Sơ đồ 1
không quan sát thấy sẽ chuyển sang siêu âm kiểm 
tra đường âm đạo
- Với những thai phụ đơn thai, không có tiền 
căn sinh non: sàng lọc đo chiều dài cổ tử cung ở 
tuần thai 18-24, đo một lần, chiều dài cổ tử cung 
ngắn khi ≤ 25mm. Tỷ lệ phát hiện chỉ vào khoảng 
1%, tỷ lệ này có tăng nhẹ ở nhóm mang thai con 
so so với nhóm mang thai con rạ không có tiền căn 
sinh non. Vì tỷ lệ sanh non < 37 tuần, <34 tuần 
và <32 tuần ở những thai phụ có cổ tử cung ngắn 
tương tự nhau ở cả hai nhóm con so và con rạ. 
Những thai phụ có chiều dài cổ tử cung ngắn sẽ 
điều trị bằng progesterone âm đạo.
Việc sử dụng vòng nâng cổ tử cung để điều 
trị những trường hợp chiều dài cổ tử cung ngắn 
đã được xem là một phương pháp hiệu quả, ít tốn 
kém, dể áp dụng để kéo dài thời kỳ thai nghén, tuy 
nhiên chưa có nghiên cứu đầy đủ về hiệu quả sử 
dụng vòng nâng cổ tử cung.
Khâu eo cổ tử cung không có hiệu quả đối với 
những thai phụ có chiều dài cổ tử cung ngắn không 
có tiền sử sinh non. Trong một phân tích tổng quan 
hệ thống dựa trên bốn nghiên cứu ngẫu nhiên lớn, 
khâu eo tử cung ở những thai phụ có chiều dài cổ 
tử cung ngắn không có tiền sử sinh non không có ý 
nghĩa trong việc giảm tỷ lệ sinh non trước 35 tuần ( 
21% so với 31 % ở nhóm không khâu eo, RR 0.84, 
95% CI 0.60-1.17) [10].
- Với những thai phụ đơn thai, có tiền sử sinh 
non: những trường hợp này có nguy cơ cao bị lập 
lại ở những lần mang thai tiếp theo và nên được 
điều trị với progesterone. Cần có nhiều nghiên cứu 
sâu hơn để xác định chiều dài cổ tử cung bao nhiêu 
là hữu ích trong dự báo sinh non ở nhóm sản phụ 
có tiền căn sinh non, và số lần sinh non. Với nhóm 
sản phụ này, một số tác giả bắt đầu tiến hành đo 
chiều dài cổ tử cung từ tuần 14-16 tuần và hàng 
loạt các cuộc kiểm tra sau đó. Với nhóm có chiều 
dài cổ tử cung ngắn ≤ 25 mm và tiền sử sinh non 
trước đây, khâu eo tử cung giúp giảm tần suất sinh 
non tái phát. Những tổng quan phân tích so sánh 
gián tiếp gợi ý rằng điều trị progesterone âm đạo 
hàng ngày là liệu pháp thay thế hợp lý cho sự kết 
hợp khâu eo và hydroxyprogesterone capsro [47].
- Với những thai phụ đơn thai, không có tiền 
sử sinh non, nhưng có yếu tố nguy cơ sinh non: 
Với những trường hợp này, chỉ đo chiều dài cổ tử 
cung duy nhất ở tuần 18-24 tuần và điều trị với 
những trường hợp cổ tử cung ngắn ≤ 25 mm bằng 
progesterone âm đạo, tương tự như cách tiếp cận 
những trường hợp không có tiền căn sinh non 
3.3. Hướng dẫn từ những tổ chức quốc tế
- Hiệp hội y học mẹ - thai (SMFM): SMFM 
khuyến cáo nên kiểm tra chiều dài cổ tử cung 
thường quy bằng đường âm đạo vào tuần thai 16-
24 tuần ở những phụ nữ đơn thai và có tiền sử sinh 
non tự nhiên trước đây [48]. Những phụ nữ mang 
đơn thai, không có tiền căn sinh non tự phát có 
thể cân nhắc việc sàng lọc hợp lý nhưng SMFM 
chưa đề nghị sàng lọc thường quy. SMFM đồng 
thời cũng đề nghị không thực hiện kiểm tra thường 
quy chiều dài cổ tử cung với những sản phụ có 
khâu eo, đa thai, ối vỡ sớm và nhau tiền đạo [48].
- Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG): ACOG 
không đề cập đến việc sàng lọc đo chiều dài cổ tử 
cung thường quy ở những trường hợp không có tiền 
sử sinh non [49]. Tuy nhiên, những sản phụ nếu 
được siêu âm, nên đo chiều dài cổ tử cung nếu xét 
về mặt kỹ thuật có khả thi [50]. 
- Hiệp hội sản phụ khoa Canada (SOGC): 
Hướng dẫn lâm sàng của SOGC kết luận rằng 
đánh giá chiều dài cổ tử cung qua đường âm đạo 
thường quy không được chỉ định ở những sản phụ 
có nguy cơ thấp [51]
4. Kỹ thuật đo chiều dài cổ 
tử cung qua siêu âm
4.1. Thời điểm và tần suất
Dựa vào tiền sử sản khoa của bệnh nhân để xác 
định thời điểm và tần suất đo chiều dài cổ tử cung 
ở lần mang thai này
- Sản phụ không có tiền sử sinh non: chỉ cần 
đo chiều dài cổ tử cung 1lần vào thời điểm 18-24 
tuần [18]
- Sản phụ có tiền sử tiền sử sinh non trước đó, 
thường được sàng lọc lúc thai 16 tuần và tần suất 
lập lại phụ thuộc vào kết quả đo [30][52].
Có thể đo chiều dài cổ tử cung từ tuần 14 thai 
kỳ cho đến tuần 16-18 vì lúc này cổ tử cung có thể 
phân biệt với đoạn dưới tử cung [44]. Chiều dài cổ 
tử cung nếu đo trước 14 tuần thường ít có giá trị 
về mặt lâm sàng [44][53] dù vẫn có thể thực hiện 
trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như có tiền 
sử sẩy thai ở quý hai trong lần mang thai trước và/
hoặc có phẫu thuật cổ tử cung, cổ tử cung ngắn đã 
phát hiện từ tuần thai 10 đến 13 [44]. Sau tuần 
thai thứ 30, việc đo chiều dài cổ tử cung không có 
ích cho dự đoán sinh non vì về mặt sinh lý cổ tử 
cung bắt đầu rút ngắn vào giai đoạn này, ngay cả 
ở những sản phụ sinh đủ tháng.
Đo chiều dài cổ tử cung ở ngoài thời kỳ thai 
nghén không có ích trong dự đoán sinh non.
4.2. Siêu âm đo chiều dài cổ tử cung 
bằng đường âm đạo
Siêu âm đường âm đạo là phương pháp thường 
được sử dụng để đo chiều dài cổ tử cung vì cho kết 
quả đáng tin cậy hơn so với siêu âm đường bụng 
và có độ nhạy cao hơn trong dự đoán sinh non 
[55-62]. Tất cả các thử nghiệm ngẫu nhiên điều trị 
những trường hợp có cổ tử cung ngắn đều sử dụng 
siêu âm đường âm đạo để đo chiều dài cổ tử cung 
[12][31][52][63-67]. Tuy nhiên, siêu âm đường 
âm đạo phức tạp hơn so với siêu âm đường bụng. 
Hướng dẫn thực hành của Viện siêu âm trong Y 
Khoa tại Mỹ đề nghị những trường hợp siêu âm 
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(01), 14 - 21, 2017
1918
Tậ
p 
15
, s
ố 
01
Th
án
g 
07
-2
01
7 Tập 15, số 01
Tháng 07-2017
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
đường bụng thấy cổ tử cung ngắn hoặc không thấy 
rõ, có thể chuyển sang đường âm đạo để kiểm tra 
[68]. Nếu siêu âm đường bụng cho hình ảnh chiều 
dài cổ tử cung rõ ràng, có thể không cần phải siêu 
âm đường âm đạo kiểm tra lại [69].
Việc thực hiện siêu âm đường bụng thường có 
nhiều điểm hạn chế: 
(1) bàng quang cần phải căng, có thể làm mất 
đi hình ảnh kênh ở lỗ trong cổ tử cung
(2) các phần thai có thể làm mờ cổ tử cung, 
nhất là sau tuần 20
(3) khoảng cách từ đầu dò đến cổ tử cung có 
thể làm giảm chất lượng hình ảnh
(4) béo phì và áp lực tay của người siêu âm có 
thể ảnh hường đến hình ảnh chẩn đoán.
4.3. Kỹ thuật
Những bước cơ bản để siêu âm đo chiều dài cổ 
tử cung bằng đường âm đạo
- Bệnh nhân nên đi tiểu để làm trống bàng 
quang trước khi kiểm tra
- Bôi gel trên đầu dò trước khi sử dụng bao 
cao su bọc lại (hoặc có thể sử dụng bọc đầu dò 
chuyên dụng), sau đó cho thêm gel lên đỉnh đầu 
dò trước kiểm tra. Nếu ối đã vỡ, gel và bọc đầu 
dò phải vô trùng.
- Đầu dò được đưa nhẹ vào túi cùng trước cho 
đến khi quan sát thấy cổ tử cung, tránh dùng lực 
quá mạnh đè quá mức vào mép trước cổ tử cung. 
Hình ảnh cổ tử cung phóng lớn sao cho chiếm ít 
nhất một nửa màn hình và hướng đầu dò sao cho 
đáy tử cung hướng về bên trái màn hình. Nên chú 
ý đến màng ối ở bên trong hay xuống sâu trong 
kênh tử cung.
- Đánh giá lỗ trong cổ tử cung, nước ối ngay 
phần thấp nhất và xác định lỗ trong cổ tử cung ở 
phần mép dưới thấp nhất của bàng quang
- Đo chiều dài cổ tử cung ở mặt cắt dọc giữa, 
lỗ trong cổ tử cung tạo dấu chữ V, nội mạc kênh 
cổ tử cung và lỗ ngoài sẽ tạo thành hình tam 
giác tăng âm hoặc giảm âm ở giữa để đo chiều 
dài cổ tử cung. Dùng lực quá mạnh đè lên cổ 
tử cung có thể làm tăng giả tạo chiều dài cổ tử 
cung. Để tránh hiện tượng này, khi đã rõ thấy 
hình ảnh cổ tử cung, có thể đưa đầu dò lùi nhẹ 
cho đến khi hình siêu âm bắt đầu hơi mờ, đẩy 
vào lại vừa đủ để khôi phục hình ảnh của chiều 
dài cổ tử cung.
- Chiều dài cổ tử cung được xác định đo theo 
chiều dài của niêm mạc cổ tử cung (phần cổ tử 
cung khép kín). Con trỏ thường được đặt ở vị trí 
nối lỗ trong và lỗ ngoài cổ tử cung. Nếu lỗ trong 
cổ tử cung mở, chiều dài cổ tử cung được tính tử 
chóp kênh cổ tử cung cho đến lỗ ngoài. Quan sát 
rõ lỗ trong và lỗ ngoài cổ tử cung, thành trước và 
thành sau cổ tử cung có độ dày tương đương nhau. 
Nếu độ dày thành trước và thành sau không tương 
đương nhau (thành trước mỏng và thành sau dày), 
thường do đầu dò đè quá mức.
- Một số trường hợp, chiều dài cổ tử cung cong, 
đo chiều dài cổ tử cung có thể tiến hành theo một 
trong hai cách
+ Đo từ lỗ trong đến lỗ ngoài cổ tử cung
+ Cộng tổng hai đường được chia bởi góc cong 
của cổ tử cung nếu khoảng cách từ góc đến đường 
thẳng nối lỗ trong và lỗ ngoài > 5 mm. Cách này 
có cho kết quả chính xác hơn
Tránh vẽ theo đường cong kênh cổ tử cung vì 
như vậy sẽ rất khó cho các nhà lâm sàng chẩn 
đoán dựa vào cách đo này. Cổ tử cung cong 
thường xuất hiện ở những trường hợp cổ tử cung 
dài có nguy sinh non thấp, trong khi đó ngược lại 
cổ tử cung ngắn thường thẳng
- Nên thực hiện ba lần đo thỏa mãn các tiêu 
chuẩn và sai lệch không quá 10%, sẽ lấy quả chiều 
dài cổ tử cung ở lần đo ngắn nhất là giá trị tốt nhất 
để dự báo. 
- Áp lực của ổ bụng có thể tác động lên tử cung 
trong vòng 15 giây có thể ảnh hưởng đến kết quả 
đo chiều dài cổ tử cung (chiều dài cổ tử cung ngắn 
có thể chuyển thành bình thường). Vì vậy, toàn bộ 
Hình 1. 
quá trình kiểm tra chiều dài cổ tử cung phải kéo 
dài ít nhất trong vòng năm phút và để quan sát 
chiều dài cổ tử cung thay đổi theo áp lực của ổ 
bụng. Nếu chiều dài cổ tử cung ngắn hoặc ngắn 
hơn khi bị tác động áp lực của ổ bụng, nên đo ba 
lần chiều dài của phần khép kín còn lại của cổ tử 
cung, chiều dài ngắn nhất được đánh giá là chiều 
dài thực sự của cổ tử cung. 
4.4. Những sai sót khi đo chiều dài cổ 
tử cung
Những sai sót sau đây có thể ảnh hưởng đến 
kết quả đo chiều dài cổ tử cung:
- Đè đầu dò quá mức lên cổ tử cung trong quá 
trình siêu âm là lỗi thường gặp nhất khi làm siêu 
âm đường âm đạo. Điều này dẫn đến chiều dài cổ 
tử cung dài hơn so với chiều dài thực sự. Như đã 
nói ở trên, điều chỉnh lại lực ép lên cổ tử cung vừa 
đủ, độ dày thành trước và thành sau cổ tử cung nên 
tương đương nhau
- Thực hiện siêu âm quá nhanh, không đủ thời 
gian quan sát sự thay đổi của cổ tử cung theo áp 
lực của ổ bụng. Việc đo chiều dài cổ tử cung quá 
nhanh, có thể làm cho kết quả đo không được chính 
xác. Nên thực hiện đo chiều dài cổ tử cung ít nhất 
là 5 phút để quan sát sự thay đổi của cổ tử cung.
- Cơn go tử cung: Cơn go tử cung xuất hiện 
trong suốt quá trình siêu âm có thể tạo những áp 
lực giả lên cổ tử cung. Vì vây, nếu siêu âm không 
thấy rõ lỗ trong cổ tử cung và có cơn go tử cung, 
các nhà siêu âm nên đợi kết thúc cơn go rồi tiến 
hành siêu âm đo chiều dài cổ tử cung để có kết quả 
chính xác hơn.
- Thành lập đoạn dưới cổ tử cung: Như đã đề 
cập ở trên, trước 14 tuần, rất khó có thể phân biệt 
đoạn dưới tử cung và chiều dài thực sự cổ tử cung 
vì thai chưa làm tổ mở rộng đến toàn bộ tử cung. 
Nhau tiền đạo có thể gây ra vấn đề tương tự, làm 
tăng giả chiều dài cổ tử cung. Nếu đoạn dưới tử 
cung chưa thành lập, rất khó để định danh lỗ trong 
cổ tử cung thực sự và khi đo chiều dài cổ tử cung 
có thể sai lệch với cơ tử cung ở đoạn dưới. Nghi 
ngờ đo sai lệch khi chiều dài cổ tử cung đo được 
trên 50 mm.
- Tiền sử phẫu thuật cổ tử cung: Những trường 
hợp tiền sử có can thiệp có mổ tử cung trước đó có 
thể làm thay đổi hình dạng cổ tử cung, điều nay 
gây khó khăn cho việc đo chiều dài cổ tử cung
- Bong bóng khí: Những trường hợp có bóng 
khí lẫn với gel sẽ cho hình ảnh siêu âm kém.
4.5. Những phần khảo sát thêm 
Bên cạnh việc đo chiều dài cổ tử cung, cần chú 
ý thêm những vấn đề sau liên quan đến sinh non:
- Sự phân tách của màng ối và những phần 
echo tăng âm ở trong nước ối gần với lỗ trong cổ tử 
cung. Đây là dấu hiệu gợi ý tình trạng nhiễm trùng 
trên cận lâm sàng và tăng nguy cơ sinh non [72-
74]. Thành phần của echo tăng âm thường không 
rõ ràng, có thể là cục máu đông, phân su, những 
cặn lắng liên quan đến nhiễm trùng [75].
- Phễu cổ tử cung là phần màng ối sa vào kênh 
cổ tử cung. Cần xác định độ rộng và độ sâu của 
phễu so với chiều dài phần cổ tử cung còn đóng 
kín. Với những cổ tử cung có dấu hiệu xóa mở, 
phần thấp nhất của cổ tử cung và trục cổ tử cung 
có thể tạo ra những dạng cổ tử cung được mô tả 
cổ tử cung chữ “T”, chữ “Y” và chữ “V” và chữ 
“U”. Trong đó, cổ tử cung chữ “U” là dạng cổ tử 
Hình 2. 
Hình 3. 
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(01), 14 - 21, 2017
2120
Tậ
p 
15
, s
ố 
01
Th
án
g 
07
-2
01
7 Tập 15, số 01
Tháng 07-2017
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
cung đã xóa hoàn toàn và tăng nguy cơ sinh non 
cao nhất.
4.6. Chất lượng siêu âm
Siêu âm đường âm đạo nên được thực hiện 
theo các bước chuẩn mực đã trình bày ở trên để 
phép đo chiều dài cổ tử cung chính xác. Với điều 
kiện đã thực hiện kỹ thuật đo thích hợp, sai số dao 
động < 10 vị bách phân. Với các nhà lâm sàng, 
nên thực hiện ít nhất 20 lần đo chiều dài cổ tử 
cung có sự giám sát của người kinh nghiệm hơn 
trước khi thực hiện đó chiều dài cổ tử cung độ lập
5. Tóm tắt và khuyến cáo
- Chiều dài cổ tử cung ngắn dần sau tuần thai 
28-32 tuần là điều bình thường. Tuy nhiên, chiều 
dài cổ tử cung ngắn ở quý hai thai kỳ là yếu tố dự 
báo sinh non, nguy cơ sinh non tăng khi độ dài cổ 
tử cung giảm.
- Khuyến cáo nên siêu âm thường quy đường 
âm đạo đo chiều dài cổ tử cung ở những trường 
hợp mang thai đơn thai có chiều dài cổ tử cung 
ngắn (mức 2C), để có những can thiệp thích hợp 
giảm nguy cơ sinh non.
- Khuyến cáo nên siêu âm đường âm đạo để 
đo chiều dài cổ tử cung. Tuy nhiên, với những 
bệnh nhân siêu âm đường bụng có chiều dài 
cổ tử cung > 20 mm, có thể không cần siêu âm 
đường âm đạo.
- Chẩn đoán chiều dài cổ tử cung ngắn khi 
chiều dài đo được ≤ 25 mm ở tuần thai 16-24 tuần
- Những trường hợp đa thai, đo chiều dài cổ tử 
cung không phải là test sàng lọc có độ nhạy để dự 
báo sinh non, và không can thiệp nào được chứng 
minh có hiệu quả ở những trường hợp đa thai siêu 
âm có chiều dài cổ tử cung ngắn để dự phòng sinh 
non ( mức 2C). Với những lí do này, khuyến cáo 
không nên siêu âm đo chiều dài cổ tử cung ở nhóm 
bệnh này (mức 2C)
- Chiều dài cổ tử cung nên đo phần khép kín giữa 
lỗ ngoài và lỗ trong cổ tử cung. Hình ảnh được xác 
định bởi phần dưới bàng quang đã được làm rỗng, 
nhìn rõ lỗ trong và lỗ ngoài cổ tử cung, độ dày thành 
trước và thành sau cổ tử cung tương đương nhau.
- Với những sản phụ mang thai đơn thai, không 
có tiền sử sinh non, chiều dài cổ tử cung ≤ 25 mm, 
đề nghị nên điều trị progesterone âm đạo (mức 
2C). Khâu eo cổ tử cung không sử dụng để dự 
phòng sinh non ở nhóm sản phụ này. Lợi ích vòng 
nâng cổ tử cung chưa được nghiên cứu đầy đủ.
- Với những sản phụ có tiền sử sinh non sẩy 
thai chiều dài cổ tử cung ≤25 mm nên đề nghị điều 
trị với progesterone và hỗ trợ khâu eo trong trong 
trường hợp xác định có chiều dài cổ tử cung ngắn.
Tài liệu tham khảo
1. Iams JD, Goldenberg RL, Meis PJ, et al. The length of the cervix and 
the risk of spontaneous premature delivery. National Institute of Child 
Health and Human Development Maternal Fetal Medicine Unit Network. N 
Engl J Med 1996; 334:567.
2. Taipale P, Hiilesmaa V. Sonographic measurement of uterine cervix at 
18-22 weeks’ gestation and the risk of preterm delivery. Obstet Gynecol 
1998; 92:902.
3. Hibbard JU, Tart M, Moawad AH. Cervical length at 16-22 weeks’ 
gestation and risk for preterm delivery. Obstet Gynecol 2000; 96:972.
4. Heath VC, Southall TR, Souka AP, et al. Cervical length at 23 weeks of 
gestation: prediction of spontaneous preterm delivery. Ultrasound Obstet 
Gynecol 1998; 12:312.
10. Berghella V, Odibo AO, To MS, et al. Cerclage for short cervix on 
ultrasonography: meta-analysis of trials using individual patient-level data. 
Obstet Gynecol 2005; 106:181.
19. Moroz LA, Simhan HN. Rate of sonographic cervical shortening and the 
risk of spontaneous preterm birth. Am J Obstet Gynecol 2012; 206:234.e1.
20. Iams JD, Cebrik D, Lynch C, et al. The rate of cervical change and 
the phenotype of spontaneous preterm birth. Am J Obstet Gynecol 2011; 
205:130.e1.
21. Fox NS, Rebarber A, Klauser CK, et al. Prediction of spontaneous 
preterm birth in asymptomatic twin pregnancies using the change in 
cervical length over time. Am J Obstet Gynecol 2010; 202:155.e1.
22. Iams JD, Johnson FF, Sonek J, et al. Cervical competence as a 
continuum: a study of ultrasonographic cervical length and obstetric 
performance. Am J Obstet Gynecol 1995; 172:1097.
23. Berghella V, Kuhlman K, Weiner S, et al. Cervical funneling: 
sonographic criteria predictive of preterm delivery. Ultrasound Obstet 
Gynecol 1997; 10:161.
24. Hassan SS, Romero R, Berry SM, et al. Patients with an 
ultrasonographic cervical length < or =15 mm have nearly a 50% risk of 
early spontaneous preterm delivery. Am J Obstet Gynecol 2000; 182:1458.
25. Rust OA, Atlas RO, Kimmel S, et al. Does the presence of a funnel 
increase the risk of adverse perinatal outcome in a patient with a short 
cervix? Am J Obstet Gynecol 2005; 192:1060.
26. Crane JM, Hutchens D. Transvaginal sonographic measurement 
of cervical length to predict preterm birth in asymptomatic women at 
increased risk: a systematic review. Ultrasound Obstet Gynecol 2008; 
31:579.
27. Goldenberg RL, Iams JD, Mercer BM, et al. The preterm prediction 
study: the value of new vs standard risk factors in predicting early and all 
spontaneous preterm births. NICHD MFMU Network. Am J Public Health 
1998; 88:233.
28. Vaisbuch E, Romero R, Mazaki-Tovi S, et al. The risk of impending 
preterm delivery in asymptomatic patients with a nonmeasurable cervical 
length in the second trimester. Am J Obstet Gynecol 2010; 203:446.e1.
31. Hassan SS, Romero R, Vidyadhari D, et al. Vaginal progesterone 
reduces the rate of preterm birth in women with a sonographic short 
cervix: a multicenter, randomized, double-blind, placebo-controlled trial. 
Ultrasound Obstet Gynecol 2011; 38:18.
48. Society for Maternal-Fetal Medicine (SMFM). Electronic address: 
[email protected], McIntosh J, Feltovich H, et al. The role of routine 
cervical length screening in selected high- and low-risk women for preterm 
birth prevention. Am J Obstet Gynecol 2016; 215:B2.
49. Committee on Practice Bulletins—Obstetrics, The American College 
of Obstetricians and Gynecologists. Practice bulletin no. 130: prediction 
and prevention of preterm birth. Obstet Gynecol 2012; 120:964.
50. Practice Bulletin No. 175: Ultrasound in Pregnancy. Obstet Gynecol 
2016; 128:e241.
51. Lim K, Butt K, Crane JM. SOGC Clinical Practice Guideline. 
Ultrasonographic cervical length assessment in predicting preterm birth in 
singleton pregnancies. J Obstet Gynaecol Can 2011; 33:486.
52. Owen J, Hankins G, Iams JD, et al. Multicenter randomized trial of 
cerclage for preterm birth prevention in high-risk women with shortened 
midtrimester cervical length. Am J Obstet Gynecol 2009; 201:375.e1.
62. Berghella V, Bega G, Tolosa JE, Berghella M. Ultrasound assessment 
of the cervix. Clin Obstet Gynecol 2003; 46:947.
72. Kusanovic JP, Espinoza J, Romero R, et al. Clinical significance of 
the presence of amniotic fluid ‘sludge’ in asymptomatic patients at high 
risk for spontaneous preterm delivery. Ultrasound Obstet Gynecol 2007; 
30:706.
73. Bujold E, Pasquier JC, Simoneau J, et al. Intra-amniotic sludge, 
short cervix, and risk of preterm delivery. J Obstet Gynaecol Can 
2006; 28:198.
74. Boyer A, Cameron L, Munoz-Maldonado Y, et al. Clinical significance 
of amniotic fluid sludge in twin pregnancies with a short cervical length. 
Am J Obstet Gynecol 2014; 211:506.e1.
75. Romero R, Schaudinn C, Kusanovic JP, et al. Detection of a microbial 
biofilm in intraamniotic infection. Am J Obstet Gynecol 2008; 198:135.e1.

File đính kèm:

  • pdfdo_chieu_dai_co_tu_cung_qua_sieu_am_trong_du_bao_doa_sinh_no.pdf