Điều trị giải mẫn cảm với thuốc điều trị ung thư Epotosid

Thuốc hóa trị liệu được sử dụng trong điều trị các bệnh ác tính có khả năng gây dị ứng.

Phương pháp: Báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp. Trường hợp bệnh nhân nam 14 tuổi chẩn

đoán u tế bào mầm thể hỗn hợp vùng tuyến yên, có chỉ định điều trị thuốc hóa chất Epotosid.

Tiền sử 2 đợt trước bệnh nhân sử dụng thuốc không bị phản ứng gì, đợt này lần thứ 3, sau khi

truyền epotosid 20 phút bệnh nhân có cảm giác khó chịu, nổi mề đay toàn thân, không khó thở,

mạch huyết áp bình thường.

Xử trí ban đầu: Dừng truyền thuốc Epotosid, tiêm dimedrol, 60 phút sau hết ban bệnh

nhân lại được tiếp tục truyền lại epotosid, khi truyền 5 phút bệnh nhân xuất hiện nổi mề đay

toàn thân

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị giải mẫn cảm với thuốc điều trị ung thư Epotosid", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều trị giải mẫn cảm với thuốc điều trị ung thư Epotosid

Điều trị giải mẫn cảm với thuốc điều trị ung thư Epotosid
NGHIÊN CỨU
ĐIỀU TRỊ GIẢI MẪN CẢM VỚI THUỐC 
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ EPOTOSID
Lê Thị Thu Hương1, Trần Thu Hà1, Lê Thị Minh Hương1, 
Bùi Ngọc Lan1, Nguyễn Hoài Anh1
1 Bệnh viện Nhi Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Lê Thị Thu Hương. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 09/11/2018; Ngày phản biện khoa học: 15/11/2018; Ngày duyệt bài: 20/11/2018
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Thuốc hóa trị liệu được sử dụng trong điều trị các bệnh ác tính có khả năng gây dị ứng. 
Phương pháp: Báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp. Trường hợp bệnh nhân nam 14 tuổi chẩn 
đoán u tế bào mầm thể hỗn hợp vùng tuyến yên, có chỉ định điều trị thuốc hóa chất Epotosid. 
Tiền sử 2 đợt trước bệnh nhân sử dụng thuốc không bị phản ứng gì, đợt này lần thứ 3, sau khi 
truyền epotosid 20 phút bệnh nhân có cảm giác khó chịu, nổi mề đay toàn thân, không khó thở, 
mạch huyết áp bình thường.
Xử trí ban đầu: Dừng truyền thuốc Epotosid, tiêm dimedrol, 60 phút sau hết ban bệnh 
nhân lại được tiếp tục truyền lại epotosid, khi truyền 5 phút bệnh nhân xuất hiện nổi mề đay 
toàn thân.
Chẩn đoán: u tế bào mầm/dị ứng thuốc Epotosid. Do không có loại thuốc nào tại Việt 
Nam có thể thay thế được thuốc trên nên bệnh nhân đã được điều trị giải mẫn cảm với thuốc 
Epotosid. Quy trình điều trị giải mẫm cảm nhanh bao gồm 14 bước kéo dài 15 tiếng theo dõi 
liên tục tại phòng cấp cứu. Kết quả bệnh nhân đã được giải mẫn cảm bốn lần thành công với 
epotosid và kết thúc phác đồ điều trị, hiện bệnh nhân ổn định. 
Kết luận: Điều trị giải mẫn cảm là phương pháp lựa chọn trong những trường hợp không 
có thuốc điều trị thay thế.
Từ khóa: dị ứng thuốc, giải mẫm cảm, epotosid
Abstract
DESENSITIZATION FOR ALLERGY RECTION TO EPOTOSID AT NHP
Chemotherapeutic agents used for treating neoplastic disease have the potential to induce 
hypersensitivity reactions (HSRs). With an increase in the use of these drugs, the potential for 
HSRs has also increased and more cases are frequently being reported. 
32 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
ĐIỀU TRỊ GIẢI MẪN CẢM VỚI THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ EPOTOSID
Method: Rare clinical case report. We present a case in which a 14-year-old boy with mixed 
stem cell tumors was admitted to the National Children’s Hospital for oncology treatment. 
As he was receiving her third cycle of intravenous etoposide, he developed pruritus reaction. 
Twenty minutes into the etoposide infusion, the patient immediately became unpleasant feeling, 
generalized pruritus with dermatographia, no difficulty breathing, blood pressure normal. 
Initial management: Stopping the Epotosid infusion, dimedrol injection, 60 minutes after the 
patient was re-infused with epotosid, after 5 minutes of transmission, the patient had a systemic 
urticaria.
Diagnosis: mix germ cell tumors / epotosid allergy. Since in Vietnam there is no other 
chemotherapeutic can replace, the patient was treated with desensitization to Epotosid. The rapid 
induction treatment process consists of 14 steps lasting 15 hours of continuous monitoring in the 
emergency room. The result of patient were successfully desensitized and continued the Epotosid 
therapy course according to the regimen.
Conclusion: Desensitization treatment is the method of choice in cases where there is no 
alternative treatment drug.
Keywords: drug allergy, desensitization, epotosid
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thuốc hóa trị liệu dùng trong điều trị ung 
thư có nguy cơ gây ra phản ứng tăng mẫn 
cảm. Việc sử dụng các thuốc hóa trị liệu ngày 
càng nhiều nên khả năng tăng mẫn cảm với 
thuốc ngày càng tăng và ngày càng có nhiều 
ca bệnh được báo cáo. 
Các phương pháp lựa chọn để giải quyết 
khi tăng mẫn cảm với thuốc bao gồm: lựa 
chọn thuốc khác thay thế, sử dụng thuốc 
kháng histamine và corticoid (pre-med) 
trước và/ hoặc giải mẫn cảm. Tuy nhiên, việc 
lựa chọn thuốc thay thế không phải lúc nào 
cũng có, đặc biệt trong trường hợp điều trị 
đích. Mặc dù phương pháp pre-med có thể 
làm giảm hoặc ngăn ngừa nguy cơ tăng mẫn 
cảm với thuốc, tuy nhiên điều đó vẫn không 
an toàn và giải mẫn cảm là phương pháp cân 
nhắc được lựa chọn. Giải mẫn cảm là điều 
trị nền tảng trong trường hợp phản ứng với 
thuốc [1]. 
II. BÁO CÁO CA BỆNH 
Điều trị giải mẫn cảm là quá trình tạo ra sự 
dung nạp với thuốc tạm thời ở bệnh nhân dị 
ứng thuốc. Nguyên tắc là người bệnh được sử 
dụng thuốc với một liều nhỏ tăng dần trong 
khoảng thời gian nhất định để đưa tổng liều 
thuốc điều trị cho bệnh nhân nhưng giúp 
bệnh nhân tránh khỏi phản vệ. Quá trình giải 
mẫn cảm có nguy cơ rất cao phản vệ nên chỉ 
áp dụng cho những trường hợp bệnh nhân 
phản ứng với thuốc mà không có thuốc thay 
thế [2].
Thuốc Etoposide là antimitotic 
epipodophyllotoxin hoạt động chống lại một 
số bệnh ác tính bao gồm u tế bào mầm, u 
lympho, và carcinoma. Tỉ lệ bệnh nhân tăng 
mẫn cảm với thuốc này chiếm khoảng 6%, tỉ 
lệ phản vệ là 0,7%. 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 33
NGHIÊN CỨU
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu giải 
mẫn cảm và các ca bệnh báo cáo gợi ý tăng 
mẫn cảm với thuốc điều trị hóa chất có thể 
tránh được bằng cách truyền với nồng độ 
thấp và điều trị bằng cách sử dụng kháng 
histamine và corticoid trước truyền hóa chất 
[3].
Tại Việt Nam, đây là lần đầu tiên chúng tôi 
gặp và báo cáo ca bệnh: trẻ nam 14 tuổi, nhập 
viện mã số bệnh án: 090925478 với chẩn 
đoán u tế bào mầm thể hỗn hợp, chỉ định 
điều trị epotosid đợt 3 theo phác đồ. Tiền 
sử bệnh nhân đã điều trị hoá chất epotosid 
2 đợt, không có dấu hiệu và phản ứng gì bất 
thường. Lần này sau khi truyền dịch epotosid 
được 20 phút, bệnh nhân xuất hiện nổi mày 
đay, ngứa, tuy nhiên bệnh nhân không có dấu 
hiệu khó thở, mạch và huyết áp trong giới hạn 
bình thường. 
Xử trí: Dừng truyền thuốc epotosid, tiêm 
dimedrol. Sau 60 phút hết ban mày đay, bệnh 
nhân được truyền lại epotosid, tuy nhiên sau 
khi truyền lại 5 phút xuất hiện ban mày đay 
toàn thân, ngứa, mạch 90 chu kỳ/ phút, huyết 
áp 110/70. Lần này bác sĩ đã chỉ định ngừng 
truyền hoàn toàn, điều trị triệu chứng dị ứng 
mày đay. 
Bệnh nhân được hội chẩn cấp bệnh viện 
có sự tham gia của các bác sĩ chuyên khoa 
Ung bướu, khoa Miễn dịch- Dị ứng và Khoa 
Cấp cứu. Bệnh nhân được thống nhất chẩn 
đoán: u tế bào mầm thể hỗn hợp/dị ứng 
thuốc epotosid. Tại Việt Nam giải pháp điều 
trị bằng thuốc thay thế khác là không có, cân 
nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi điều trị và 
không điều trị thuốc epotosid cho bệnh nhân, 
hội đồng quyết định điều trị giải mẫn cảm với 
thuốc epotosid cho người bệnh. 
Ngày 28/03/2018 bệnh nhân được giải 
mẫn cảm với quy trình bao gồm 14 bước. 
Bệnh nhân được sử dụng trước khi giải mẫn 
cảm bằng dimedrol và dexamethasol. Chúng 
tôi sử dụng Epotosid với 3 nồng độ dung dịch 
với tỷ lệ 1/1000, 1/100, và 1/10. Với liều ban 
đầu là 1/1000 và quá trình giải mẫn mỗi bước 
cách nhau 15 phút với các liều tăng dần theo 
thứ tự (bảng 1). 
Bảng 1. Các bước thực hiện giải mẫn cảm thuốc theo quy trình
Bước 
thực 
hiện
Thời 
gian 
(giờ)
Nồng độ 
thuốc 
(mg/ml)
Lượng 
dịch tiêm 
(ml)
Tốc độ 
tiêm 
(ml/h)
Liều 
thuốc 
(mg)
Liều tích 
lũy (mg)
Phản ứng
1 0,25 0,00165 0,5 2 0,00085 0,00085 Không
2 0,25 0,00165 1,25 5 0,0020625 0,002888 Không
3 0,25 0,00165 2,5 10 0,004125 0,007013 Không
4 0,25 0,00165 5 20 0,00825 0,015263 Không
5 0,25 0.0165 0,5 2 0,00825 0,023513 Không
6 0,25 0,0165 1,25 5 0,020625 0,044138 Không
7 0,25 0.0165 2,5 10 0,04125 0,085388 Không
34 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
ĐIỀU TRỊ GIẢI MẪN CẢM VỚI THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ EPOTOSID
Kết quả ban đầu, sau 13 lần truyền bệnh 
nhân khá ổn định không có phản ứng gì, tuy 
nhiên đến lần thứ 14 bệnh nhân bắt đầu có 
biểu hiện mày đay. Xử lý: tạm dừng truyền 
epotosid và tiêm dimedrol. Sau 60 phút khi 
bệnh nhân hết ban ngứa mày đay, bệnh nhân 
được truyền lại epotosid với liều của bước 13 
(40ml/h), sau khi theo dõi, bệnh nhân không 
có phản ứng dị ứng, bệnh nhân được truyền 
tăng dần 50ml/h - 60ml/h. Khi tăng lên đến 
liều 70ml/h bệnh nhân lại xuất hiện nổi mày 
đay. Chu trình xử lý được lặp lại các bước 
dừng truyền Epotosid, tiêm dimedrol, khi 
bệnh nhân hết ban lại được truyền Epotosid 
với liều lùi xuống 60ml/h cho đến khi hết 
tổng liều điều trị mà không có phản ứng gì. 
Trong vòng ba ngày sau đó bệnh nhân được 
truyền hết đợt trị thuốc epotosid an toàn. 
III. BÀN LUẬN
Giải mẫn cảm phương pháp được sử dụng 
để tạo ra sự dung nạp tạm thời với thuốc. 
Phương pháp đưa thuốc từng bước với liều 
nhỏ tăng dần và tốc độ chậm theo quy trình 
để giảm khả năng cũng như mức độ nặng của 
phản ứng với thuốc [1]. Theo tác giả Castelels 
và cộng sự trong thực nghiệm invitro cho 
thấy, giải mẫn cảm nhanh ức chế cơ chế tạo 
ra đáp ứng kết hợp kháng nguyên kháng thể 
đặc hiệu phá vỡ tế bào mast [4]. Castells và 
Brigham cho thấy hiệu quả của giải mẫn cảm 
đạt đến 99,9% ở 800 bệnh nhân với các thuốc 
khác nhau[5]. 
Giá trị của các thuốc tiền giải mẫm cảm 
như dimedrol và corticosteroid vẫn còn nhiều 
cân nhắc và tranh cãi. Một số tác giả không 
ủng hộ sử dụng các thuốc tiền giải mẫm cảm 
(pre-med), vì các triệu chứng sớm của phản 
vệ có thể bị bỏ qua. Một số tác giả khác ủng hộ 
pre-med trước giải mẫn cảm vì có thể tránh 
được một số triệu chứng nhẹ (mày đay) ảnh 
hưởng đến quá trình giải mẫn và làm giảm sự 
lo lắng của bệnh nhân [6]. Trường hợp bệnh 
nhân của chúng tôi với tiền sử dị ứng dạng 
mày đay nên chúng tôi đã sử dụng phác đồ 
pre-med trước và trong quá trình điều trị giải 
mẫn, giúp giảm các triệu chứng mày đay.
Bệnh nhân của chúng tôi đạt được liều 
điều trị sau 14 bước với liều truyền và tốc độ 
và thể tích truyền tăng dần cách 15 phút cho 
mỗi bước. Sử dụng protocol giải mẫn này cho 
các chu trình điều trị sau bệnh nhân không có 
Bước 
thực 
hiện
Thời 
gian 
(giờ)
Nồng độ 
thuốc 
(mg/ml)
Lượng 
dịch tiêm 
(ml)
Tốc độ 
tiêm 
(ml/h)
Liều 
thuốc 
(mg)
Liều tích 
lũy (mg)
Phản ứng
8 0,25 0,0165 5 20 0,0825 0,167888 Không
9 0,25 0,165 0,5 2 0,0825 0,250388 Không
10 0,25 0,165 1,25 5 0,20625 0,456638 Không
11 0,25 0,165 2,5 10 0,4125 0,869138 Không
12 0,25 0,165 5 20 0,825 1,694138 Không
13 0,25 0,165 10 40 0,165 3,344138 Không
14 12,23 0,165 979 80 149,655 164,879 Có (mày đay)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 35
NGHIÊN CỨU
phản ứng gì. Theo Alvatez và cs mô tả báo cáo 
ca lâm sàng tương tự đã sử dụng protocol giải 
mẫn cảm 12 bước đạt được thành công bệnh 
nhân phản ứng với epotosid [7]. 
IV. KẾT LUẬN
Báo cáo ca lâm sàng về việc áp dụng quy 
trình giải mẫn cảm 12 và 14 bước với thuốc 
chống ung thư epotosid thành công tại Bệnh 
viện Nhi Trung ương. Điều này chỉ ra rằng 
khi không có thuốc điều trị thay thế trong các 
trường hợp dị ứng thuốc thì phương pháp 
điều trị giải mẫn cảm là giải pháp triển vọng 
được lựa chọn. Tuy nhiên phương pháp này 
đầy thách thức vì đối diện với nguy cơ cao 
phản vệ nên khi triển khai cần có sự chuẩn bi 
phương tiện cấp cứu và nhân viên y tế được 
đào tạo tốt về dị ứng và hồi sức cấp cứu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. M. V. A. Pedro Giavina-Bianchi, Violeta Régnier Galvão, Mariana Castells (2015). 
Rapid Desensitization in Immediate Hypersensitivity Reaction to Drugs. Current 
Treatment Options in Allergy, 2 (3), 268-285.
2. K. B. J. R. Cernadas , A. Romano , W. Aberer , M. J. Torres , A. Bircher , và M. L. S. 
P. Campi , M. Castells, P. Demoly & W. J. Pichler (2010). General considerations on 
rapid desensitization for drug hypersensitivity - a consensus statement. Allergy, 65, 
1357-1366.
3. B. Sebastian Garcia Escallon, Pravin K. Muniyappa, MDb, and Seshan Subramanian, 
MDb (2015). Successful rapid desensitization to intravenous etoposide using a 14-
step protocol. J ALLERGY CLIN IMMUNOL PRACT
4. M. Mariana C Castells, PhDRoland Solensky, MD (2009). Rapid desensitization for 
hypersensitivity reactions to medications. Immunol Allergy Clin North Am, 29, 585.
5. M. d. C. S.-S. Mariana Castells, Maria Simarro (2012). Hypersensitivity to 
antineoplastic agents: mechanisms and treatment with rapid desensitization. Cancer 
Immunology, Immunotherapy, 61 (9), 1575-1584.
6. J. d. l. B. G Gastaminza, MJ Goikoetxea, R Escudero, J Antón, J Espinós, C Lacasa, 
M Fernández-Benítez, ML Sanz, M Ferrer (2011). A New Rapid Desensitization 
Protocol for Chemotherapy Agents. J Investig Allergol Clin Immunol, 21 (2), 108-
112.
7. H. n. N. L. Álvarez Cardona A, Pérez Gómez M, Pedroza Meléndez Á, Huerta López 
JG (2010). Desensibilización para etopósido. Comunicación de un caso. Rev Alerg 
Mex., 57 (33-6), 
36 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_giai_man_cam_voi_thuoc_dieu_tri_ung_thu_epotosid.pdf