Điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp đốt điện gây tắc động mạch tử cung qua nội soi

mục tiêu: Trình bày phương pháp tắc động mạch

tử cung qua nội soi và đánh giá một số ưu, nhược

điểm của phương pháp này.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô

tả can thiệp phương pháp đốt gây tắc động mạch tử

cung qua nội soi.

Kết quả: Có 9 trường hợp u xơ tử cung được phẫu

thuật và theo dõi, 100% (9/9) trường hợp diễn ra

thuận lợi, thời gian trung bình phẫu thuật 25,11phút,

thời gian phục hồi sức khỏe trung bình 8 giờ, thời gian

nằm viện trung bình 5,6 ngày, tỷ lệ khỏi bệnh theo dỏi

thời gian 6 tháng 88,88%(8/9) trường hợp, không có

biến chứng nào xảy ra với bệnh nhân.

Kết luận: Phương pháp tắc động mạch tử

cung qua nội soi trong điều trị u xơ tử cung là một

phương pháp mới được nghiên cứu và ứng dụng

bước đầu thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt

Nam – CuBa Đồng Hới – Quảng Bình – Việt Nam.

Với nghiên cứu này làm phong phú thêm một

phương pháp mới điều trị u xơ tử cung có hiệu quả

qua nội soi

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp đốt điện gây tắc động mạch tử cung qua nội soi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp đốt điện gây tắc động mạch tử cung qua nội soi

Điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp đốt điện gây tắc động mạch tử cung qua nội soi
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
147
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 147 - 151, 2013
ĐIỀU TRỊ U XƠ TỬ CUNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỐT 
ĐIỆN GÂY TẮC ĐỘNG MẠCH TỬ CUNG QUA NỘI SOI
phan Xuân Khôi, hoàng nữ phú Xuân
Bệnh viện Việt Nam - CuBa, Đồng Hới, Quảng Bình
tóm tắt
mục tiêu: Trình bày phương pháp tắc động mạch 
tử cung qua nội soi và đánh giá một số ưu, nhược 
điểm của phương pháp này.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô 
tả can thiệp phương pháp đốt gây tắc động mạch tử 
cung qua nội soi. 
Kết quả: Có 9 trường hợp u xơ tử cung được phẫu 
thuật và theo dõi, 100% (9/9) trường hợp diễn ra 
thuận lợi, thời gian trung bình phẫu thuật 25,11phút, 
thời gian phục hồi sức khỏe trung bình 8 giờ, thời gian 
nằm viện trung bình 5,6 ngày, tỷ lệ khỏi bệnh theo dỏi 
thời gian 6 tháng 88,88%(8/9) trường hợp, không có 
biến chứng nào xảy ra với bệnh nhân.
Kết luận: Phương pháp tắc động mạch tử 
cung qua nội soi trong điều trị u xơ tử cung là một 
phương pháp mới được nghiên cứu và ứng dụng 
bước đầu thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt 
Nam – CuBa Đồng Hới – Quảng Bình – Việt Nam. 
Với nghiên cứu này làm phong phú thêm một 
phương pháp mới điều trị u xơ tử cung có hiệu quả 
qua nội soi.
từ khóa: Nội soi, u xơ tử cung, tắc động mạch. 
SummARy
TreamenT For Fibroleiomyoma by endoscoPic 
arTery cauTeriZaTion
Objectives: Summarize the method of 
Uterine Artery cauterization by endoscopy and its 
advantages and disadvantages.
Study method: Describe the method of Uterine 
Artery cauterization by using the technique of 
endoscopic surgery.
 Results: In 9 cases, the patients having Uterine 
Artery cauterization was operated and followed. One 
hundred percent (9/9) of cases were successful, the 
average 25,11 minutes, the recovery duration was 
approximately 8 hours, the average in-hospital time 
was 5,6 days, the percentage of success with patients 
being following over 6 months was 88.88% (8/9), 
there were no further complications.
Conclusion: The method of Endoscopic Uterine 
Artery cauterization is the new method which is studied 
and applied successfully in Vietnam - Cuba Friendship 
Hospital, Quang Binh, Vietnam. This method is a new and 
useful way to treat Fibroleiomyoma.
Keywords: Endoscopy, Fibroleiomyoma, artery 
cauterization.
i. Đặt vấn Đề
U xơ tử cung là loại u thường gặp nhất, tỷ lệ 
khoảng 20 -77% gặp ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và tỷ 
lệ cũng khác nhau ở các chủng tộc khác nhau phụ 
nữ da đen nhiều hơn da trắng, châu Á, châu Mỹ 
Latinh[1,2]. Bệnh lý u xơ có thể gây cường kinh, 
rong kinh, đau bụng, sẩy thai và nó có thể xem 
như một vật lạ nằm trong tử cung ảnh hưởng đến 
sự làm tổ của phôi. Ngoài ra, triệu chứng thường 
gặp ở u xơ tử cung đưa đến chỉ định phẩu thuật 
là chèn ép: triệu chứng chèn ép bàng quang, trực 
tràng hoặc u xơ nằm trong dây chằng rộng chèn ép 
niệu quản. Ngày nay có nhiều phương pháp điều 
trị u xơ tử cung: phương pháp điều trị nội khoa, 
phương pháp thực hiện dưới X quang làm tắc 
nghẽn động mạch tử cung, phương pháp ngoại 
khoa mổ bóc nhân xơ, cắt tử cung[2]. Mỗi phương 
pháp điều trị đều có những ưu điểm riêng nhưng 
cũng có những hạn chế nhất định và có những chỉ 
định phù hợp với những bệnh cảnh khác nhau. 
Phương pháp tắc nghẽn động mạch tử cung 
(Uterine Artery Embolisation – UAE) trên thế giới 
đã áp dụng từ thập niên 90 và nước ta một số Bệnh 
viện áp dụng từ năm 2000[1,2,3,4]. Phương pháp 
này đã khẳng định tính ưu việt trong điều trị u xơ tử 
cung, tuy nhiên kỹ thuật này đòi hỏi những thiết bị 
chuyên khoa mạch máu và X quang tăng sáng hiện 
đại chi phí đắt tiền. Từ ưu thế về nguyên lý làm tắc 
nghẽn mạch trong điều trị u xơ tử cung đó, chúng 
tôi đã tiến hành nghiên cứu từ năm 2010 với đề tài: 
điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp tắc động 
mạch tử cung qua nội soi.
 phan XuÂn Khôi, hoàng nữ phú XuÂnBÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
148
mục Tiêu:
Trình bày phương pháp đốt điện gây tắc động 
mạch tử cung qua nội soi và đánh giá một số ưu, 
nhược điểm của phương pháp này.
ii. Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
2.1. Đối Tượng nghiên cứu
Với 09 trường hợp được phẫu thuật và đủ các tiêu 
chuẩn lựa chọn tiến hành từ tháng 01-2010 đến 01-
2011 và được theo dõi siêu âm 1- 2 tháng / lần thời 
gian trên 12 tháng.
tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu
Bệnh nhân u xơ tử cung có chỉ định điều trị được 
giải thích và đồng ý áp dụng phương pháp tắc động 
mạch tử cung qua nội soi.
tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân đang còn nguyện vọng sinh đẻ
- Bệnh nhân không đồng ý với phương pháp 
mới này.
- Có các bệnh viêm dính tiểu khung cấp, mãn tính 
nặng, ung thư và tổn thương theo dõi ung thư tử 
cung, cổ tử cung.
- Các bệnh lý khác đang diễn biến nặng không có 
chỉ định phẫu thuật nội soi.
2.2. Phương PháP nghiên cứu
Mô tả tiến cứu phương pháp tắc động mạch tử 
cung qua nội soi.
2.3. Phương Tiện và Kỹ ThuậT Tiến hành
Phương tiện trang thiết bị
- Bộ phẫu thuật nội soi cơ bản đã được trang bị ở 
các phòng mổ. 
Kỹ thuật phẫu thuật áp dụng tắc động mạch tử 
cung qua nội soi ở các vị trí Tsirulnikov đã áp dụng:
- Chuẩn bị bệnh nhân : bệnh nhân được gây 
mê nội khí quản, sát trùng thành bụng
- Đặt 3 trocars: 1trocar ở rốn mang kính soi, 1 
trocar ở hố chậu phải, 1 trocar ở hố chậu trái.
 - Kỹ thuật tiến hành: Đặt trocar thứ nhất ở 
rốn, sau khi bơm hơi vào ổ bụng kiểm tra ổ bụng 
nếu đủ điều kiện phẫu thuật, đặt tiếp hai trocars 
tiếp theo ở hai hố chậu, cho bệnh nhân tư thế 
đầu thấp, đẩy ruột lên trên. Bộc lộ tử cung phần 
phụ, dây chằng rộng bên phải, mở thủng dây 
chằng rộng khoảng 1cm sát gần eo tử cung(vị 
trí phúc mạc bàng quang tử cung), bóc tách 
nhẹ nhàng, kiểm tra động mạch tử cung, dùng 
dao điện lưỡng cực đốt động mạch tử cung vị 
trí động mạch tử cung sát nếp phúc mạc eo 
tử cung(vị trí 1). Nếu khối u xơ ở vùng thân eo 
tiếp tục tắc động mạch tử cung vị trí cao hơn 
sát góc dây chằng tròn(vị trí 2). Nếu khối u xơ 
vùng đáy vị trí tắc động mạch tử cung là hai vị 
trí 1và 3.Tiếp tục tiến hành tắc động mạch tử 
cung bằng đốt điện động mạch tử cung bên đối 
diện. Nếu tử cung chưa biến đổi màu sau tắc 
động mạch tử cung cần kiểm tra lại các vị trí 
tắc động mạch. Kiểm tra ổ bụng sau thủ thuật 
an toàn, rút các troar khỏi thành bụng, kết thúc 
phẫu thuật. 
iii. Kết quả nghiên Cứu
3.1. Độ Tuổi của Đối Tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. phân theo độ tuổi
3.2. số lần sinh của Đối Tượng nghiên cứu
Bảng 3.2. Số lần sinh
3.3 Phân loại u xơ Tử cung
Bảng 3.3 phân loại u xơ tử cung
3.4 Kích Thước Khối u xơ
 4 
 Vị trí đốt gây tắc động mạch qua nội soi Vị trí đốt điện gây tắc động 
mạch qua nội soi 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 3.1. Phân theo độ tuổi 
Độ tuổi N Tỷ lệ (%) 
≤39 03 33,33 
40-49 03 33,33 
50-59 03 33,33 
 Tổng 09 100% 
3.2. Số lần sinh của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 3.2. Số lần sinh 
Số lần sinh N Tỷ lệ (%) 
=2 03 33,33 
3- 4 06 66,66 
≥5 00 0,00 
Tổng 9 100 (%) 
Vị trí đốt gây tắc động mạch qua nội soi Vị trí đốt điện gây tắc động mạch qua nội soi
Độ tuổi n Tỷ lệ (%)
≤39 03 33,33
40-49 03 33,33
50-59 03 33,33
Tổng 09 100%
Số lần sinh n Tỷ lệ (%)
=2 03 3 ,3
3- 4 06 6 ,6
≥5 00 0,00
Tổng 9 100 (%)
 phân loại u xơ tử cung n Tỷ lệ (%)
u xơ dưới phúc mạc 03 33,33
u xơ kẽ 02 22,22
u dưới niêm mạc 04 44,44
u xơ vị trí khác 00 0,00
Tổng 09 100%
Bảng 3.9 Thời gian nằm viện
3.10 u xơ Teo nhỏ hoàn Toàn(biến mấT) sau Thời 
gian Điều Trị 
Bảng 3.10 Thời gian u xơ teo nhỏ hoàn toàn
iv. Bàn luận
4.1 Phân Tích nhóm Tuổi Được nghiên cứu
Bảng 3.1. Trong tổng số 9 trường hợp với ba nhóm 
tuổi nghiên cứu có một tỷ lệ tương đương nhau 
3/9(33,33). Đây là một tỷ lệ trùng hợp ngẩu nhiên 
không có lựa chọn, bệnh nhân đồng ý với phương pháp 
tắc động mạch tử cung qua nội soi và không có nguyện 
vọng sinh thêm con. Bệnh lý u xơ tử cung thường gặp 
trong độ tuổi thời kỳ hoạt động tình dục do cường 
estrogen kích thích tổng hợp protein ở tử cung làm 
tăng actomyosin gây quá sản tế bào, tần suất khoảng 
20% ở tuổi trên 35 và khoảng 3% ở độ tuổi 20[1,4].
4.2 Phân Tích số lần sinh của Đối Tượng 
nghiên cứu
Bảng 3.2. Chỉ có 3/9 trường hợp có số lần sinh là 
02(33,33%) vì một số bệnh nhân không chấp nhận 
phương pháp này vì họ còn nguyện vọng muốn sinh đẻ 
và đề phòng rủi ro trong cuộc sống. Có 6/9 trường hợp có 
số lần sinh 3-4 (66,66%), như vậy khi họ có số con nhiều 
thì phương pháp này dễ được chấp nhận hơn, bởi khi 
tư vấn cho bệnh nhân áp dụng phương pháp tắc động 
mạch tử cung qua nội soi khả năng sinh đẻ chưa thể 
khẳng định bình thường, cũng giống như trong phương 
pháp nút mạch động mạch tử cung (Uterine Artery 
Embolization-UAE) bảo tồn tử cung nhưng chức năng 
sinh sản vẫn đang còn bàn cãi như có thể gây vô kinh sau 
thủ thuật[1,2,4]... Vì vậy tỷ lệ bệnh nhân có số con đông 
dễ chấp nhận phương pháp này là hoàn toàn phù hợp. 
Còn những trường hợp còn nguyện vọng sinh đẻ thì bóc 
u xơ bảo tồn tử cung là hợp lý nhất[4].
Bảng 3.4 phân loại kích thước u xơ
3.5 Thời gian Phẫu ThuậT
Bảng 3.5 Thời gian phẫu thuật
3.6 màu sắc Tử cung sau ĐốT Điện gây Tắc Động 
mạch Tử cung.
Bảng 3.6 Màu sắc tử cung sau tắc động mạch tử cung
3.7 diễn biến sau Phẫu ThuậT
Bảng 3.7 Diễn biến sau phẫu thuật
3.8 Thời gian Phục hồi sức Khoẻ sau Phẫu ThuậT
Bảng 3.8 Thời gian phục hồi sức khỏe sau phẫu thuật
- Có 4/9 trường hợp phục hồi sức khỏe trong 
khoảng 06 giờ đầu (44,44%).
- Có 3/9 trường hợp phục hồi sức khỏe trong 
khoảng 08giờ đầu(33,33%).
3.9 Thời gian nằm viện
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
149
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 147 - 151, 2013
 Kích thước khối u n Tỷ lệ (%)
Khối u xơ ≤ 50mm 04 44,44
Khối u xơ 70mm 01 11,11
Khối u xơ 100mm 01 11,11
Đa nhân xơ tử cung 03 33,33
Tổng 09 100%
Thời gian (ngày) n Tỷ lệ (%)
≤5ngày 06 66,66
5-7ngày 02 22,22
>7ngày 01 11,11
Tổng 09 100 (%)
Trung bình 5,67 ngày
Thời gian (Tháng) n Tỷ lệ(%)
02 00 0,00
3- 4 03 33,33
5-6 04 44,44
7-8 01 11,11
 >12 01 11,11
 Tổng 09 100
Thời gian (phút) n Tỷ lệ(%)
15-20 04 44,44
21-30 04 44,44
40 01 11,11
Tổng 09 100(%)
Trung bình 25,11phút
Màu sắc tử cung n Tỷ lệ(%)
Màu tím 07 77,78
Màu hồng 02 22,22
Tổng 09 100(%)
 Diễn biến n Tỷ lệ
Sốt kéo dài 00 0,00
Mệt mỏi kéo dài 02 22,22
Đau hạ vị (nặng tức) 02 22,22
ra máu vẫn đục 05 55,55
Thoát u xơ ra âm đạo 00 00,00
Thời gian (giờ) n Tỷ lệ (%)
06 giờ 04 44,44
08 giờ 03 33,33
10 giờ 01 11,11
12 giờ 01 11,11
Tổng 09 100 (%)
Trung bình 08 giờ
 phan XuÂn Khôi, hoàng nữ phú XuÂnBÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
150
4.3 Phân Tích Phân loại u xơ Tử cung của Đối 
Tượng nghiên cứu
Bảng 3.3. Trong tổng số 9 trường hợp phẫu thuật có 
3/9 trường hợp u xơ dưới phúc mạc( 33,33%), các u xơ 
dưới phúc mạc có thể tích khối u trên 50% nằm trong cơ 
tử cung mới có chỉ định tắc động mạch tử cung, vì nếu 
thể tích khối u trên 50% nằm dưới phúc mạc thì sau khi 
phẫu thuật khối u có thể hoại tử sẽ rơi vào trong ổ phúc 
mạc gây viêm phúc mạc ổ bụng. Có 2/9 trường hợp u xơ 
kẽ(22,22%) chỉ định phẫu thuật rộng rãi trong u xơ kẽ vì 
không có biến chứng trên. Các trường hợp u kẽ khối u 
quá to gây chèn ép tiểu khung thì không có chỉ định tắc 
động mạch tử cung . Số trường hợp u xơ dưới niêm mạc có 
4/9 chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm nghiên cứu 44,44%, 
thường u xơ dưới niêm mạc nên bệnh nhân hay đến khám 
với rối loạn kinh nguyệt. Tuy nhiên chỉ định này chúng tôi 
cũng chỉ thực hiện khi mà thể tích khối u trên 50% nằm ở 
trong cơ tử cung, còn trường hợp trên 50% nằm dưới niêm 
mạc thì nằm ngoài chỉ định bởi một biến chứng thoát u 
xơ sau phẫu thuật có thể xẩy ra như trong biến chứng của 
phương pháp thuyên tắc động mạch tử cung. 
4.4 Phân Tích Kích Thước u xơ Tử cung của Đối 
Tượng nghiên cứu
Bảng 3.4. Đa số chúng tôi tiến hành phẫu thuật khối 
u có kích thước ≤ 50mm có 4/9 trường hợp và 3/9 trường 
hợp đa nhân xơ nhỏ. Chỉ có 1/9 trường hợp có kích thước 
70mm và 1/9 trường hợp có kích thước 100mm. Phương 
pháp tắc động mạch tử cung qua nội soi tử cung là một 
phẫu thuật vùng tiểu khung do vậy khi khối u quá lớn, 
dính hoặc khối u phát triển trong dây chằng rộng, khối 
u xơ dưới vùng eo cổ tử cung thường di lệch giải phẫu 
động mạch tử cung thì phẫu thuật này sẽ gặp phải khó 
khăn. Tuy nhiên phương pháp nút mạch động mạch tử 
cung thì không gặp khó khăn nhiều vì thủ thuật chỉ thực 
hiện ngoài ổ bụng qua hệ mạch máu như với khối u trên 
120mm vẫn thực hiện thuận lợi, tuy nhiên khối u xơ kích 
thước trên 100mm hiệu quả thấp hay tái phát [3,4,5].
4.5 Phân Tích Thời gian Phẫu ThuậT của Đối 
Tượng nghiên cứu
Bảng 3.5. Đa số thời gian phẫu thuật chúng tôi hoàn 
thành 30p đầu ( 90%) trong đó 4/9 trường hợp (44,44%) 
mất thời gian khoảng 15-20 phút và 4/9 trường hợp thời 
gian 21-30 phút chỉ có 1/9 trường hợp thời gian mất 
40phút do khối u lớn thời gian bọc lộ động mạch tử cung 
kéo dài, phẫu trường hẹp. Thời gian trung bình chúng tôi 
phẫu thuật mất khoảng 25,11phút. Nhưng phương pháp 
thuyên tắc động mạch tử cung thời gian kéo dài hơn 
trung bình khoảng 50-60 phút đây là một kỹ thuật cao sự 
chính xác khi luồn catheter vào động mạch tử cung. Thời 
gian hai phương pháp này có sự khác biệt nữa là phương 
pháp gây mê, trong PTNS gây mê nội khí quản để ổ bụng 
mềm cho phẫu thuật, trong phương pháp UAE chỉ cần gây 
tê tủy sống [1,3,4,5]. 
4.6 Phân Tích màu sắc Tử cung sau Tắc Động mạch 
Tử cung.
 Bảng 6.3 Trong 09 trường hợp ngay sau phẫu thuật 
tắc động mạch tử cung có 07 trường hợp tử cung biến đổi 
từ màu hồng sang màu tím, và có 02 trường hợp không 
biến đổi màu, đây là 02 trường hợp khối u xơ lớn 70mm và 
100mm. Qua nghiên cứu này, từ quá trình phẫu thuật đến 
theo dõi kết quả điều trị chúng tôi nhận thấy nếu khi phẫu 
thuật tắc động mạch tử cung qua nội soi thấy tử cung biến 
đổi màu tím ngay thì kết quả phẫu thuật tốt (07 trường 
hợp tử cung biến đổi sang màu tím thì u xơ biến mất hoàn 
toàn sau 06 tháng), còn 02 trường hợp u lớn không biến 
đổi màu sắc sau tắc động mạch thì khối u không teo nhỏ. 
Đây là một ưu thế hơn mà phương pháp UAE không thể 
đánh giá và tiên lượng kết quả điều trị như phương pháp 
nghiên cứu của chúng tôi được. 
4.7 Phân Tích diễn biến sau Phẫu ThuậT của Đối 
Tượng nghiên cứu
Bảng 3.7. Trong 09 trường hợp phẫu thuật chúng 
tôi không có trường hợp nào sốt kéo dài. Phương pháp 
thuyên tắc động mạch tử cung có một tỷ lệ nhiểm trùng 
áp-xe hay ứ mủ trong lòng tử cung gây sốt keo dài khoảng 
1-1,8% có thể phải cắt tử cung mà kháng sinh dự phòng 
không có kết quả[1,4,5]. Có 2/9 trường hợp mệt mỏi kéo 
dài và 2/9 trường hợp đau hạ vị kéo dài đây là 02 trường 
hợp có khối u kích thước lớn thời gian phẫu thuật kéo dài, 
phẫu thuật khó khăn hơn nhưng thời gian mệt mỏi kéo dài 
cũng chỉ 5-6 ngày. Phương pháp thuyên tắc động mạch 
tử cung có thể gây đau kéo dài trên 2 tuần xảy ra khoảng 
5-10% và có thể kèm theo nhiểm trùng[4]. 5/9 trường hợp 
ra máu âm đạo vẩn đục đây là 5 trường hợp u xơ dưới niêm 
mạc có thể do thoái hóa nhân xơ gây xuất huyết. 
4.8 Phân Tích Thời gian Phục hồi sức Khỏe sau 
Phẫu ThuậT của Đối Tượng nghiên cứu
Bảng 3.8. Phục hồi sức khỏe sau phẩu thuật ở nghiên 
cứu này là bệnh nhân có thể ngồi dậy ăn uống, đi lại tự 
phục vụ sinh hoạt thông thường được.Tất cả 9/9(100%) 
trường hợp đều phục hồi sức khỏe trong vòng 8giờ đầu 
sau phẫu thuật. thời gian phục hồi sức khỏe trung bình 
là 8 giờ tương đương với thời gian thoát thuốc mê. Đa số 
trường hợp phục hồi sức khỏe trong 8giờ đầu 7/9 trường 
hợp(77,77%). Tuy nhiên chỉ có 2/9 (22,22%) trường hợp có 
thời gian phục hồi sức khỏe muộn hơn, 01 trường hợp mất 
10 giờ, 01 trường hợp mất 12 giờ, đây là 02 trường có khối 
u lớn > 100mm thời gian phẫu thuật kéo dài. Như vậy với 
phương pháp tắc động mạch tử cung qua nội soi có sự 
phục hồi nhanh chóng do kỹ thuật đơn giản, ít xâm lấn, ít 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
151
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 147 - 151, 2013
đau đớn, không mất máu, thời gian phẫu thuật nhanh, gây 
mê rút ngắn. Bệnh nhân có thể hồi phục sức khỏe hoàn 
toàn sau 8-9 ngày sau phẫu thuật tương đương phương 
pháp UAE[1,3,4,6] trong khi phẫu thuật mở mất 5-7 tuần .
4.9 Phân Tích Thời gian nằm viện của Đối Tượng 
nghiên cứu
Bảng 3.9. Phần lớn 6/9 trường hợp (66,66%) có thời 
gian nằm viện ≤5 ngày, có 2/9 trường hợp thời gian nằm 
viện kéo dài hơn, đây là 02 trường hợp khối u lớn hơn bệnh 
nhân đau nặng vùng hạ vị nhiều hơn nên chúng tôi lưu lại 
để theo dỏi diễn biến thêm và 01 trường hợp u xơ dưới 
niêm mạc ra máu kéo dài, thời gian nằm viện trung bình 
5,67 ngày. Thường hậu phẫu bệnh nhân không có diễn 
biến gì đặc biệt do là những bệnh nhân lần đầu tham gia 
nghiên cứu nên tính an toàn chúng tôi phải đặt ra nên thời 
gian nằm viện kéo dài hơn nhiều so với phương pháp UAE 
trung bình sau 2-3 ngày bệnh nhân đã được xuất viện vì 
phương pháp này đã áp dụng từ trên thế giới năm 1996 
tính an toàn đã được kiểm chứng[1,3,4,5]. 
4.10 Phân Tích KếT quả Điều Trị u xơ Tử cung của 
Đối Tượng nghiên cứu
Bảng 3.10. Qua theo dõi bệnh nhân được hẹn tái khám 
siêu âm (1 đến 2 tháng siêu âm 01 lần) đo kích thước khối 
thì đa số 7/9(77,77%) trường hợp khối u xơ được điều trị 
khỏi và các triệu chứng do xơ gây ra cũng hoàn toàn mất 
theo như rong kinh, đau hạ vị.... Có 1/9 trường hợp sau 8 
tháng mới có kết quả tốt vì đây là khối u khoảng100mm, 
tuy nhiên có 01 trường hợp khối u không đáp ứng với điều 
trị đây là trường hợp khối u lớn >100mm nhưng qua theo 
dõi khối u không tăng kích thước. Như vậy nếu đánh giá 
ban đầu kết quả điều trị theo phương pháp tắc động mạch 
tử cung qua nội soi có tỷ lệ khả quan 8/9(88,88%) khỏi 
bệnh. So sánh với phương pháp thuyên tắc động mạch tử 
cung(Uterine Artery Embolization-UAE) về nguyên lý thì 
hoàn toàn giống nhau nhưng kỹ thuật thì khác nhau hoàn 
toàn nhưng kết quả tương đương nhau. Phương pháp 
UAE kết quả > 80% thành công trong điều trị, đa số khối u 
teo nhỏ sau 6 tháng, và những khối u lớn >100mm thường 
kết quả kém và có thể tái phát thường những khối u lớn 
có nhiều mạch máu tăng sinh và nhiều mạch nối[1,3,5,7].
Qua nghiên cứu này, từ quá trình phẫu thuật đến theo 
dõi kết quả điều trị chúng tôi nhận thấy nếu khi phẫu thuật 
tắc động mạch tử cung qua nội soi thấy tử cung biến đổi 
màu tím ngay thì kết quả phẫu thuật tốt, đây là một ưu 
thế hơn mà phương pháp UAE không thể đánh giá và 
tiên lượng kết quả điều trị như phương pháp nghiên cứu 
của chúng tôi được. Nếu xét về kinh phí phương UAE phải 
mua thêm thiết bị đắt tiền chuyên dụng thuyên tắc mạch 
khoảng 15-20 triệu đồng cho mỗi trường hợp can thiệp, 
chưa tính đến trang thiết bị hệ thống điện Xquang tăng 
sáng hiện đại khác... trong khi đó phương pháp chúng tôi 
không trang bị thêm thiết bị chỉ cần bộ nội soi cơ bản hiện 
có. Qua nội soi chúng tôi có thể thám sát ổ bụng, nếu tổn 
thương nghi ngờ có thể lấy mẫu bệnh phẩm sinh thiết. 
4.11 Tai biến, biến chứng
Qua 9 trường hợp phẫu thuật tắc động mạch tử cung 
qua nội soi chúng tôi chưa gặp một tai biến, biến chứng 
nào, điều gặp phải khó khăn đó là những khối u lớn nằm 
vùng eo, dây chằng rộng.. sẽ làm thay đổi vị trí động mạch 
tử cung và niệu quản nguy cơ tai biến có thể xẩy ra. Do 
vậy cần phải được đánh giá thật chính xác những chỉ định 
khi phẫu thuật qua siêu âm và khám lâm sàng.
Kết luận
Qua 09 trường hợp nghiên cứu phương pháp tắc 
động mạch tử cung qua nội soi trong điều trị u xơ tử cung, 
bước đầu chúng tôi có một số kết luận sau:
- Đây là một phương áp mới được nghiên cứu lần đầu 
tiên tại Bệnh viện hữu nghị Việt nam CuBa - Đồng Hới có 
hiệu quả bước đầu.
- Sử dụng thiết bị nội soi thông thường để làm tắc 
mạch điều trị u xơ tử cung, không trang bị thêm thiết bị 
chuyên dụng về mạch máu đắt tiền ngoại nhập... giảm 
bớt kinh phí cho người bệnh.
- Rút ngắn thời gian phẫu thuật, tránh được những can 
thiệp xâm lấn trong phẫu thuật, giảm bớt sự đau đớn phục 
hồi sức khỏe nhanh, đảm bảo tính thẩm mỹ trong PTNS.
- Kỹ thuật phẫu thuật này có thể ứng dụng cho các cơ 
sở y tế có khả năng phẫu thuật nội soi từ cơ bản. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh viện Hoàn Mỹ. Điều trị u xơ tử cung bằng phương pháp 
thuyên tắc động mạch tử cung. 2008. 
h t t : / / w w w . h o a n m y s a i g o n . c o m / i n d e x .
php?Itemid=126&id=982...com
2. Mc Lucas et al, Passage of Submucous myomas, Uterine 
artery Embolisation. January 2001; No1,Vol 192.
3. Nguyễn Xuân Hiền, Phạm Minh Thông. Kết quả điều trị u xơ 
tử cung bằng kỹ thuật nút động mạch tử cung trên 80 bệnh nhân 
tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí y học Việt Nam; 2009. Tập 361, 
số 2: tr 12-18
4. Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Điều trị u xơ tử cung. Hội nghị 
thường niên HOSREM lần V. 2009; tr: 1-15.
5. Bùi Văn Hoàng, Nguyễn Thị Mộng Loan. Thuyên tắc động 
mạch tử cung trong điều trị u xơ tử cung. Tạp chí sinh sản và sức 
khỏe; 2010. Tr: 11-15.
6. Nguyễn Thị Hoài Thu, Phan Thanh Hải. Thuyên tắc động mạch 
tử cung trong điều trị nhân xơ tử cung, ung thư tế bào nuôi, chảy máu 
sản khoa. Báo cáo hội nghị điện quang Pháp-Việt. 2003; tr :9-13.
7. Ravina JH and Coll, Value of Preoperative embolization 
of Uterine fibroma, Report of a multicenter series of 31 cas, 
Contracept Fertil Sex. 1995 jan; 23(1): 45-9.

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_u_xo_tu_cung_bang_phuong_phap_dot_dien_gay_tac_dong.pdf