Điều trị phẫu thuật u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u LNMTC ở

buồng trứng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 11/2016

đến 8/2017.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu: 41 bệnh nhân. Tiêu

chuẩn chọn: bệnh nhân chẩn đoán đại thể trong phẫu thuật là u LNMTC

BT: trong khối u có dịch màu socola; thời gian: từ 11/2016 đến 8/2017;

Phương pháp: mô tả tiến cứu.

Kết quả: Bệnh nhân có con chiếm tỉ lệ 58,54%, có tiền sử phẫu thuật

LNMTC ở buồng trứng là 9,76%; Đau bụng kinh chiếm tỉ lệ cao nhất

là 58,54%; Có 58,50% có u ở bên phải, bên trái là 24,4%, u hai bên là

17,1; Trên siêu âm kích thước khối u ≤ 60 mm: 61%; CA-125 > 35 là

83,78%; Dính nặng với tỉ lệ 75,61%, dính trung bình là 19,51%, dính

nhẹ 4,88%; Chủ yếu là phẫu thuật nội soi (92,68%). Bóc nang: 70,73%,

cắt u: 29,27%; Giải phẫu bệnh lý không thấy tổn thương lạc nội mach

tử cung 24,39%, tổn thương lạc nội mạc tử cung ở nơi khác 17,07%

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị phẫu thuật u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều trị phẫu thuật u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Điều trị phẫu thuật u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 111 - 116, 2018
111
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Phạm Huy Hiền Hào, Nguyễn Thị Thu Trang 
Đại học Y Hà Nội
ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
U LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG Ở BUỒNG TRỨNG
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Huy Hiền Hào, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: U lạc nội mạc tử cung 
ở buồng trứng, bóc tách u, cắt 
buồng trứng.
Keywords: ovarian 
endometriomas, cystectomy, 
oophorectomy.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u LNMTC ở 
buồng trứng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 11/2016 
đến 8/2017. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu: 41 bệnh nhân. Tiêu 
chuẩn chọn: bệnh nhân chẩn đoán đại thể trong phẫu thuật là u LNMTC 
BT: trong khối u có dịch màu socola; thời gian: từ 11/2016 đến 8/2017; 
Phương pháp: mô tả tiến cứu. 
Kết quả: Bệnh nhân có con chiếm tỉ lệ 58,54%, có tiền sử phẫu thuật 
LNMTC ở buồng trứng là 9,76%; Đau bụng kinh chiếm tỉ lệ cao nhất 
là 58,54%; Có 58,50% có u ở bên phải, bên trái là 24,4%, u hai bên là 
17,1; Trên siêu âm kích thước khối u ≤ 60 mm: 61%; CA-125 > 35 là 
83,78%; Dính nặng với tỉ lệ 75,61%, dính trung bình là 19,51%, dính 
nhẹ 4,88%; Chủ yếu là phẫu thuật nội soi (92,68%). Bóc nang: 70,73%, 
cắt u: 29,27%; Giải phẫu bệnh lý không thấy tổn thương lạc nội mach 
tử cung 24,39%, tổn thương lạc nội mạc tử cung ở nơi khác 17,07%.
Từ khóa: U lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng, bóc tách u, cắt 
buồng trứng.
Abstract 
OPERATIVE SURGERY FOR OVARIAN 
ENDOMETRIOMAS AT THE NATIONAL HOSPITAL 
OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
Objective: To describe on the clinical, clinical features of ovarian 
endometriomas in surgical intervention at the OB-GYB of NH from 
9/2016 to 11/2016. 
Material and methodology: The sample size: 41 patients with 
selection criteria during operative surgery is chocolate fluid in the 
ovarian tumor; Methods: Prospective Descriptive study; 
Result: have children: 58.54%, previos surgery of tumors 
endometriosis: 9.76%; Dysmenorrhoea: 58.54%; There are 58.50% 
PHẠM HUY HIỀN HÀO, NGUYỄN THỊ THU TRANG
112
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
of tumors on the right, 24.4% on the left, 17.1% on the left; On ultrasound tumor size ≤ 60 mm: 
61%; Serum CA-125 level > 35 is 83.78%; severe adherence 75.61%, moderate: 19.51%, mild: 
4.88%; Mainly laparocopic surgery: 92.68%; Cystectomie: 70.73%; Oophorectomie: 29.27%; No 
finding of endometriosis lesions on pathology samples: 24,39%, outside ovary endometriosis 
lesions: 17,07%.
Key words: ovarian endometriomas, cystectomy, oophorectomy.
1. Đặt vấn đề
Ở nước ta, u buồng trứng là loại khối u hay gặp 
trong các khối u cơ quan sinh dục nữ, chỉ đứng thứ 
2 sau u cơ trơn tử cung. Ở phía Bắc, u buồng trứng 
chiếm tỷ lệ 3,6% các khối u sinh dục [1].
U buồng trứng dạng lạc nội mạc tử cung 
(LNMTC) được xếp loại là u nang buồng trứng thực 
thể - là tổ chức nội mạc tử cung phát triển ngay trên 
bề mặt buồng trứng gây phá hủy tổ chức buồng 
trứng lành. Nang thường nhỏ, vỏ mỏng, dính vào 
các tổ chức xung quanh, bên trong chứa dịch màu 
socola. Việc chẩn đoán chính xác LNMTC dựa 
trên các triệu chứng lâm sàng là một vấn đề khó 
khăn, mà hầu hết chẩn đoán xác định phải dựa 
vào nội soi chẩn đoán và mô bệnh học. LNMTC 
thâm nhiễm sâu và u dạng LNMTC ở buồng trứng 
thường không đáp ứng với điều trị nội khoa. Điều 
trị nội khoa chủ yếu dành cho mục đích giảm đau 
trong thời gian ngắn hoặc trung bình. Để góp phần 
tìm hiểu thêm điều trị phẫu thuật u buồng trứng 
dạng LNMTC, chúng tôi tiến hành đề tàivới mục 
tiêu: “Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của 
u LNMTC ở buồng trứng phẫu thuật tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương từ 11/2016 đến 8/2017”.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm các 
bệnh nhân được chẩn đoán u lạc nội mạc tử cung 
tại buồng trứng và được chỉ định phẫu thuật. Từ 
tháng 11/2016 đến tháng 8/2017; Có 41 bệnh 
nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Được chẩn đoán đại thể trong phẫu thuật là u 
dạng LNMTC BT : trong khối u có dịch màu socola.
- Có mẫu bệnh phẩm sau phẫu thuật và bệnh 
phẩm được gửi xét nghiệm mô bệnh học.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Không có bệnh phẩm sau phẫu thuật.
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang và tiến cứu phân tích không 
đối chứng
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
 - Cỡ mẫu thuận tiện
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tất cả 41 bệnh nhân đều được làm xét nghiệm 
mô bệnh học.
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: 20-29: 29,27% (12/41); 30-39: 39,02 
(16/41); 40-49: 31,71(13/49). Tuổi trung bình 
của đối tượng nghiên cứu là 34,29 ± 1,31. Nhỏ 
nhất là 23 tuổi, lớn nhất là 47 tuổi.
Đặc điểm kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu: 
Tuổi có kinh lần đầu: Tuổi trung bình (năm): 
14,63 ± 0,29; Sớm nhất: 10; Muộn nhất: 20. 
Vòng kinh (ngày): <21: 9,76%;21-35: 87,80%; 
>35: 2,44: 2,44%. Số ngày kinh (ngày): 4,56 ± 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 111 - 116, 2018
113
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
0,20 ngày, ngắn nhất là 03 ngày, dài nhất là 
07 ngày.
- Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên 
cứu: Đã kết hôn: 80,48%(33/41); chưa kết hôn: 
19,51% (8/41). 
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số con: 
Bệnh nhân chưa có con chiếm tỉ lệ 41,46% (17/41), 
Đã kết hôn chưa có con: 21,95% (9/41). Có con: 
58,54% (24/41); 1con: 24,39%; 2 con: 26,83%; 
3 con: 7,32%. 
- Tiền sử phẫu thuật của nhóm nghiên cứu: 
Chưa phẫu thuật: 75,61%(31/41); Đã phẫu thuật: 
24,39%; phẫu thuật LNMTC: 9,76% (4/41); phẫu 
thuật ổ bụng khác: 19,51% (8/41). 
Triệu chứng cơ năng: Đau bụng kinh: 58,54%; 
đau bụng hạ vị: 43,90%; rối loạn kinh nguyệt là 
12,20%; không triệu chứng: 24,39%
- Vị trí u: Bên phải: 58,50% (24/41); Bên trái: 
24,40% (10/41); Hai bên: 17,10% (7/41).
- Kích thước u trên siêu âm: ≤ 60 mm: 61% 
(25/41); > 60 mm: 39% (16/41). Khối u có kích 
thước lớn nhất: 100 mm, nhỏ nhất: 30 mm. 
Có 37 bệnh nhân làm xét nghiệm CA-125 , 
trong đó số bệnh nhân có CA-125 > 35 chiếm tỉ 
lệ là 83,78%, bệnh nhân có CA-125 ≤ 35 chiếm tỉ 
lệ 16,22% (p < 0,005). Có 18,92% bệnh nhân có 
CA-125 > 200. Nhỏ nhất: 23,50 U/L. Lớn nhất: 
348,40 U/L; Trung bình: 118,35±15,48 U/l
- Phương pháp phẫu thuật: Trong nhóm nghiêm 
cứu của chúng tôi thì chỉ là phẫu thuật mổ mở; có 
7,32% (3/41); là phẫu thuật nội soi: 92,68% (38/41).
- Mức độ dính khi phẫu thuật của u dạng lạc 
nội mạc tử cung: dính nặng: 75,61% (31/41); 
dính trung bình: 19,51% (8/41); dính nhẹ: 4,88% 
(2/41). p < 0,0001.
Có 9,76% trường hợp cắt tử cung.
- Kết quả mô bệnh học: Trong 41 u được chẩn 
đoán trong mổ là u dạng LNMTC BT khi xét nghiệm 
mô u LNMTC BT: 75,61% (31/41). Không thấy 
tổn thương LNMTC: 24,39% (10/41), thấy các tổn 
Cách thức Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Bóc nang + Gỡ dính 29 70,73
Cắt u
Cắt BT bên u 8 19,51
29,27Cắt TC + BT bên u 3 7,32
Cắt TC + 2 PP 1 2,44
Tổng 41 100
Bảng 1. Cách thức phẫu thuật đối tượng nghiên cứu
Tổn thương Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Không có tổn thương phối hợp 30 73,17
U xơ TC 4 9,76
26,83
LNMTC ở phúc mạc 3 7,32
17,07LNM trong cơ TC 3 7,32
LNMTC ở vòi tử cung 1 2,43
Tổng 41 100
p < 0,001
Bảng 2. Tổn thương phối hợp của đối tượng nghiên cứu
thương phối hợp khác: 6 nang đơn giản chảy máu, 
2 nang thanh dịch lành tính, 1 nang bọc noãn 
hoàng thể, 1 không có mô buồng trứng.
4. Bàn luận
- Bệnh nhân con chiếm tỉ lệ 58,54%; Lê Văn 
Thụ (2007) tỉ lệ bệnh nhân chưa có con bị u 
LNMTC là 57,4% [2], Hoàng Thị Liên Châu 
(2013) cũng cho thấy rằng bệnh nhân chưa có 
con lần nào có tỉ lệ 21,7 [3]. Vô sinh: Biến chứng 
chính của lạc nội mạc tử cung là khả năng sinh 
sản kém. Khoảng 1/3 đến một nửa phụ nữ bị lạc 
nội mạc tử cung gặp khó khăn khi mang thai.
- Có tiền sử phẫu thuật LNMTC ở buồng trứng 
là 9,76%. Theo Trần Đình Vinh (2010) hiệu quả 
điều trị ngoại khoa mang tính lâu dài hơn so với 
điều trị nội khoa. Tỉ lệ tái phát sau 5 năm điều 
trị ngoại khoa khoảng 20% so với 50% của điều 
trị nội khoa [4].
- Đau bụng kinh chiếm tỉ lệ cao nhất là 58,54%. 
Trong các nghiên cứu của các tác giả khác cũng 
cho kết quả tương tự với kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi như: Trần Đình Vinh (2011): thống kinh 
72,0% [4], Hoàng Thị Liên Châu (2013): thống 
kinh 89,12% [3], Leng JH và cộng sự (2007) 
thống kinh chiếm tỉ lệ cao nhất 76,9 [5].
- Có 58,50% có u ở bên phải, bên trái là 
24,4%, u hai bên là 17,10%. Kết quả này của 
chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Duy 
Quang (2009), u buồng trứng bên phải 50,0%, 
bên trái 41,1%, hai bên là 8,9% [6]. Lê Văn Thụ 
(2007): u một bên buồng trứng là 46.8% [2]. 
Trần Đình Vinh (2011) cho thấy bên trái 58,7%, 
u bên phải 30,7% [4].
- Kích thước u LNMTC ở buồng trứng ở nhóm 
30 – 60 mm chiếm tỉ lệ cao nhất 61%; khối u có 
kích thước > 60 mm có tỉ lệ 39%, không có khối 
u nào kích thước < 30 mm. Kích thước khối u 
PHẠM HUY HIỀN HÀO, NGUYỄN THỊ THU TRANG
114
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
LNMTC trung bình trong nghiên cứu của chúng 
tôi là 60,41 ± 2,71. Kết quả nghiên cứu của tác 
giả Hoàng Thị Liên Châu (2013) cho thấy kích 
thước khối u LNMTC ≤ 60 mm chiếm tỉ lệ là 87%, 
kích thước khối u LNMTC > 60 mm là 13% [3]. 
Trong khi đó tác giả Lê Văn Thụ (2007) lại cho 
rằng kích thước khối u LNMTC < 80 mm có tỉ 
lệ là 95,9% [2]. Nghiên cứu Nguyễn Văn Tuấn 
(2012) cho biết kích thước khối u LNMTC ≤ 70 
mm có tỉ lệ là 86,4% và kích thước trung bình là 
53,9±1,6 mm [7].
- Nồng độ Ca-125 của u LNMTC buồng 
trứng cao, bệnh nhân có xét nghiệm nồng độ 
Ca-125 > 35u/ml chiếm tỉ lệ 83,78%, Ca-
125 > 200 là 18,92%, Ca-125 trung bình là 
118±15,48, lớn nhất là 348 u/ml, nhỏ nhất là 
23,5 u/ml. Như vật kết quả này phù hợp với 
tiêu chuẩn giá trị dự đoán âm tính lạc nội mạc 
tử cung là dưới ngưỡng 20ui/ml; so với nghiên 
cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2012), nồng độ Ca-
125 giai đọa IV là 104,3±6,1 u/ml [7], Hoàng 
Thị Liên Châu (2013) có nồng độ Ca-125 trung 
bình là 65,3±5,3 u/ml [3].
- Hầu hết dính nặng với tỉ lệ 75,61%, dính 
trung bình là 19,51%, dính nhẹ 4,88%. Tỉ lệ 
của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Trần 
Đình Vinh (2011) tỉ lệ dính trung bình và nặng 
chiếm cao nhất 80,7% [4]. Kết quả của Hoàng 
Thị Liên Châu (2013) tỉ lệ này là 76,1% [3], tuy 
nhiên kết quả của chúng tôi cao hơn một chút (tỉ 
lệ dính mức độ trung bình và nặng là 95,12%). 
Phân chia mức độ dính của u lạc nội mạc tử cung 
ở buồng trứng: Dính nhẹ: dính một lớp mỏng, 
không có mạch máu, dễ dàng bóc tách; Dính 
mức độ trung bình: ít hơn một nửa buồng trứng 
dính với các cơ quan kế cận và khó bóc tách hay 
trên một nửa buồng trứng dính nhẹ vào các cơ 
quan kế cận; Dính mức độ nặng: trên một nửa 
buồng trứng bị dính vào các cơ quan kế cận, có 
nhiều mạch máu, khó bóc tách.
- Chủ yếu là phẫu thuật nội soi (92,68%). Bóc 
nang + Gỡ dính chiếm đa số với 70,73% cắt 
u: 29,27%. Kết quả nghiên cứu của một số tác 
giả khác như: Hoàng Thị Liên Châu (2013) tỷ lệ 
bóc u LNMTC ở bồng trứng là 52,9%, cắt buồng 
trứng 26,5%, cắt phần phụ kèm gỡ dính 20,6% 
[3]. Tác giả Lê Văn Thụ (2007) cũng cho thấy 
tỉ lệ được điều trị bảo tồn khi thực hiện phẫu 
thuật nội soi điều trị u LNMTC là 88% [2]. Tác 
giả Nguyễn Văn Tuấn (2012) có tỉ lệ bảo tồn 
là 85,5% [7]. Bóc u qua nội soi là sự lựa chọn 
đầu tiên trong điều trị bảo tồn LNMTC ở buồng 
trứng, trong trường hơp bóc u quá khó, việc chọc 
hút và đốt mặt trong nang là biện pháp lựa chọn 
thay thế. Theo Chapron C. et al (2002), bóc u 
trong phúc mạc với nhóm chọc hút rồi đốt mặt 
trong nang bằng dao điện lưỡng cực tỉ lệ tái phát 
triệu chứng thống kinh 15,8% so với 52,9%, giao 
hợp đau 20% so với 75%, đau vùng chậu mãn 
tính 10% so với 52,9% [8]. Jacques Donnez [9] 
đưa ra khuyến cáo về phẫu thuật nội soi trong 
điều trị lạc NMTC ở buồng trứng: Đối với u dạng 
LNMTC có kích thước < 3cm chẩn đoán trên siêu 
âm đường âm đạo, xét nghiệm CA125 nghi ngờ 
sẽ nội soi ổ bụng thực hiện bóc nang hay cắt 
bỏ nang hoặc đốt lòng nang. Đối với u dạng 
LNMTC BT có kích thước > 3cm được chẩn đoán 
bằng siêu âm đường âm đạo và xét nghiệm 
CA125 sẽ thực hiện nội soi thực hiện nội soi bóc 
nang hay cắt bỏ nang hoặc chọc hút dịch sau đó 
điều trị GnRH ba tháng, nội soi ổ bụng lần 2 đốt 
lòng nang. Đối với u dạng LNMTC BT > 10cm 
nội soi chọc hút dịch u, điều trị GnRH 3 tháng, 
sau đó chọc hút dịch nang dưới hướng dẫn của 
siêu âm, và điều trị GnRH 2 tháng, sau đó nội 
soi lần 2 để bóc nang, cắt nang hoặc đốt lòng 
nang. Khuyến cáo này áp dụng trong điều kiện 
Việt Nam. Cần thận trọng, cân nhắc điều kiện 
bệnh nhân, trình độ thầy thuốc và trang thiết bị 
cơ sở y tế.
Vì thế phải có kế hoạch điều trị toàn diện, chú 
ý đến những than phiền của bệnh nhân và mong 
muốn của bệnh nhân trong việc sinh sản. Điều trị 
có thể nội khoa, ngoại khoa hoặc kết hợp cả hai, 
mổ mở là biện pháp điều trị thích hợp hơn trong 
trường hợp cắt bỏ u LNMTC ở buồng trứng lớn, gỡ 
dính nhiều ở ruột, cắt đại tràng hoặc các trường 
hợp quá phức tạp đối với phẫu thuật nội soi. Ưu 
điểm về mặt lý thuyết của điều trị nội khoa trước 
phẫu thuật là làm giảm tình trạng viêm, sự tạo 
mạch và kích thước cũng như sự lan rộng của các 
tổn thương lạc nội mạc tử cung. Lý do để điều trị 
nội khoa sau phẫu thuật là làm tiêu các tổn thương 
mà phẫu thuật không thể loại bỏ được, tiêu diệt 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 111 - 116, 2018
115
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
các tổn thương vi thể và giảm nguy cơ phát tán 
bệnh khi vỡ u LNMTC khi di động. Chọc hút dưới 
hướng dẫn siêu âm: có tính khả thi nhưng sẽ có 4 
vấn đề chính khi áp dụng: tỷ lệ tái phát cao (28-
100%), nguy cơ biến chứng, không đủ bệnh phẩm 
để làm mô học và dính sau thủ thuật [8]. Như đã 
biết tái phát là một đặc trưng của bệnh lý LNMTC, 
nguy cơ tái phát tăng cao ở những bệnh nhân lớn 
tuổi và bệnh ở giai đoạn tiến triển, những bệnh 
nhân có thai sau phẫu thuật làm giảm nguy cơ. 
Tác giả Bourdel và cs khi nghiên cứu về điều trị 
phẫu thuật trong vô sinh do LNMTC năm 2012 
đưa ra kết luận nên chỉ định hỗ trợ sinh sản nếu 
không có thai tự nhiên trong vòng từ 6-12 tháng 
sau phẫu thuật.
- Giải phẫu bệnh lý không thấy tổn thương 
lạc nội mach tử cung 24,39%, tổn thương lạc nội 
mạc tử cung ở nơi khác 17,07%. LNMTC chứa 
đựng 4 thành phần chính: Tuyến nội mạc, mô 
đệm, tổ chức xơ hóa và hình thái xuất huyết. 
Theo quy định, phải biểu hiện ít nhất hai trong 
số 4 thành phần kể trên mới có thể phân loại 
kết luận tổn thương đây là LNMTC. Nội soi ổ 
bụng: Đây có thể coi là tiêu chuẩn vàng trong 
chẩn đoán bệnh u dạng nôi mạc tử cung ở buồng 
trứng. Tổn thương điển hình của phúc mạc là tổn 
thương “rực nóng”, có màu xanh đen với mô sợi 
bao bọc bên ngoài ở nhiều mức độ khác nhau. 
Nhưng phần lớn là tổn thương không điển hình: 
đỏ hoặc phúc mạc tẩm nhuộm màu vàng nâu 
hoặc những khiếm khuyết của phúc mạc. Những 
tổn thương đỏ có nhiều mạch máu tăng sinh 
cao và ở giai đoạn sớm của bệnh. Tổn thương 
trắng ít mạch máu, ít hoạt động hơn và thường 
ít triệu chứng. Theo Gere và cs (2007), các tổn 
thương LNMTC màu đỏ có khả năng gây dính 
cao hơn so với các tổn thương có màu đen trắng 
[10]. LNMTC ở buồng trứng là những nang có 
vỏ dày, dính, chứa đầy dịch nâu. Việc đánh giá 
chi tiết BT có độ tin cậy cao trong việc phát hiện 
LNMTC ở BT. Trong những trường hợp nghi ngờ 
và không rõ ràng thì việc chọc hút buồng trứng 
có thể có ích. LNMTC ở BT thường đi kèm với 
tổn thương của phúc mạc [4]. Mặt khác những 
hình ảnh qua nội soi rất đa dạng điển hình như 
những nốt hoặc những nang màu đen, nâu đen, 
xanh sậm, trong chứa dịch giống socola. Những 
dạng không điển hình: tổn thương đỏ rực như 
bị phỏng, như bị bắn chính vì sự đa dạng này 
của tổn thương LNMTC mà ngay cả quan sát khi 
phẫu thuật nội soi có thể bị nhầm, không chẩn 
đoán được [9]. U LNMTC ở buồng trứng (BT) là 
nang BT mà thành nang được bao phủ bởi mô 
NMTC và bên trong có chứa dịch màu nâu đen; 
đối với u LNMTC ở BT tồn tại lâu mô nội mạc dần 
dần được thay thế bằng mô sợi, cuối cùng, tất cả 
các thành phần tuyến của NMTC biến mất và do 
đó không có bằng chứng của LNMTC. Trong hầu 
hết trường hợp, thành nang bị xơ hoá với những 
điểm tăng sinh mạch máu và các tổn thương nội 
mạc xuất huyết. Nang dạng nội mạc ở buồng 
trứng là sự hiện diện lạc chỗ của tuyến nội mạc 
hoặc mô đệm nội mạc tại buồng trứng. Người 
ta cũng không chắc chắn rằng liệu có cần cả 
nội mạc và mô đệm nội mạc tử cung hay không, 
ngoài ra cũng không có các tiêu chuẩn hay yêu 
cầu về hoạt động trao đổi giữa mô tuyến nội mạc 
hay nang tuyến dạng nội mạc với tổ chức quanh 
nó [11]. Trong trường hợp khó xác định nang 
dạng nội mạc tại buồng trứng, người ta nhuộm 
hóa mô miễn dịch với CD10 để khẳng định nếu 
các tế bào ở đây dương tính, tổn thương phổ 
biến nhất ở buồng trứng, phụ thuộc estrogen; 
tỷ lệ tổn thương dạng nội mạc tử cung ung thư 
buồng trứng < 1% [12].
5. Kết luận
- Bệnh nhân có con chiếm tỉ lệ 58,54%
- Có tiền sử phẫu thuật LNMTC ở buồng trứng 
là 9,76%.
- Đau bụng kinh chiếm tỉ lệ cao nhất là 58,54%.
- Có 58,50% có u ở bên phải, bên trái là 24,4%, 
u hai bên là 17,10%.
- Trên siêu âm kích thước khối u ≤ 60 mm chiếm 
tỉ lệ cao nhất là 61%.
- CA-125 > 35 chiếm tỉ lệ là 83,78%.
- Hầu hết dính nặng với tỉ lệ 75,61%, dính trung 
bình là 19,51%, dính nhẹ 4,88%.
- Chủ yếu là phẫu thuật nội soi (92,68%). Bóc 
nang: 70,73%, cắt u: 29,27%.
- Giải phẫu bệnh lý không thấy tổn thương lạc 
nội mach tử cung 24,39%, tổn thương lạc nội mạc 
tử cung ở nơi khác 17,07%
PHẠM HUY HIỀN HÀO, NGUYỄN THỊ THU TRANG
116
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Bá Đức, Bùi Diệu. Tình hình mắc ung thư tại VN năm 2010 
qua số liệu của 6 vùng ghi nhận giai đoạn 2004-2008. Tạp chí ung thư 
học Việt Nam. 1-2010; pp. 73-80.
2. Lê Văn Thụ. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết 
quả điều trị phẫu thuật nội soi u lạc nội mạc tử cung. Luận văn chuyên 
khoa cấp II. Đại học Y Dược Huế. 2007.
3. Hoàng Thị Liên Châu. Nghiên cứu kết quả điều trị U lạc nội mạc 
tử cung tái phát tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế. Luận án 
chuyên khoa II. Đại học Y Dược Huế. 2013.
4. Trần Đình Vinh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và 
giá trị của siêu âm doppler màu trong chẩn đoán và theo dõi kết quả u 
lạc nội mạc tử cung. Luận án Tiến sĩ y học. Đại học Y Dược Huế. 2010.
5. Leng JH, Lang JH, Dai Y et al. Relationship between pain symtons and 
clinco-pathological features of pelvic endometriosis. Zhonghua Fu Chan 
Ke Za Zhi. 42(3); 2007. pp.165-8.
6. Nguyễn Duy Quang. Nhận xét điều trị u buồng trứng bằng phẫu 
thuật nội soi tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Luận văn Thạc sĩ y 
học. Đại học Y Hà Nội. 2009.
7. Nguyễn Văn Tuấn. Nghiên cứu kết quả điều trị u lạc nội mạc tử 
cung ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất 
đồng vận GnRH. Luận án Tiến sĩ y học. Đại học Y Dược Huế. 2012.
8. Chapron C., Vercellini P., Barakat H et al. Management of ovarian 
endometriomas, Human Reproduction Update. 8(6); 2002. pp.591-597.
9. Jacques Donnez. Atlas of Operative Laparoscopy and Hysteroscopy, 
Third Edition (Encyclopedia of Visual Medicine Series) 3rd Edition, CRC 
Press. 2007.
 10. Gere S., James C. and Jacques D. Clinical evaluation of 
endometriosis and differential response to surgical therapy with and 
without application of Oxiplex/AP adhesion barrier gel, Fertility and 
Sterility, 87; 2007. pp.485-489.
11. David L. Olive, and Lisa Barrie Schwartz. Endometriosis. N Engl J 
Med; 1993. 328: 1759-1769. doi: 10.1056/NEJM199306173282407.
12. Anglesio MS, Papadopoulos N, Ayhan A, Nazeran TM, Noe M et al. 
Cancer-Associated Mutations in Endometriosis without Cancer. N Engl J 
Med. 2017. 11;376(19):1835-1848. doi: 10.1056/NEJMoa1614814.

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_phau_thuat_u_lac_noi_mac_tu_cung_o_buong_trung_tai.pdf