Điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, phẫu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng

Sa sinh dục là một bệnh khá phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt tuổi tiền mãn và mãn kinh. Ứng dụng

phẫu thuật nội soi vào điều trị bệnh lý này vẫn còn hạn chế; đã có nhiều tác giả mô tả kỹ thuật

cố định tử cung vào mỏm nhô trong điều trị, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi những tiêu

chí kỹ thuật nghiêm ngặt và chi phí đắt tiền. Năm 2008 chúng tôi đã có đề tài ‘Kỹ thuật nội

soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng trong điều trị sa sinh dục’. Kỹ thuật này có nhiều ưu

điểm tuy nhiên có một tỷ lệ sa thành âm đạo - bàng quang tái phát, do vậy từ tháng 1 năm 2010

chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu ‘Điều trị sa sinh dục độ III - IV hai thì, phẫu thuật phục

hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng’. Mục tiêu: Trình bày

kỹ thuật và đánh giá hiệu quả bước đầu của phương pháp Điều trị sa sinh dục độ III - IV hai

thì, phẩu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng

pdf 9 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, phẫu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, phẫu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng

Điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, phẫu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng
Phan Xuân Khôi/Hoàng Nữ Phú Xuân l 147
ĐIỀU TRỊ SA SINH DỤC ĐỘ III-IV HAI THÌ, 
PHẪU THUẬT PHỤC HỒI THÀNH ÂM ĐẠO 
KẾT HỢP NỘI SOI TREO TỬ CUNG TRỰC TIẾP VÀO 
THÀNH BỤNG 
Phan Xuân Khôi, Hoàng Nữ Phú Xuân
Tóm tắt
Sa sinh dục là một bệnh khá phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt tuổi tiền mãn và mãn kinh. Ứng dụng 
phẫu thuật nội soi vào điều trị bệnh lý này vẫn còn hạn chế; đã có nhiều tác giả mô tả kỹ thuật 
cố định tử cung vào mỏm nhô trong điều trị, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi những tiêu 
chí kỹ thuật nghiêm ngặt và chi phí đắt tiền... Năm 2008 chúng tôi đã có đề tài ‘Kỹ thuật nội 
soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng trong điều trị sa sinh dục’. Kỹ thuật này có nhiều ưu 
điểm tuy nhiên có một tỷ lệ sa thành âm đạo - bàng quang tái phát, do vậy từ tháng 1 năm 2010 
chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu ‘Điều trị sa sinh dục độ III - IV hai thì, phẫu thuật phục 
hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng’. Mục tiêu: Trình bày 
kỹ thuật và đánh giá hiệu quả bước đầu của phương pháp Điều trị sa sinh dục độ III - IV hai 
thì, phẩu thuật phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào thành bụng. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp với 33 bệnh 
nhân sa sinh dục độ III-IV. Kết quả: Trong số 33 bệnh nhân được điều trị, có đến 11/33 trường 
hợp (33,33%) trong độ tuổi 70-79; có 12/33 trường hợp (36,36%) độ tuổi 60-69 tuổi; có 20/33 
trường hợp sa sinh dục độ IV (66,61%) ; có 13/33 trường hợp sa sinh dục độ III (39,39%). Cả 
33 trường hợp (100%) đều được phẫu thuật thành công với thời gian phẫu thuật trung bình 
là 49,54 phút,(thì một 30,45 phút, thì hai 13,79 phút). Thời gian hồi phục sức khỏe là 8,72giờ. 
Không có tai biến nào xảy ra trong quá trình phẫu thuật, tất cả bệnh nhân đều hài lòng với kết 
quả phẫu thuật và không có trường hợp nào bị sa tử cung, sa âm đạo tái phát sau phẫu thuật. 
Kết luận : Đây là một kỹ thuật mới lần đầu tiên được áp dụng thành công tại Bệnh viện hữu 
nghị Việt Nam- CuBa Đồng Hới. Kỹ thuật đơn giản, phẫu thuật ít xâm lấn, hạn chế tai biến, 
rút ngắn thời gian phẫu thuật và phục hồi sức khỏe, mang tính thẩm mỹ và sự hài lòng cao. Kỹ 
thuật chỉ đòi hỏi các thiết bị phẫu thuật nội soi cơ bản, không làm tăng chi phí cho người bệnh 
và có thể áp dụng cho các cơ sở y tế có khả năng phẫu thuật nội soi từ cơ bản.
Từ khóa: Sa sinh dục, hai thì, phẫu thuật nội soi, treo tử cung, trực tiếp.
Abstract: 
Two-Stage Treatment for Prolapsus At Level III – IV, Combination Of Vaginal Wall 
Recovery and Endoscopic Suspension Of Terine Against The Abdominal Wall
Prolapsus is a quite common disease among women, especially in pre-menopause and 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 147-155, 2012
PHỤ KHOA VÀ VÔ SINH
148 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
menopause period. Still, the application of endoscopic surgery in treatment is considerably 
restricted. Researchers applied the technology in which the uterine hangs up against the 
promontofixation in treatment; however, strictly standardized technique and expensive 
equipments are required. In 2008, the procedure of “the endoscopic suspension method 
of uterine against abdominal wall for prolapse” was reported. This procedure was proved 
advantageous though there was a minor proportion of prolapsed vagina wall-bladder 
recurrence. Thus, from January 2010, the study two-stage treatment for prolapsus at level III 
- IV, combination of vaginal wall recovery and endoscopic suspension of uterine against the 
abdominal wall. Objectives: Describe technologies and evaluate the initial efficiency of the 
two-stage treatment for prolapsus at level III - IV, combination of vaginal wall recovery and 
endoscopic suspension of uterine against the abdominal wall. Material and Methods: In the 
study, 19 patients who had prolapse at level III – IV are applied the two-stage treatment for 
prolapsus at level III - IV, combination of vaginal wall recovery and endoscopic suspension 
of uterine against the abdominal wall. Result: Among 33 patients were treated, there were 
11/33 cases (33,33%) at age group of 70-79, 12/33 at age group of 60-69; 20/33 cases of 
prolapse at level IV (66,61%) ; 13/33 cases of prolapse at level III (39,39%). All cases (100%) 
were operated successfully within the average time of 49,54 minutes (step one lasted 30,54 
minutes, step two lasted 13,79 minutes). The recovery time was about 8,72 hours. There 
were no tratactrophe occured during the surgery, all patients were satisfied with the results 
and no patients had the prolapse recurrent after the surgery. Conclusion: This new method 
firstly was applied in Viet Nam-Cuba Dong Hoi Hospital and proved to be successful. The 
technique is simple, less invasive, limits complications, shorten operation time and health 
recovery, brings the aestheticism and satisfaction. It is requires basic endoscopic-surgery 
equipments, the expenses is unchanged and can be applied for health institutions with basic 
endoscopic surgery capacity. 
Key words: Prolapse, Two-stage, Endoscopy Surgery, hanging up the uterine, directly.
Khoa Phụ sản BV Hữu nghị Việt Nam - CuBa Đồng Hới. 
Đặt vấn đề
Sa sinh dục là một bệnh lý khá phổ biến 
ở phụ nữ, gặp nhiều ở lứa tuổi tiền mãn và 
mãn kinh, đẻ nhiều lần, lao động nặng, chế 
độ dinh dưỡng kém. Tuy nhiên, bệnh lý này 
cũng có thể xảy ra ở những phụ nữ trẻ tuổi, 
đang ở tuổi sinh đẻ. Bệnh gây nên những 
khó khăn trong sinh hoạt, lao động thường 
nhật và còn gây những biến chứng khác kèm 
theo Tỷ lệ bệnh lý sa sinh dục ở phụ nữ 
Việt Nam chiếm khoảng 2% trong tuổi hoạt 
động tình dục, gần 8% ở phụ nữ từ 40-50 
tuổi [2,12], khoảng 8,5% ở độ tuổi từ 40 đến 
70 tuổi và 10% ở độ tuổi từ 70-90 tuổi [13]. 
Tỷ lệ này là 21% trong số phụ nữ 18-50 tuổi 
ở Mỹ và 2-13% trong số phụ nữ ở lứa tuổi trẻ 
tại Pháp [7].
Điều trị bệnh lý sa sinh dục chủ yếu 
bằng phương pháp phẫu thuật mở với 
các phương pháp đang được áp dụng 
khá phổ biến như Manchester, Crossen, 
Lefort[3] tuy nhiên còn có những hạn 
chế trong chỉ định và các tai biến khi 
phẫu thuật. Ngoài ra còn có các phương 
pháp treo tử cung gián tiếp vào thành 
bụng qua dây chằng tròn hoặc làm 
ngắn... nhưng có tỷ lệ gây tắc ruột và sa 
lại khá cao. Hiện nay nhờ sự tiến bộ đột 
phá của phẫu thuật nội soi (PTNS) nên 
khuynh hướng áp dụng PTNS vào điều 
trị sa sinh dục đang rất được ưa chuộng 
ở các nước Châu Âu [7]. Ở nước ta phẫu 
thuật mở điều trị sa sinh dục vẫn đang 
được thực hiện thường quy còn PTNS 
chỉ mới được áp dụng bước đầu với kỹ 
thuật treo tử cung vào mỏm nhô, vốn 
đã được báo cáo bởi nhiều phẫu thuật 
viên trên thế giới. Tuy nhiên kỹ thuật 
Phan Xuân Khôi/Hoàng Nữ Phú Xuân l 149
này phức tạp và chi phí thiết bị đắt tiền 
[1]. Từ tháng 4/2008 đến 01/2010 chúng 
tôi đã hoàn thành đề tài với kỹ thuật 
phẫu thuật nội soi treo tử cung trực 
tiếp vào thành bụng trong điều trị sa 
sinh dục, nhưng có một tỷ lệ sa bàng 
quang tái phát. Để khắc phục sự khiếm 
khuyết này từ ngày 06 tháng 01 năm 
2010 chúng tôi tiến hành đề tài nghiên 
cứu mới, điều trị sa sinh dục độ III - IV 
hai thì, phẫu thuật nội soi treo tử cung 
trực tiếp vào thành bụng kết hợp phẫu 
thuật đường âm đạo, tại Bệnh viện hữu 
nghị Việt Nam-Cu Ba, Đồng Hới.
Mục tiêu: Trình bày kỹ thuật và đánh giá 
hiệu quả bước đầu của phương pháp điều 
trị sa sinh dục độ III - IV hai thì, phẫu thuật 
phục hồi thành âm đạo kết hợp nội soi treo 
tử cung trực tiếp vào thành bụng. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân sa sinh 
dục độ III-IV, được giải thích và đồng ý áp 
dụng phương pháp điều trị sa tử cung độ 
III-IV hai thì.
• Phân độ sa sinh dục theo Baden walker
- Độ 1: Khối sa còn trong âm đạo
- Độ 2 : Khối sa ra tới âm hộ
- Độ 3 : Khối sa ra ngoài âm hộ
- Độ 4 : Khối sa toàn bộ ra ngoài và sa 
toàn bộ thành âm đạo 
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không đồng ý với phương 
pháp mới này.
- Có các bệnh khác liên quan đến tử cung 
cần can thiệp (như u xơ, tăng sinh nội mạc 
tử cung, tổn thương cổ tử cung......)
- Các bệnh lý khác đang diễn biến nặng 
không có chỉ định phẫu thuật nội soi
Đối tượng nghiên cứu: Với các tiêu 
chuẩn như trên, đã có 33 bệnh nhân sa 
sinh dục được tuyển chọn để áp dụng kỹ 
thuật điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, 
tại Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - CuBa 
Đồng Hới.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
tiến cứu có can thiệp.
Kỹ thuật tiến hành
Phương tiện trang thiết bị: Bộ phẫu 
thuật mở và nội soi cơ bản đã được trang 
bị ở các phòng mổ. Kim khâu tử cung thân 
tròn, đầu bầu, 3/8 vòng. Kim có nòng mang 
thòng lọng và chỉ không tiêu 1.0.
Các bước tiến hành: 
• Thì 1. Phục hồi thành âm đạo.
- Phục hồi thành trước âm đạo: Rạch 
niêm mạc âm đạo đường dọc từ dưới đáy 
bàng quang bị sa 0,5cm lên đến phía dưới lỗ 
niệu đạo 1cm (qua lớp mạc quanh niêm mạc 
âm đạo) tách mặt trước bàng quang khỏi 
mạc bao quanh niêm mạc âm đạo bộc lộ mặt 
trước bàng quang và mặt trước vùng niệu 
đạo - bàng quang tiếp theo :
+ Tạo hình niệu đạo: phẫu thuật đơn giản 
này được gọi là khâu đột chỗ nối niệu đạo-
bàng quang). Đó là biện pháp nhằm nâng 
cao vùng nối niệu đạo bàng quang bằng 
cách khâu lớp cân dưới vùng này [4].
+ Nâng bàng quang bằng cách phục hồi 
thành trước âm đạo: khâu hẹp mạc quanh 
âm đạo và niêm mạc âm đạo sẽ có tác dụng 
giữ bàng quang lên cao không sa xuống (sau 
khi xén mảnh niêm mạc âm đạo dư sau bóc 
tách) [3]
- Phục hồi thành sau âm đạo và tầng sinh 
môn sau theo phương pháp cổ điển.
150 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
• Thì 2 : Treo tử cung trực tiếp vào thành 
bụng bằng phương pháp nội soi :
- Đặt 3 trocar: 1trocar 10 ở rốn mang 
kính soi, 1 trocar ở mạng sườn phải mang 
kìm kẹp kim, 1 trocar trên vệ 1cm mang kẹp 
phẫu tích để hỗ trợ khâu và qua lỗ rạch da 
này để treo tử cung vào thành bụng.
+ Đặt trocar thứ nhất ở rốn sau khi bơm 
hơi vào ổ bụng kiểm tra ổ bụng;
+ Đặt trocar thứ hai ở mạng sườn phải, 
cho bệnh nhân tư thế đầu thấp, đẩy ruột lên 
trên. Rạch da thành bụng trên vệ 1cm bóc 
tách rộng tổ chức dưới da, mỡ đến cân cho 
đủ rộng. Xuyên kim khâu có chỉ không tiêu, 
mũi thứ nhất chếch xuống dưới, mũi thứ hai 
chếch lên trên cách đường trắng giữa 2-3cm 
về bên phải. Dùng kìm kẹp kim kéo hai kim 
vào trong ổ bụng. 
Hai mũi chỉ treo tử cung vào thành bụng
+ Đặt trocar thứ ba giữa vết rạch trên 
đường trắng giữa bên trái hai mũi kim vừa 
xuyên vào thành bụng. Đưa kẹp phẫu tích 
vào bộc lộ tử cung, kéo tử cung lên, gỡ dính 
(nếu tử cung có dính), dùng kẹp phẫu tích 
cố định tử cung, sau đó xuyên kim khâu thứ 
nhất vào tử cung phía trên eo (tránh mạch 
máu), xuyên kim thứ hai vào thân tử cung 
cách đáy khoảng 2-3cm (tránh khâu vào 
vòi trứng), hai mũi khâu này song song với 
nhau, lấy trocar thứ ba ra khỏi thành bụng. 
Chọc kim có nòng mang thòng lọng để lấy 
hai kim khâu ra khỏi ổ bụng. Bằng cách chọc 
kim thứ nhất chếch xuống dưới, kim thứ hai 
chếch lên trên bên trái cách đường trắng giữa 
bên trái 2-3cm (ngang mức hai mũi xuyên 
kim bên phải) đưa kim khâu vào thòng lộng 
để kéo kim khâu ra khỏi thành bụng.
Hai mũi chỉ treo tử cung vào thành bụng
+ Xả bớt hơi ổ bụng sau đó buộc hai nốt 
chỉ cố định tử cung vào thành bụng, kiểm 
tra không chảy máu rút hết trocar khâu lại 
ba lỗ trocar trên thành bụng. 
+ Khâu da, dấu chỉ 
Tử cung đã được treo vào thành bụng
Theo dõi sau phẫu thuật: Bệnh nhân 
được theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe 
và các tai biến có thể xảy ra trong thời gian 
nằm viện sau phẫu thuật. Sau khi ra viện, 
các bệnh nhân được tiếp tục theo dõi kết 
quả điều trị tại nhà để phát hiện khả năng 
tái phát hoặc các biến chứng muộn..
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
− Điều trị sa sinh dục độ III-IV hai thì, 
đã được Hội đồng khoa học kỹ thuật Bệnh 
viện hữu nghị Việt Nam-CuBa Đồng Hới 
phê duyệt.
Phan Xuân Khôi/Hoàng Nữ Phú Xuân l 151
− Bệnh nhân được giải thích và đồng ý áp 
dụng kỹ thuật điều trị sa sinh dục độ III-IV 
hai thì.
− Các tai biến nếu có trong quá trình 
phẫu thuật sẽ được xử trí kịp thời, đầy đủ.
− Các thông tin về bệnh nhân sẽ được giữ 
bí mật và chỉ dùng cho mục đích điều trị và 
nghiên cứu. 
Kết quả nghiên cứu
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Phân bổ độ tuổi của đối tượng 
nghiên cứu
Độ tuổi N Tỷ lệ %
≤ 39 2 6,06
40-49 1 3,03
50-59 4 12,12
60-69 12 36,36
70-79 11 33,33
≥ 80 3 9,09
Tổng cộng 33 100
Bệnh nhân trẻ nhất là 36 tuổi, già nhất là 
84 tuổi. Số lượng bệnh nhân tăng dần theo 
nhóm tuổi. Bảng 1. cho thấy có tới 11/34 
bệnh nhân ở độ tuổi 70-79, chiếm 36,36(%) 
trong khi chỉ có 02/19 trường hợp dưới 39 
tuổi, chiếm 6,06(%). Nó phù hợp về lứa tuổi 
bệnh lý sa sinh dục gặp chủ yếu ở tuổi tiền 
mãn và mãn kinh. Nguyên nhân do sự thoái 
hóa ở tuổi già, bởi tình trạng thiếu estrogen 
làm các thớ cơ teo đi, xơ cứng, mất tính đàn 
hồi [2,12,13]. Ở người bệnh trẻ dưới 49 tuổi 
tỷ lệ bệnh thấp hơn với chức năng sinh lý 
chưa thay đổi nhiều, mặt khác ở lứa tuổi này 
có thể do họ mặc cảm, hổ thẹn bởi những sa 
sút về thể chất nên ít khám chữa bệnh [7] và 
có thể độ sa sinh dục nhóm tuổi này thường 
nhẹ hơn. Kết quả nghiên cứu này chúng tôi 
chỉ định phẫu thuật điều trị sa sinh dục có 
thể tiến hành ở mọi lứa tuổi kể cả những 
bệnh nhân quá già (70 ≥ 80 tuổi) cũng có 
03 trường hợp tuổi trên 80 phẫu thuật tốt. 
Trong khi đó, phẫu thuật mở phương pháp 
Crossen nặng nề chỉ áp dụng cho nhóm tuổi 
dưới ở bệnh 60. Nhóm tuổi trên 60 tuổi áp 
dụng kỹ thuật Lefort là những bệnh nhân 
không có nhu cầu quan hệ tình dục[3].
 Bảng 2. Phân bổ số lần sinh của bệnh nhân
Số lần sinh N Tỷ lệ %
1-2 3 9,09
3-4 11 33,33
5-6 14 42,42
7-8 3 9,09
>8 2 6,06
Tổng cộng 33 100
Đa số bệnh nhân sa sinh dục đều sinh đẻ 
nhiều lần (3- 8 lần); có 25/33 bệnh nhân có 
3-6 lần sinh, chiếm 75,75(%); có 2 bênh nhân 
sinh từ 8 lần trở lên. Về nguyên lý sinh đẻ 
nhiều lần gây nên nhiều sang chấn vùng tầng 
sinh môn, làm cho sự phục hồi các dây chằng 
nâng đỡ bộ phận sinh dục rất khó khăn gây 
nên sự sa sinh dục [2,12,13]. Ngoài ra sinh 
con nhiều sẽ suy giảm kinh tế ảnh hưởng 
đầu tiên đến sức khỏe người mẹ, thiếu dinh 
dưỡng dẫn đến suy nhược toàn thân gây nên 
sự co giãn thớ cơ yếu, trương lực của các thớ 
cơ, xơ nâng đỡ bộ phận sinh dục yếu dẫn đến 
sa sinh dục[13].
Bảng 3. Bệnh lý kèm theo của bệnh nhân
Tiền sử N Tỷ lệ %
Cao huyết áp 8 24,24
Tim (hở 2 lá) 1 3,03
Vết mổ 3 9,09
Khác(nang 
gan,viêmctc)
2 6,06
Không 19 57,57
Tổng 33 100
Có 11/33 bệnh nhân có bệnh lý kèm 
152 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
theo; trong đó chủ yếu là cao huyết áp có 
8/33 (24,24 %); cao huyết áp cũng là bệnh 
lý gặp nhiều ở những người lớn tuổi. Tuy 
nhiên với kỹ thuật phẫu thuật này đơn giản, 
nhẹ nhàng nên chúng tôi có thể phẫu thuật 
ngay sau khi huyết áp tạm ổn định; kể cả 
với một bệnh nhân tuổi già bị hở van hai 
lá vẫn đề nghị được phẫu thuật và phẫu 
thuật an toàn. Phẫu thuật thì 1 chỉ là phẫu 
thuật đường âm đạo không phức tạp. Thì 
2 phẫu thuật nội soi treo tử cung trực tiếp 
vào thành bụng cho bệnh nhân sa sinh dục 
là một phẫu thuật ít xâm lấn và hiệu quả, do 
vậy có thể áp dụng ở mọi lứa tuổi nếu sức 
khỏe chung của bệnh nhân không chống chỉ 
định phẫu thuật [4].
Bảng 4. Phân độ SSD 
Phân độ N Tỷ lệ %
Độ III 13 39,39
Độ IV 20 66,61
Tổng 33 100
Đa số bệnh nhân 20/33 trường hợp, 
(chiếm 66,61%) là sa sinh dục độ IV, và 
13/39 trường hợp(39,39%) sa sinh dục 
độ III. Người phụ nữ Việt Nam vất vả, 
chịu khó, chịu thương đến khi bệnh 
nặng họ mới đến cơ sở y tế khám bệnh, 
mặt khác do sự e dè, dị nghị, mặc cảm, 
nên họ thường đi khám muộn [11]. Kỹ 
thuật điều trị sa sinh dục hai thì áp dụng 
tốt cho sa sinh dục độ III-IV bảo tồn tử 
cung cho khả năng sinh đẻ và không ảnh 
hưởng đến quan hệ tình dục. Trong mổ 
mở mỗi kỹ thuật chỉ áp dụng cho từng 
độ sa, Manchester mổ sa độ II, Crossen 
mổ sa độ III và < 60 tuổi không sinh đẻ, 
Lefort mổ sa độ III và > 60 tuổi không 
quan hệ tình dục, đây là những kỹ thuật 
mổ mang tính xâm lấn có thể gây nhiều 
biến chứng.
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
 Bảng 5. Thời gian phẫu thuật theo thì
Thời 
gian
Thì 1 Thì 2
n tỷ lệ % n tỷ lệ %
<15 0 0 13 39,39
16-20 0 0 18 54,54
21-30 15 45,45 2 6,06
31-40 18 54,54 0 0
Trung 
bình
30,45p 13,79
Thời gian phẫu thuật:
• Thì 1. Là thì làm lại thành trước âm đạo 
gồm tạo hình niệu đạo, nâng bàng quang lên 
và làm thành sau (nâng trực tràng), Trong 
đó có 15/33 trường hợp (45,45%), thời gian 
phẫu thuật từ 21-30 p; có 18/33 trường hợp 
(54,54%) thời gian phẫu thuật là 31-40p. Thời 
gian phẫu thuật trung bình thì 1 là 30,45p, 
đây là thì quan trọng dự phòng sa bàng quan 
tái phát, như kỹ thuật treo tử cung đơn thuần 
theo phương pháp nội soi có tỷ lệ 30,6% sa 
bàng quang độ II[6] . Mặt khác thì này còn 
tạo hình niệu đạo sẽ hạn chế són tiểu sau này.
• Thì 2. Là treo tử cung trực tiếp vào 
thành bụng bằng nội soi. Kỹ thuật mới này 
rất đơn giản, chỉ cần khâu hai mũi chỉ ở 
tử cung treo lên thành bụng nên thời gian 
phẫu thuật trung bình là 13,79 phút tất cả 
bệnh nhân 31/33 trường hợp(93,93%) được 
phẫu thuật xong trong vòng 15-20 phút. Thì 
này chúng tôi phẫu thuật nhanh hơn nghiên 
cứu trước đây hơn 2 phút,(thời gian treo tử 
cung trực tiếp vào thành bụng trung bình là 
16,4 phút[6]), có thể do sau này kinh nghiệm 
và thao tác nhanh hơn.
Phan Xuân Khôi/Hoàng Nữ Phú Xuân l 153
Bảng 6. Tổng thời gian phẫu thuật
Thời gian N Tỷ lệ %
30-40 3 9,09
41-50 13 39,39
51-60 16 48,48
61-70 1 3,03
71-80 0 0
Trung bình 49,54p 100
Trong 33 trường hợp có 13/33(39,39%) 
thời gian phẫu thuật khoảng 41-50p và có 
16/33(48,48%) thời gian phẫu thuật 51-60p. 
Như vậy hoàn thành phẫu thuật điều trị sa 
sinh dục độ III-IV hai thì thời gian trung 
bình chúng tôi thực hiện 49,54p, đây là 
một thời gian không dài, kỹ thuật đơn giản 
nên có thể áp dụng ở phụ nữ tuổi già trên 
80 tuổi. Trong khi đó phương pháp treo tử 
cung vào mỏm nhô đòi hỏi kỹ thuật phức 
tạp hơn nhiều do phải bộc lộ mỏm nhô, tạo 
đường hầm dưới phúc mạc từ mỏm nhô 
hướng về cùng đồ sau, bộc lộ thành sau âm 
đạo, bộc lộ eo cổ tử cung, mở 2 cửa sổ dây 
chằng rộng, đặt prothese từ eo cổ tử cung- 
qua hai bên dây chằng rộng- thành sau âm 
đạo cùng đồ sau và lên mỏm nhô, phủ lại 
phúc mạc che lại prothese và kiểm tra niệu 
quản, do đó thời gian kéo dài hơn nhiều: 115 
phút theo Nguyễn Bá Mỹ Nhi và 190 phút 
theo Rivoire [7,11]. Nếu mổ mở thì thời gian 
phẫu thuật còn kéo dài hơn nữa, như theo 
Benson là 215±47 phút [7].
 Bảng 7. Thời gian phục hồi sức khoẻ
Thời gian N Tỷ lệ %
6h 3 9,09
6h-8h 7 12,12
8h-10h 16 48,48
10h-12h 7 12,12
Tổng 19 100
TB 8,72 giờ
Tất cả bệnh nhân 33/33(100%), đều phục 
hồi sức khỏe trong vòng 12 giờ sau phẫu 
thuật. Thời gian hồi phục sức khỏe trung 
bình là 8,72 giờ, chỉ tương đương với thời 
gian thoát thuốc mê; đa số hồi phục sức 
khỏe trong vòng 8-10 giờ (16 trường hợp, 
chiếm 48,48%) và có 03 bệnh nhân (9.09 %) 
hồi phục trong vòng 6 giờ. Như vậy với kỹ 
thuật này, chỉ trong một thời gian rất ngắn 
bệnh nhân có thể đi lại, sinh hoạt gần như 
bình thường. Có được điều này là do đây là 
một kỹ thuật đơn giản, ít xâm lấn; thời gian 
gây mê và phẫu thuật ngắn nên ít gây đau 
đớn, bệnh nhân thoát mê nhanh. 
Bảng 8. Độ sa tái phát
Độ sa TC BQ
N % N %
Độ 0-I 33 100 33 100 
Độ II-III 0 0 0 0
Độ III-IV 0 0 0 0
Tổng 33 100 33 100 
Sau phẫu thuật, cả 33/33 bệnh nhân 
(100%) qua theo dõi tử cung, bàng quang 
đều ở vị trí độ 0-I, không có bệnh nhân sa 
tử cung và bàng quang tái phát. Nghiên cứu 
của chúng tôi trước đây không phẫu thuật 
thì 1 (phẫu thuật âm đạo) nên có đến 11/36 
trường hợp (30,6%) sa bàng quang độ II và 
không có trường hợp nào sa độ III đó là 
những trường hợp bàng quang sa độ II sau 
phẫu thuật, đều là những trường hợp sa tử 
cung độ III-IV, tử cung và bàng quang ra hẳn 
ngoài âm hộ, trước phẫu thuật [6]. Trong 
khi đó, kết quả treo tử cung vào mỏm nhô 
của Rivoire, phẫu thuật cho 138 trường hợp 
được theo dõi 31 tháng, thất bại 12 trường 
hợp có sa độ III-IV[7]. Trong phẫu thuật mở 
cũng có một tỷ lệ sa lại 15% trong vòng 1 
năm [13]. Như vậy phương pháp điều trị 
hai thì này đã khắc phục tình trạng sa bàng 
quan tái phát sau phẫu thuật.
154 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bàn luận
Đánh giá tai biến phẫu thuật
Chúng tôi chưa gặp tai biến nào trong 
phẫu thuật. Ở thì 1 là phẫu thuật đường âm 
đạo chủ yếu làm lại thành âm đạo nên đây là 
phẫu thuật bên ngoài ổ bụng, đơn giản. Thì 
2 là PTNS treo tử cung trực tiếp vào thành 
bụng cũng là một kỹ thuật đơn giản nên 
chúng tôi chưa có trường hợp nào chảy máu 
phải sử dụng dao điện lưỡng cực cầm máu, 
không hút rửa ổ bụng, ổ bụng hoàn toàn 
sạch. Như vậy phẫu thuật hai thì này cũng 
là một phẫu thuật với kỹ thuật đơn giản, ít 
xâm lấn, nên tai biến hiếm xẩy ra. So sánh 
với kỹ thuật treo tử cung và mỏm nhô thì là 
một kỹ thuật phức tạp hơn nhiều, can thiệp 
rộng cho nên có nhiều nguy cơ tai biến hơn. 
Các tác giả luôn phải kiểm tra tổn thương 
niệu quản sau phẫu thuật, Rivoire gặp tai 
biến 2/138 trường hợp tổn thương bàng 
quang và viêm bàng quang 17%[7]. Trong 
mổ mở tai biến nặng nề chảy máu, đứt niệu 
quản, rách bàng quang.ảnh hưởng đến 
quan hệ tình dục[13].
Đánh giá sự hài lòng của đối tượng 
nghiên cứu
Tất cả (33/33) bệnh nhân đều hài lòng với 
kết quả phẫu thuật. Sau 1tuần mọi sinh hoạt 
thường nhật trở lại bình thường, họ không 
đau đớn, và không són tiểu hoặc ảnh hưởng 
nhiều đến sức khỏe sau phẫu thuật. Theo 
dõi định kỳ 3 tháng 1 lần sau ra viện, chúng 
tôi có lịch tái khám hoặc qua phỏng vấn xem 
xét kết quả điều trị bệnh nhân không biến 
chứng và triệu chứng phụ nào xảy ra. Trong 
khi đó, kỹ thuật treo tử cung vào mỏm nhô 
là kỹ thuật phức tạp hơn và kinh phí cao 
hơn nhiều, do trong phẫu thuật phải có tấm 
lưới treo tử cung prothese hoặc tấm prolene 
của hãng Johnson & Johnson trị giá khoảng 
500 USD[1]. Theo nghiên cứu của Nguyễn 
Bá Mỹ Nhi có 2/7 trường hợp đau sau phẫu 
thuật, theo Rivoire 80% rất hài lòng sau 
phẫu thuật có 2% không hài lòng[7]. Trong 
phẫu thuật treo tử cung, theo phương pháp 
cổ điển Terrier phải mổ mở thành bụng để 
lại sẹo lớn, giảm tính thẩm mỹ và đau đớn 
nhiều thời kỳ hậu phẫu[3]. 
Kết luận
Qua nghiên cứu 19 trường hợp sa sinh 
dục độ III-IV, được điều trị sa sinh dục độ II-
IV hai thì, phẫu thuật phục hồi thành âm đạo 
kết hợp nội soi treo tử cung trực tiếp vào 
thành bụng, từ 06/01/2010 đến 12/11/2010, 
tại Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cu Ba, 
Đồng Hới, Quảng Bình, chúng tôi ban đầu 
rút ra một số kết luận nổi bật sau: 
• Điều trị hiệu quả trong sa sinh dục độ 
III-IV với kỹ thuật đơn giản cả hai thì: phục 
hồi thành âm đạo và nội soi treo tử cung 
trực tiếp vào thành bụng .
• Phẫu thuật ít xâm lấn, hạn chế tổn 
thương và tai biến, cho phép phục hồi sức 
khỏe nhanh chóng, đảm bảo tính thẩm mỹ 
và mang lại sự hài lòng cao.
• Có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi, bảo 
tồn được tử cung, nâng cao chất lượng cuộc 
sống cho phụ nữ, đặc biệt lứa tuổi tiền mãn 
và mãn kinh.
• Phương pháp điều trị này không đòi 
hỏi thêm thiết bị ngoại nhập, giảm bớt chi 
phí cho người bệnh.
• Kỹ thuật phẫu thuật này có thể ứng 
dụng cho các cơ sở y tế có khả năng phẫu 
thuật nội soi từ cơ bản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Ân (2008). Y học TP Hồ 
Chí Minh. Điều trị tiểu không kiểm soát 
khi gắng sức ở phụ nữ. Đại học Y dược 
TP. HCM, Tập 12, tr 120-124.
2. Lê Điềm (2003). Sa sinh dục. Bách khoa 
toàn thư, Nhà xuất bản y học, Tập II, 
tr 355-360.
3. Phan Trường Duyệt (1989). Phẫu thuật 
sản phụ khoa. Phẫu thuật sản phụ khoa, 
NXB Y học, tr 463-474, 538-577.
Phan Xuân Khôi/Hoàng Nữ Phú Xuân l 155
4. Colin Hodge, Robin Callander(1996). 
Tạo hình niệu đạo qua âm đạo. Phụ 
khoa hình minh họa. Nhà xuất bản Y 
học. Tr 289.
5. Harold M. M. Tovel, David N. Danforth 
(1977). Relaxation of pelvic supports, 
Obstetrics and gynecology, Medical 
Department. Harper & Row, Publishers, 
Hagerstown, Maryland, New York, San 
Francisco, London: 835-846.
6. Phan Xuân Khôi(2010). Kỹ thuật phẫu 
thuật nội soi treo tử cung trực tiếp vào 
thành bụng trong điều trị sa sinh dục. Y 
học TP Hồ Chí Minh, phụ bản tập 14, số 
2, 2010. Tr 52-58.
7. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2008). Đánh giá 
bước đầu hiệu quả treo tử cung vào 
mỏm nhô trong điều trị sa tử cung độ II-
III ở phụ nữ trẻ. Hội nghị ngoại khoa và 
nội soi toàn quốc năm 2008.
8. Marinkovic, Serge P, Stanton, Stuart 
L (2004). Incontinence and Voiding 
Difficulties Associated With Prolapse, 
J. Urol.171: 1021-1028.
9. Paraiso MF, Falcone T, Walters MD 
(1999). Laparoscopic Surgery for 
Enterocele, Vaginal Apex Prolapse and 
Rectocele. Int. Urogynecal J. Pelvic Floor 
Dysfunction, 10: 223-229.
10. Renaud Bollens, Fabienn Absil, Trần 
Ngọc Sính (2004). Phẫu thuật nội soi ổ 
bụng trong điều trị sa sinh dục. Y học TP. 
Hồ Chí Minh, tập 8, phụ bản số 2. NXB Y 
học. Tr 208-211.
11. Trần Ngọc Sính, Chu Văn Nhuận. Bệnh 
viện Chợ Rẫy (2007). Kết quả PTNS 
ổ bụng cố định sàn chậu vào mỏm 
nhô xương cùng sa sinh dục.www.
phauthuatnoisoi.com/hoiptns/
12. Trường Đại học y dược TP Hồ Chí Minh 
(1996). Sản phụ khoa. Giãn sàn chậu, Nhà 
xuất bản TP. HCM. Tập II, tr1018-1024.
13. Ngô Văn Tài. Sa sinh dục. Tài liệu giảng 
dạy sau Đại học Y Hà Nội.
14. Wattiez A, Canis M, Mage G, Pouly JL, 
Bruhat MA (2001). Promontofixation for 
the Treament of Prolapse. Urol. Clin. 
North Am, 28:151-157.

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_sa_sinh_duc_do_iii_iv_hai_thi_phau_thuat_phuc_hoi_t.pdf