Điều trị dự phòng tiền sản giật

Tiền sản giật là một phần của rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ được định nghĩa bằng tăng

huyết áp và protein niệu xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Chiếm tỷ lệ từ 2 - 8% trong

thai kỳ, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ và tử vong chu sinh. Tuy

nhiên, phần lớn các trường hợp tử vong do tiền sản giật - sản giật có thể phòng ngừa được

thông qua việc dự phòng sự hình thành bệnh, đặc biệt ở những thai phụ có các yếu tố nguy

cơ cao tiền sản giật, và điều trị kịp thời và có hiệu quả cho những phụ tiền sản giật cũng như

các biến chứng. Tối ưu hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhằm ngăn chặn và điều trị phụ nữ

bị rối loạn tăng huyết áp, là một trong những mục tiêu trọng tâm của chương trình chăm sóc

sức khỏe sinh sản ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, là một bước cần

thiết để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của WHO. Trên cơ sở đó, WHO đã

phát triển và đưa ra các khuyến cáo dựa trên bằng chứng hiện nay nhằm hướng dẫn thực

hành lâm sàng để có thể quản lý tốt bệnh lý Tiền sản giật và sản giật.

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị dự phòng tiền sản giật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều trị dự phòng tiền sản giật

Điều trị dự phòng tiền sản giật
42 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG TIỀN SẢN GIẬT
 Trương Quang Vinh*, Nguyễn Vũ Quốc Huy*, Trần Mạnh Linh*
Tóm tắt
Tiền sản giật là một phần của rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ được định nghĩa bằng tăng 
huyết áp và protein niệu xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Chiếm tỷ lệ từ 2 - 8% trong 
thai kỳ, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ và tử vong chu sinh. Tuy 
nhiên, phần lớn các trường hợp tử vong do tiền sản giật - sản giật có thể phòng ngừa được 
thông qua việc dự phòng sự hình thành bệnh, đặc biệt ở những thai phụ có các yếu tố nguy 
cơ cao tiền sản giật, và điều trị kịp thời và có hiệu quả cho những phụ tiền sản giật cũng như 
các biến chứng. Tối ưu hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhằm ngăn chặn và điều trị phụ nữ 
bị rối loạn tăng huyết áp, là một trong những mục tiêu trọng tâm của chương trình chăm sóc 
sức khỏe sinh sản ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, là một bước cần 
thiết để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của WHO. Trên cơ sở đó, WHO đã 
phát triển và đưa ra các khuyến cáo dựa trên bằng chứng hiện nay nhằm hướng dẫn thực 
hành lâm sàng để có thể quản lý tốt bệnh lý Tiền sản giật và sản giật.
Summary
Pre-eclampsia is part of a spectrum of conditions known as the hypertensive disorders of 
pregnancy and is defined as hypertension and proteinuria detected for the first time in 
the second half of pregnancy, after 20 weeks’ gestation. Pre-eclampsia complicates 2–8% of 
pregnancies and is one of the important causes of maternal mortality and death perinatal. 
However, the majority of deaths due to pre-eclampsia and eclampsia can be avoidable 
through the provision of timely and effective care to the women presenting with these 
complications, especially in women with high risk factors of pre-eclampsia. Optimizing 
health care to prevent and treat women with hypertensive disorders, it an important 
threat to public health in both developed and developing countries and treat women with 
hypertensive disorders is a necessary step towards achieving the Millennium Development 
Goals. WHO has developed the present evidence informed recommendations with a view 
to promoting the best possible clinical practices for the management of pre-eclampsia and 
eclampsia.
(*) Trường Đại học Y Dược Huế
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 42-49, 2012
Trương Quang Vinh, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Trần Mạnh Linh l 43
Đặt vấn đề
Tiền sản giật (TSG) là bệnh lý thường gặp 
trong thai kỳ, theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ 
TSG xẩy ra thay đổi khoảng 5 – 15% trong tất 
cả các lần mang thai và có thể gặp đến 18% 
tại các nước đang phát triển. Tại Mỹ, tỷ lệ 
này khoảng 5 – 8%, trong đó 75% thuộc mức 
độ TSG nhẹ và 25% mức độ nặng [15]. Hiện 
nay, TSG – SG vẫn là nguyên nhân chủ yếu 
gây tử vong mẹ và chu sinh trên thế giới. Ở 
một số nước đang phát triển thuộc châu Phi 
và châu Á, gần 1/10 các trường hợp tử vong 
mẹ có liên quan đến rối loạn huyết áp trong 
thai kỳ, ở châu Mỹ La Tinh, 1/4 trường hợp 
tử vong mẹ được xác định do TSG kết hợp 
với những biến chứng kèm theo. Đặc biệt, tử 
vong chu sinh tăng gấp 5 lần ở các thai phụ 
TSG do hậu quả của thai chậm tăng trưởng 
trong tử cung và sinh non [19]. 
TSG được định nghĩa là tăng huyết áp, 
huyết áp tối đa ≥ 140mmHg, huyết áp tối 
thiểu ≥ 90mmHg, kết hợp với protein niệu 
xuất hiện từ 0,3 gram trong 24 giờ, xẩy ra sau 
tuần thứ 20 của thai kỳ. Trong số các rối loạn 
tăng huyết áp trong thai kỳ, TSG – SG nổi bật 
với tần suất cao kèm các biến chứng phức 
tạp. Biến chứng ở thai nhi bao gồm trọng 
lượng khi sinh thấp, sinh non hoặc tử vong 
chu sinh. Biến chứng ở thai phụ bao gồm suy 
thận, hội chứng HELLP, suy gan, phù não 
với sản giật và có thể dẫn đến tử vong. Ngoài 
ra, hậu quả của TSG còn kéo dài dai dẳng 
sau khi sinh, với biến chứng đáng lưu ý là 
rối loạn chức năng nội mạc làm người mẹ có 
nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim mạch. 
Tuy nhiên, phần lớn tử vong do TSG – SG 
có thể tránh được thông qua việc phát hiện 
kịp thời và kiểm soát hiệu quả bệnh và các 
biến chứng. Tối ưu của công tác chăm sóc 
sức khỏe thai sản vẫn là ngăn chặn tiến triển 
nặng, ngăn chặn xuất hiện các biến chứng và 
đặc biệt là dự phòng được sự hình thành TSG, 
chính vì vậy WHO đã không ngừng tích cực 
đưa ra các bằng chứng lâm sàng, các khuyến 
cáo nhằm thúc đẩy áp dụng trong thực hành 
quản lý tiền sản đối với bệnh lý TSG – SG [20].
Bệnh nguyên và các yếu tố nguy cơ
Mặc dù cho đến nay y học chưa hiểu hết 
các cơ chế bệnh sinh của TSG, nhưng có 
một điều rõ ràng là rau thai đóng một vai 
trò rất quan trọng vì những dấu hiệu của 
TSG vẫn có thể xảy ra trên một thai trứng 
(không có thai) và tình trạng bệnh lý có thể 
được giải quyết triệt để một khi đưa được 
rau thai ra ngoài. 
Sự xâm lấn của tế bào nuôi ở giai đoạn 
đầu trong thai kỳ, sự suy yếu các động mạch 
xoắn tử cung, giảm tưới máu rau thai, tăng 
phản ứng viêm, tăng sản xuất các yếu tố 
chống đông, tổn thương tế bào nội mạch là 
những rối loạn đã được chứng minh trong 
tiền sản giật. Sự thiếu máu tử cung - rau làm 
hoạt hoá hệ thống Renine - Angiotensine của 
tử cung gây co mạch tăng huyết áp, sự mất 
cân bằng của 2 loại Prostaglandin do bánh 
rau sinh ra là Prostacyclin và Thromboxane 
theo hướng tăng Thromboxane, là chất co 
mạch, kích thích sự kết dính tiểu cầu và sự 
co thắt các tiểu động mạch là nguyên nhân 
gây bệnh cảnh lâm sàng của TSG – SG. Tổn 
thương thiếu máu cục bộ, xuất huyết, hoại 
tử là hậu quả của sự co các tiểu động mạch 
xuất hiện trong tổn thương các cơ quan như 
gan, phổi, tim, thận, não. 
Các nghiên cứu về cả dịch tễ học và 
nghiên cứu gia hệ đều cho thấy các yếu tố 
di truyền chi phối đáng kể đến tính dễ mắc 
bệnh tiền TSG – SG. Theo Esplin (2001), tỷ lệ 
mắc TSG ở những người phụ nữ có tiền sử 
gia đình về TSG cao gấp 3 lần so với những 
người phụ nữ không có tiền sử gia đình. 
Cho đến nay, ước tính có hơn 70 gene được 
quan tâm nghiên cứu như là những gene 
ứng viên cho tính dễ mắc TSG, các gene này 
thuộc 5 nhóm chức năng có liên quan đến cơ 
44 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
chế bệnh sinh của TSG. Một số yếu tố bà mẹ 
làm tăng nguy cơ phát triển TSG bao gồm 
tăng huyết áp, giảm chức năng thận, béo 
phì, đề kháng insulin và đái đường. Yếu tố 
di truyền hoặc tăng đông máu cũng được 
cho là yếu tố nguy cơ sớm, gây TSG nặng 
mặc dù vấn đề này còn tranh cải.
Bảng 1. Các yếu tố nguy cơ TSG [15].
Các yếu tố nguy cơ Tiền sản giật
– Tuổi mẹ ≥ 40 hoặc ≤ 18 tuổi
– Tiền sử mang thai TSG
– Tiền sử có lần mang thai chậm phát triển, 
rau bong non
– Tiền sử sinh con dị tật bẩm sinh
– Tăng huyết áp mãn tính
– Bệnh lý thận 
– Hội chứng kháng thể kháng Phospholpid
– Bệnh lý mạch máu hoặc mô liên kết
– Lupus ban đỏ hệ thống, bệnh tự miễn
– Đái đường (trước hoặc đái đường thai 
nghén)
– Đa thai
– Tăng chỉ số BMI
– Gia đình có người có tiền sử mang thai 
TSG
– Thai chậm phát triển trong tử cung
– Bản thân thai phụ sinh nhẹ cân
– Khoảng cách giữa các lần mang thai dài 
trên 10 năm.
– Có thói quen hút thuốc lá
– Nghiện rượu
Điều trị dự phòng tiền sản giật
Một trong những khó khăn trong việc 
chăm sóc cho phụ nữ mang thai TSG – SG là 
chưa có phương pháp nào có thể dự đoán 
ở mức tin cậy cao những đối tượng sẽ tiến 
triển thành bệnh hoặc nặng hơn và cũng 
không thể cho nhập viện đánh giá, chăm 
sóc trước sinh với một số lượng lớn những 
phụ nữ có nguy cơ cao mắc TSG – SG để 
theo dõi tại các đơn vị chăm sóc tiền sản. 
Như vậy, tìm ra một can thiệp trong phòng 
ngừa TSG sẽ có tác động tích cực trong 
công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ 
em trên toàn thế giới. 
Dự phòng TSG gồm dự phòng sơ cấp, là 
ngăn ngừa ngay từ các yếu tố nguy cơ của 
bệnh, như điều chỉnh trọng lượng người phụ 
nữ trước khi mang thai, đặc biệt là những 
người béo phì, kiểm soát huyết áp trước sinh, 
kiểm tra và điều chỉnh bệnh lý Đái đường 
trước và trong quá trình mang thai Dự 
phòng thứ cấp là phòng ngừa phát triển TSG, 
đặc biệt là từ nhóm có nguy cơ, bao gồm 
điều chỉnh chế độ ăn, dự phòng không dùng 
thuốc như giảm stress, nghỉ ngơi, hoạt động 
thể dục thường xuyên, thay đổi một số thói 
quen không tốt cho sức khỏe như hút thuốc 
lá  và sử dụng thuốc dự phòng TSG. 
Đã có nhiều chiến lược trong phòng 
ngừa TSG được ngiên cứu và thử nghiệm 
tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào có thể tìm 
ra can thiệp mang lại được hiệu quả cao, 
nguyên nhân do các tiếp cận chỉ dùng lại 
ở một khía cạnh trong khi đó bệnh nguyên 
TSG lại liên quan đến nhiều rối loạn phức 
tạp mặc dù biểu hiện lâm sàng chỉ là tăng 
huyết áp và protein niệu.
Sử dụng thuốc dự phòng Tiền sản giật
Dự phòng bằng thuốc chống ngưng tập 
tiểu cầu
Các nghiên cứu cho rằng TSG có liên 
quan đến tăng tiêu thụ tiểu cầu và tổng 
hợp Thromboxan là cơ sở dẫn đến những 
thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá liệu pháp 
Aspirin liều thấp ở phụ nữ có nguy cơ 
cao. Aspirin liều thấp xác định từ 60 đến 
150mg/ngày, với liều này làm giảm tổng 
hợp thromboxan trong khi vẫn duy trì 
mạch tổng hợp tường prostacyclin. Thuốc 
đã được nghiên cứu cho dự phòng TSG và 
phòng ngừa sự tiến triển của TSG nhẹ đến 
nặng, tác động làm giảm nguy cơ tiền sản 
Trương Quang Vinh, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Trần Mạnh Linh l 45
giật, cũng như sinh non, thai chậm phát 
triển trong tử cung khoảng 10 đến 15%. 
Đối với nhóm có nguy cơ cao TSG bao 
gồm: Dương tính với test Angiotensin II ở 
đầu quý 3 thai kỳ, có tiền sử TSG nặng với 
thai chậm phát triển và thai chết trong tử 
cung và có test lăn người dương tính. Hiệu 
quả tác động aspirin liều thấp lên nhóm này 
trong những nghiên cứu nhỏ từ 32 đến 100 
bệnh nhân đã được điều trị cho thấy tần suất 
TSG chỉ từ 0 – 3% ở nhóm điều trị Aspirin 
liều thấp so với 12 – 35% ở nhóm không điều 
trị hoặc điều trị giả dược. Ngoài ra, kết quả 
các nghiên cứu nhận thấy Aspirin liều thấp 
có tác dụng giảm sản xuất thromboxan, thay 
đổi một phần trong tổng hợp prostacyclin 
hoặc prostaglandin E theo hướng làm giảm 
tỷ lệ thromboxan/prostacyclin. Khi so sánh, 
nhóm dùng giả dược có liên quan đến tăng 
tỷ lệ thromboxan/prostacyclin.
Đối với nhóm có nguy cơ TSG, sử dụng 
aspirin liều thấp, bắt đầu sớm trong thai kỳ, 
làm giảm tỷ lệ TSG. Phân tích Cochrane đánh 
giá sự an toàn và hiệu quả aspirin liều thấp 
để dự phòng TSG; 51 thử nghiệm với hơn 
36.000 phụ nữ có nguy cơ TSG. Kết quả cho 
thấy sử dụng aspirin liều thấp có liên quan 
thấp, nhưng đáng kể, giảm nguy cơ TSG (0.81 
RR, 95% CI 0,75-0,88), sinh non tháng (0,93 
RR, 95% CI 0,89-0,98), và tử vong chu sinh 
(RR 0,84 , 95% CI 0,74-0,96) [5]. Một phân tích 
hệ thống trên 14 thử nghiệm khác bao gồm 
hơn 12.000 phụ nữ có yếu tố nguy cơ TSG 
cho thấy Aspirin liều thấp làm giảm nguy cơ 
phát triển TSG (OR 0,86, 95% CI 0,76-0,96), tử 
vong chu sinh (OR 0,79, 95% CI 0,64-0,96) và 
sinh non (OR 0,86, 95% CI 0,79 -0,94), nhưng 
không thay đổi đáng kể đến cân nặng lúc 
sinh hoặc nguy cơ rau bong non [4]. 
Bất thường doppler động mạch tử cung 
là một yếu tố dự báo tốt đến nguy cơ phát 
triển TSG và thai chậm phát triển tuy nhiên 
sử dụng aspirin liều thấp dự phòng TSG ở 
nhóm này vẫn cần được chứng minh. Một 
thử nghiệm ngẫu nhiên ở Pháp trên 1.253 thai 
phụ con so từ 23 – 24 thai kỳ, điều trị Aspirin 
100mg/ngày nếu như doppler bất thường 
và 617 phụ nữ không doppler và điều trị giả 
dược. Kết quả nhóm có bất thường Doppler 
có tỷ lệ TSG, thai chậm phát triển cao hơn 
nhóm có doppler bình thường nhưng tỷ lệ 
TSG xuất hiện ở nhóm có theo dõi doppler 
và điều aspirin liều thấp khác biệt không có ý 
nghĩa so với nhóm không theo dõi [16].
Sử dụng Aspirin liều thấp trong điều trị 
dự phòng TSG đã được khuyến cáo ở một số 
trung tâm, đặc biệt ở nhóm phụ nữ có nguy 
cơ trung bình, cao với TSG. NICE hướng 
dẫn điều trị Aspirin liều thấp 75mg ở những 
thai phụ khi có một trong các yếu tố nguy 
cơ cao TSG: THA mãn tính, đái đường, bệnh 
tự miễn, tiền sử THA trong thai kỳ, hoặc ít 
nhất có 2 yếu tô nguy cơ trung bình ( mẹ ≥ 
40 tuổi, con so, đa thai, khoảng cách giữa 2 
lần sinh trên 10 năm, BMI ≥ 35, tiền sử gia 
đình có TSG) [16]. Trong khi đó, Hiệp hội Sản 
phụ khoa Hoa Kỳ khuyến cáo không nên sử 
dụng Aspirin ở nhóm có nguy cơ thấp nhưng 
không có kết luận nào cho nhóm nguy cơ cao 
và trung bình [1]. Thời điểm bắt đầu khoảng 
12 – 14 tuần. Liều thấp tối ưu khoảng 60 đến 
150mg/ngày là sẵn có và giá thành chấp nhận 
được. Tính an toàn khi sử dụng aspirin liều 
thấp trong ba tháng giữa và cuối thai kỳ cũng 
được chứng minh. Tuy nhiên thời gian quan 
trọng nhất trong mục đích sử dụng là ba 
tháng đầu thai kỳ vì bệnh sinh của TSG phát 
triển trong thời gian này. Ngưng Aspirin 5 
đến 10 ngày trước khi sinh dự kiến sẽ làm 
giảm bớt nguy cơ chảy máu trong khi sinh. 
Các nghiên cứu tập chủ yếu vào vai trò 
của Aspirin trong dự phòng hình thành TSG 
(dự phòng sơ cấp) riêng đối với dự phòng 
tiến triển nặng của TSG, các khuyến cáo cho 
46 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
rằng aspirin liều thấp ít hoặc không có tác 
dụng ở những phụ nữ đã phát triển TSG cho 
dự phòng tiến triển nặng thêm. Ở giai đoạn 
cuối, aspirin không ngăn ngừa tiến triển đến 
bệnh nặng hơn mà có thể làm trầm trọng 
thêm tình trạng chảy máu ở bệnh nhân có 
hội chứng HELLP.
Dự phòng bằng thuốc chống đông
Đặc trưng bánh rau trong TSG là thiếu 
máu cục bộ đơn vị rau thai, nhồi máu gai 
rau, bất thường các động mạch xoắn. Dự 
phòng chống đông ở phụ nữ có nguy cơ 
TSG cao được đề xuất nhằm giảm thiểu sự 
hình thành huyết khối và duy trì tưới máu 
đơn vị rau thai [9]. Không có các nghiên cứu 
lớn đánh giá sử dụng thuốc chống đông 
như heparin, heparin trọng lượng phân tử 
thấp để dự phòng TSG ở phụ nữ có nguy cơ. 
Một số nghiên cứu nhỏ về vai trò heparin 
hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp có 
kết hợp hoặc không với thuốc chống ngưng 
tập tiểu cầu đã cho thấy có kết quả trong 
dự phòng TSG, nhưng thuốc chống đông 
không được khuyến cáo để giảm nguy cơ 
TSG trong quần thể. Vấn đề dùng chống 
đông có hiệu quả trong việc ngăn ngừa TSG 
ở phụ nữ vẫn còn là một vấn đề cần tiếp tục 
nghiên cứu [12].
Cung cấp Canxi
Tương tự Aspirin, cung cấp canxi thường 
xuyên không có tác dụng ở những thai phụ 
khỏe mạnh. Những người mang thai với chế 
độ ăn cơ bản là có thể cung cấp đủ canxi. Cung 
cấp canxi có thể có vai trò trong dự phòng 
TSG ở một số quần thể nguy cơ cao, đặc biệt là 
những người có chế độ ăn canxi thấp.
Bổ sung canxi, liều 1,5 – 2gram cacbonat 
canxi mỗi ngày, đã được xác định có tác 
dụng dự phòng rối loạn tăng huyết áp của 
thai kỳ. Vấn đề đã được chứng minh trong 
một phân tích Cochrane gồm 13 nghiên cứu 
ngẫu nhiên hơn 15.000 phụ nữ trong đánh 
giá tác động của việc bổ sung canxi đến 
phát triển của các rối loạn tăng huyết áp 
trong thai kỳ. Bổ sung canxi làm giảm phát 
triển TSG (0,45 RR, 95% CI 0,31-0,65), giảm 
nguy cơ sinh non (0.76 RR, 95% CI 0,60-
0,97). Trong các nhóm này, cung cấp canxi 
đặc biệt làm giảm tỷ lệ nguy cơ lớn nhất là 
ở nhóm phụ nữ có nguy cơ cao của TSG (5 
nghiên cứu trên 587 phụ nữ: RR 0,22, 95% CI 
0,12-0,42), và cho những đối tượng có lượng 
canxi cung cấp cơ bản thấp (8 nghiên cứu 
nghiệm trên 10.678 phụ nữ: RR 0,36, 95% CI 
0,20-0,65) [11]. Tuy nhiên, một nghiên cứu 
lớn của WHO ở những phụ nữ có lượng 
canxi cung cấp cơ bản thấp đã cho thấy 
không làm giảm tỷ lệ TSG, nhưng có một sự 
giảm có ý nghĩa khi bắt đầu phát triển sớm 
TSG và bệnh nặng [6]. 
Vai trò của cung cấp canxi ở những 
phụ nữ nguy cơ thấp với chế độ ăn uống 
bình thường, lượng canxi đầy đủ cho thấy 
bổ sung canxi không có ý nghĩa trong việc 
ngăn ngừa TSG, ngược với các nghiên cứu 
nhóm nguy cơ cao. Tại Hoa Kỳ, trong thử 
nghiệm trên 4.589 phụ nữ mang thai con so 
khỏe mạnh tuổi thai 13 – 21 tuần được phân 
ngẫu nhiên nhóm nhận được canxi (2 gram/
ngày) và nhóm giả dược. Kết luận không có 
sự khác biệt giữa hai nhóm này về tỷ lệ xuất 
hiện TSG, 6,9% so với 7,3% [7].
Chất chống Oxy hóa
Bệnh học TSG đã được mô tả như một 
quá trình gồm hai giai đoạn: ban đầu là 
giảm tưới máu đơn vị rau thai tiếp theo là 
giải phóng các yếu tố rau thai làm rối loạn 
chức năng tế bào nội mạch, các chất oxy 
hóa có thể là nguyên nhân của rối loạn chức 
năng tế bào nội mạch. Giả thuyết này được 
củng cố bằng các nghiên cứu chỉ ra có sự 
hiện diện của các chất oxy hóa trong tuần 
hoàn ở những phụ nữ này. Vì lý do đó, chất 
chống oxy hóa đã được nghiên cứu đề xuất 
cho dự phòng và điều trị TSG [2]. 
Một phân tích Cochrane trên 7 nghiên 
cứu trên 6.000 phụ nữ nhằm đánh giá hiệu 
quả của bổ sung chất chống oxy hóa trong dự 
phòng TSG. Cung cấp các vitamin C, vitamin 
E, selen, dầu gan cá bơn (có chứa vitamin A), 
Trương Quang Vinh, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Trần Mạnh Linh l 47
dầu cá và lycopene, một số trường hợp có kết 
hợp với aspirin. Kết quả, bổ sung với bất kỳ 
chất chống oxy hóa trong khi mang thai so 
với không điều trị hoặc giả dược có liên quan 
với việc giảm 39% nguy cơ tương đối của 
TSG (RR 0,61, 95% CI 0,50-0,75), tương ứng 
với việc giảm nguy cơ tuyệt đối xuống 3%. 
Tuy nhiên phân tích giới hạn bởi các nghiên 
cứu có dữ liệu chất lượng kém hoặc không 
phải nghiên cứu ngẫu nhiên [13]. 
Cung cấp Vitamin D 
Cung cấp Vitamin D, các nghiên cứu 
quan sát đã báo cáo về mối liên quan giữa 
tình trạng thiếu vitamin D và tăng nguy cơ 
TSG và thời điểm bắt đầu sớm TSG nặng. 
Một nghiên cứu cho thấy giảm 29% nguy cơ 
TSG ở phụ nữ có bổ sung vitamin D (10 - 15 
microg/ngày tương đương 400 - 600IU/ngày. 
Thuốc hạ huyết áp và Nitric Oxide
Các nghiên cứu đã không chứng minh 
được hạ huyết áp bằng thuốc hạ huyết áp 
(bao gồm cả lợi tiểu) làm giảm nguy cơ TSG, 
rau bong non. Tuy nhiên làm giảm mức độ 
nặng của tăng huyết áp [3]. 
Nitric oxide đóng vai trò trung gian giảm 
mạch và chống ngưng tập tiểu cầu, những 
phụ nữ TSG có thể thiếu Nitric oxide. Tuy 
nhiên, không có bằng chứng rằng oxit 
nitric (Glyceryl trinitrate) hoặc tiền chất 
(L-arginine) có thể ngăn ngừa TSG [8].
Dự phòng tiền sản giật bằng các biện 
pháp không dùng thuốc
Chế độ nghỉ ngơi và dự phòng và điều trị 
tiền sản giật
Những bằng chứng liên quan đến chế độ 
nghỉ ngơi hoặc giảm hoạt động thể lực trong 
phòng ngừa TSG và các biến chứng được 
phân tích trong tổng quan Cochrane dựa 
trên các thử nghiệm nhỏ, thời gian nghỉ ngơi 
tại nhà từ 4 – 6 giờ mỗi ngày được đưa vào 
nghiên cứu. Kết luận đưa ra là các bằng chứng 
tìm thấy không có giá trị cao vì mẫu nhỏ cũng 
như dữ liệu không đầy đủ. Khuyến cáo chung 
của WHO 2011 đưa ra là tư vấn cho thai phụ 
nghỉ ngơi tại nhà không được khuyến cáo như 
một can thiệp trong điều trị dự phòng TSG ở 
những thai phụ có nguy cơ TSG [20].
Hút thuốc lá và giảm áp lực trong công 
việc
Trong nghiên cứu của Sharma J.B và 
cộng sự, các tress trong công việc là nguy 
cơ cao của TSG [14], là cơ sở trong việc giảm 
các tress và dự phòng TSG. Tương tự, thuốc 
lá được cho là nguy cơ thai chậm phát triển, 
tăng nguy cơ sinh non và rau bong non 
cũng như các tác dụng không có lợi cho thai 
phụ và giảm nguy cơ TSG. Tuy nhiên, bằng 
chứng cần được tiếp tục chứng minh.
Tập thể dục thường xuyên trước khi 
mang thai
Có mối liên quan giữa tập thể dục hợp 
lý, thường xuyên và giảm nguy cơ tăng 
huyết áp ở những người bình thường, 
những đối tượng không liên quan đến thai 
nghén. Đó là cơ sở cho các nghiên cứu về 
tập thể dục và giảm nguy cơ TSG và các 
biến chứng. Phân tích Cochrane dựa trên 
hai thử nghiệm nhỏ (45 phụ nữ) so sánh 
nhóm có cường độ hoạt động thể dục vừa 
phải, thường xuyên và nhóm duy trì hoạt 
động thể chất bình thường trong thai kỳ 
liên quan đến nguy cơ TSG. Tuy nhiên, kết 
luận đưa ra chưa đủ bằng chứng kết luận 
tập thể dục có hiệu quả trong dự phòng 
TSG và các biến chứng [11].
Chế độ dinh dưỡng và dự phòng tiền 
sản giật
Giảm cân 
Mặc dù béo phì có liên quan với nguy cơ 
TSG, một vài nghiên cứu đã đánh giá hiệu 
quả của việc giảm cân về nguy cơ này, những 
phụ nữ trải qua phẫu thuật giảm cân có thể 
làm giảm đáng kể nguy cơ TSG, ngoài ra 
những phụ nữ có tiền sử TSG giảm cân giữa 
những lần mang thai sau có thể giảm nguy 
cơ TSG cho những lần mang thai đó [10]. 
Đạt chuẩn trọng lượng trước khi mang thai 
và giảm cân ở những phụ nữ béo phì trong 
quá trình mang thai không được khuyến cáo 
trong dự phòng TSG và các biến chứng.
48 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Chế độ ăn hạn chế muối và dự phòng 
ngừa tiền sản giật
Bằng chứng về các tác động khác nhau 
của thay đổi lượng muối trong chế độ ăn 
uống liên quan đến phát triển TSG và các 
biến chứng được phân tích Cochrane trên 
hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng 
trên 603 phụ nữ ở Hà Lan. Những đối 
tượng tham gia là những thai phụ con so 
có huyết áp bình thường lúc bắt đầu thử 
nghiệm, so sánh lượng muối trong chế độ 
ăn, hạn chế muối (20 mmol/ngày hoặc 50 
mmol/ngày) với những thai phụ được tư 
vấn tiếp tục với chế độ ăn bình thường. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa đến kết 
quả phát triển TSG, (hai nghiên cứu, 603 
thai phụ, RR 1,11 95% CI 0,49 – 1,94). Mặc 
dù không hạn chế trong chất lượng các 
nghiên cứu nhưng, cỡ mẫu nhỏ làm hạn 
chế kết quả phân tích nên khuyến cáo hạn 
chế muối trong chế độ ăn không được 
WHO đưa ra trong dự phòng TSG [18].
Chế độ ăn uống đặc trưng bởi ăn nhiều 
rau, trái cây, và các loại dầu thực vật, giàu 
chất xơ, tỏi, hạn chế thức ăn giàu protein, 
giàu năng lượng, dầu cá và dự phòng TSG 
đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, thử nghiệm 
lâm sàng đánh giá các can thiệp này chưa 
được thực hiện đầy đủ. Cần thiết có các 
thử nghiệm ngẫu nhiên lớn trước khi đưa 
ra khuyến cáo có thể hướng dẫn thực hành 
lâm sàng. 
Kết luận
Đã có nhiều chiến lược được nghiên cứu 
và thử nghiệm thực hiện nhằm điều trị dự 
phòng TSG tuy nhiên chưa có một phương 
pháp can thiệp nào có giá trị, hiệu quả cao. 
Một số khuyến cáo được đưa ra là:
- Aspirin liều thấp hiện tại là thuốc duy 
nhất mà có một số bằng chứng về hiệu quả 
trong điều trị làm giảm nguy cơ TSG.
+ Nhóm phụ nữ có nguy cơ thấp đối với 
TSG, aspirin liều thấp không có bằng chứng 
về hiệu quả dự phòng.
+ Nhóm nguy cơ trung bình đến nguy cơ 
cao tiền sản giật, đề nghị dự phòng aspirin 
liều thấp. Không có sự thống nhất về các 
tiêu chí để xác định phụ nữ có nguy cơ 
trung bình đến nguy cơ cao bị tiền sản giật.
+ Liều thấp tối ưu của Aspirin chưa 
thống nhất, đề nghị 81 mg/ngày, bắt đầu 
vào cuối tháng thứ 3 thai kỳ. Aspirin ngưng 
5 đến 10 ngày trước khi sinh dự kiến sẽ làm 
giảm bớt nguy cơ chảy máu trong khi sinh. 
Không có tác động bất lợi đến mẹ hoặc thai 
nhi đã được chứng minh.
- Không khuyến cáo cung cấp thường 
xuyên canxi cho phụ nữ khỏe mạnh để ngăn 
chặn TSG. Tuy nhiên có hiệu quả dự phòng 
TSG trong nhóm nguy cơ cao hoặc nhóm có 
chế độ ăn ít canxi. 
- Không khuyến cáo bổ sung vitamin C và 
E để ngăn chặn tiền sản giật, không khuyến 
cáo dùng dầu cá để ngăn ngừa tiền sản giật. 
1. ACOG, Diagnosis and management of 
preeclampsia and eclampsia. ACOG 
practice bulletin #33. American College 
of Obstetricians and Gynecologists, 
Washington, DC 2002.
2. Banerjee S, Chambers AE, Campbell 
S, Vitamin E safe prophylaxis for 
preeclampsia? Am J Obstet Gynecol. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2006;194(5):1228.
3. Churchill D, Beevers GD, Meher S, 
Rhodes C, Diuretics for preventing 
pre-eclampsia. Cochrane Database Syst 
Rev. 2007.
4. Coomarasamy A, Honest H, 
Papaioannou S, Gee H, Khan KS, 
Aspirin for prevention of preeclampsia 
Trương Quang Vinh, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Trần Mạnh Linh l 49
disease. Aust N Z J Obstet Gynaecol. 
1995;35(4):357. 
13. Rumbold A, Duley L, Crowther C, 
Haslam R, Antioxidants for preventing 
pre-eclampsia. Cochrane Database 
Syst Rev. 2005.
14. Sharma J.B, Sharma A, Bahadur A, 
Vimala N, Satyam A, Mittal S, Oxidative 
stress markers and antioxidant levels in 
normal pregnancy and pre-eclampsia, 
International Journal of Gynecology 
and Obstetrics (2006) 94,23—27
15. Sibai BM, Diagnosis and Management 
of Gestational Hypertension and 
reeclampsia, Obstetrics & gynecology. 
2003; 102 (1): 181-192.
16. Subtil D, Goeusse P, Houfflin-Debarge 
V, Puech F, Lequien P, Breart G, Uzan S, 
Quandalle F, Delcourt YM, Malek YM, 
Randomised comparison of uterine 
artery Doppler and aspirin (100 mg) 
with placebo in nulliparous women. 
(ERASME) Collaborative Group. BJOG. 
2003;110(5):485.
17. Villar J, Abdel-Aleem H, Merialdi 
M, Mathai M, Ali MM, Zavaleta N, 
Purwar M, Hofmeyr J, Nguyen TN, 
Campódonico L, Landoulsi S, Carroli 
G, Lindheimer M, World Health 
Organization randomized trial of 
calcium supplementation among low 
calcium intake pregnant women. Am J 
Obstet Gynecol. 2006;194(3):639.
18. Visintin C, Mugglestone MA, Almerie 
MQ, et al, Management of hypertensive 
disorders during pregnancy: summary 
of NICE guidance. BMJ 2010; 341:c2207.
19. WHO, Antiplatelet agents for 
preventing pre-eclampsia and 
complications, RHL practical aspects 
(last revised: 23 June 2007).
20. WHO, Recommendations for 
Prevention and treatment of pre-
eclampsia and eclampsia, World Health 
Organization 2011.
in women with historical risk factors: 
a systematic review. Obstet Gynecol. 
2003;101(6):1319.
5. Duley L, Smart DJ, Knight M, King 
JF, Antiplatelet agents for preventing 
pre-eclampsia and its complications. 
Cochrane Database Syst Rev. 2004.
6. Hofmeyr GJ, Lawrie TA, Atallah AN, 
Duley L, Calcium supplementation 
during pregnancy for preventing 
hypertensive disorders and related 
problems. Cochrane Database Syst 
Rev. 2010.
7. Levine RJ, Hauth JC, Curet LB, Sibai BM, 
Catalano PM, Morris CD, DerSimonian 
R, Esterlitz JR, Raymond EG, Bild DE, 
Clemens JD, Cutler JA, Trial of calcium 
to prevent preeclampsia.. N Engl J Med. 
1997;337(2):69.
8. Meher S, Duley L, Nitric oxide for 
preventing pre-eclampsia and its 
complications. Cochrane Database Syst 
Rev. 2007.
9. Mello G, Parretti E, Fatini C, Riviello 
C, Gensini F, Marchionni M, Scarselli 
GF, Gensini GF, Low-molecular-
weight heparin lowers the recurrence 
rate of preeclampsia and restores the 
physiological vascular changes in 
angiotensin-converting enzyme DD 
women, Hypertension. 2005;45(1):86.
10. Mostello D, Jen Chang J, Allen J, 
Luehr L, Shyken J, Leet T, Recurrent 
preeclampsia: the effect of weight 
change between pregnancies. Obstet 
Gynecol. 2010;116(3):667.
11. Meher S, Duley L, Exercise or other 
physical activity for preventing pre-
eclampsia and its complications, 
Cochrane Database Syst Rev. 2006 Apr 
19;(2):CD005942.
12. North RA, Ferrier C, Gamble G, Fairley 
KF, Kincaid-Smith P, Prevention 
of preeclampsia with heparin and 
antiplatelet drugs in women with renal 

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_du_phong_tien_san_giat.pdf