Điều tra sơ bộ bệnh tim mạch của cán bộ và công nhân công ty B làm nhiệm vụ tại khu vực bị rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh

I. MỞ ĐẦU

Từ năm 1962 - 1971 Quân đội Mỹ đã tiến hành rải khoảng 76 triệu lít các chất

diệt cỏ, chủ yếu là chất Da cam chứa Dioxin (chất độc Da cam/Dioxin) xuống nhiều

vùng ở Việt Nam. Ở Tây Nguyên, Kon Tum là các tỉnh bị rải nặng nề nhất với gần

một triệu gallon các chất diệt cỏ và trên 700 nghìn gallon chất Da cam. Tạp chất

dioxin trong đó có 2,3,7,8-tetracloro dibenzo-p-dioxin (TCDD) là một chất siêu độc,

chiếm tỷ lệ rất cao trong các thành phần dioxin, có thời gian bán phân hủy trong môi

trường từ 7 - 8 năm. Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam và

quốc tế xác định được những đặc điểm khác biệt của các chất độc sinh thái có chứa

dioxin so với chất độc thông thường. Theo đó, chất này có khả năng tích lũy, lưu tồn

lâu dài khác thường trong các thành phần sinh học và phi sinh học ở môi trường.

Theo tính toán của Cơ quan Đăng ký các chất độc và bệnh tật Mỹ thì liều tối thiểu

gây nhiễm độc mạn tính của TCDD là 1.10-6 μg/kg/ngày-đêm, với thời gian từ 365

ngày trở lên

pdf 5 trang phuongnguyen 460
Bạn đang xem tài liệu "Điều tra sơ bộ bệnh tim mạch của cán bộ và công nhân công ty B làm nhiệm vụ tại khu vực bị rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều tra sơ bộ bệnh tim mạch của cán bộ và công nhân công ty B làm nhiệm vụ tại khu vực bị rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh

Điều tra sơ bộ bệnh tim mạch của cán bộ và công nhân công ty B làm nhiệm vụ tại khu vực bị rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh
 Thông tin khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013 106 
ĐIỀU TRA SƠ BỘ BỆNH TIM MẠCH CỦA CÁN BỘ VÀ 
CÔNG NHÂN CÔNG TY B LÀM NHIỆM VỤ TẠI KHU VỰC 
BỊ RẢI CHẤT ĐỘC DA CAM / DIOXIN TRONG CHIÊN TRANH 
NGÔ THANH NAM (1), HOÀNG ĐỨC HẬU (1), VŨ HOÀI TUÂN (2), TRẦN NGỌC TÂM (2) 
I. MỞ ĐẦU 
Từ năm 1962 - 1971 Quân đội Mỹ đã tiến hành rải khoảng 76 triệu lít các chất 
diệt cỏ, chủ yếu là chất Da cam chứa Dioxin (chất độc Da cam/Dioxin) xuống nhiều 
vùng ở Việt Nam. Ở Tây Nguyên, Kon Tum là các tỉnh bị rải nặng nề nhất với gần 
một triệu gallon các chất diệt cỏ và trên 700 nghìn gallon chất Da cam. Tạp chất 
dioxin trong đó có 2,3,7,8-tetracloro dibenzo-p-dioxin (TCDD) là một chất siêu độc, 
chiếm tỷ lệ rất cao trong các thành phần dioxin, có thời gian bán phân hủy trong môi 
trường từ 7 - 8 năm. Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam và 
quốc tế xác định được những đặc điểm khác biệt của các chất độc sinh thái có chứa 
dioxin so với chất độc thông thường. Theo đó, chất này có khả năng tích lũy, lưu tồn 
lâu dài khác thường trong các thành phần sinh học và phi sinh học ở môi trường. 
Theo tính toán của Cơ quan Đăng ký các chất độc và bệnh tật Mỹ thì liều tối thiểu 
gây nhiễm độc mạn tính của TCDD là 1.10-6 μg/kg/ngày-đêm, với thời gian từ 365 
ngày trở lên [2]. Điều này cho thấy những người cư trú lâu dài trên vùng bị rải các 
chất diệt cỏ trong chiến tranh có khả năng phơi nhiễm mạn tính với TCDD và phát 
sinh các bệnh do chất độc này gây ra như: Ung thư, bệnh hệ hô hấp, bệnh thần kinh, 
bệnh tim mạch, bệnh ngoài da, rối loạn chuyển hóa, suy giảm miễn dịch, tai biến 
sinh sản... Nhưng đau đớn và nguy hiểm nhất là việc dioxin tác hại không chỉ một 
mà nhiều thế hệ liên tiếp, nhiều trẻ em sinh ra bị dị dạng, không chân tay, mắt mũi 
hay nội tạng vì bị nhiễm dioxin từ cha mẹ, ông bà. Hiện nay cũng có nhiều dấu hiệu 
cho thấy chất độc này đã ngấm vào đất vì dù đã trải qua mấy chục năm, nồng độ 
dioxin đo được qua các mẫu đất của miền Trung và Tây Nguyên vẫn còn rất cao. 
TCDD và các dioxin có thể gây ra nhiều loại bệnh khác nhau. Những cập nhật 
mới nhất của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm khoa học Mỹ đưa ra 17 loại bệnh có 
bằng chứng đầy đủ và bằng chứng gợi ý / hạn chế liên quan với dioxin [4]. Ở Việt 
Nam, Bộ Y tế ban hành danh mục gồm có 17 bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên 
quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học / dioxin. Tuy nhiên nhóm các bệnh tim 
mạch như: Bệnh tim mạch là tăng huyết áp và thiếu máu cơ tim cục bộ chưa được 
xếp vào danh mục các bệnh liên quan với chất độc Da cam/Dioxin. 
Với mục đích điều tra sơ bộ hiện trạng phơi nhiễm chất độc Da cam/Dioxin tồn 
lưu trong môi trường liên quan đến tình hình mắc bệnh tim mạch để có định hướng 
cho một số nghiên cứu tiếp theo, hội Nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam đã 
tiến hành điều tra tình trạng sức khỏe của cán bộ và công nhân thuộc một đơn vị kinh 
tế - quốc phòng (sau đây gọi tắt là Công ty B) trên địa bàn bị rải chất diệt cỏ trong 
chiến tranh tại tỉnh Kon Tum. Các kết quả được so sánh với nhóm chứng là Công ty 
V, một doanh nghiệp có ngành nghề tương tự tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. 
Trong báo cáo này chúng tôi trình bày kết quả điều tra cắt ngang tại Kon Tum 
tháng 5 năm 2012. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013 107 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
- Nhóm nghiên cứu: 1201 cán bộ, công nhân Công ty B, trồng và chế biến các sản 
phẩm từ cây cao su đóng quân tại 2 huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi thuộc tỉnh Kon Tum. 
- Nhóm chứng: 921 cán bộ công nhân Công ty V có nghề nghiệp tương tự 
nhóm nghiên cứu, hoạt động tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. 
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Cả nam và nữ, có thời gian làm việc tại các công ty từ 
1 năm liên tục trở lên. 
- Tiêu chuẩn loại trừ: 
+ Nhóm nghiên cứu loại trừ những người thuộc các dân tộc bản địa tại Tây Nguyên. 
+ Nhóm chứng loại trừ những người đã sống từ 1 năm trở lên từ Quảng Trị trở vào. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Điều tra cắt ngang, kết hợp với khai thác tiền sử mắc bệnh bằng phương pháp 
phỏng vấn trên mẫu phiếu in sẵn. Kiểm tra các thông tin mắc bệnh qua phiếu khám 
sức khỏe hàng năm của các cá nhân. Phân loại bệnh theo phân loại bệnh tật Quốc tế 
lần thứ 10 do Bộ Y tế ban hành. 
2.3. Phương pháp xử lý thống kê 
Dùng phép kiểm định “khi” bình phương (χ2) của Manten-Haenszel của 
chương trình thống kê Epiinfor 6.0 trên máy tính. 
III. MỘT SỐ KẾT QUẢ 
Một số đặc điểm dân số, xã hội của các đối tượng nghiên cứu như sau: 
- Số nữ của nhóm nghiên cứu xấp xỉ số nam (tương ứng với 49,38% và 
50,62%). Ở nhóm chứng, số nữ cao hơn nam (61,12% so với 38,88%). 
- Học vấn phần lớn là phổ thông (91,08% ở nhóm nghiên cứu và 88,66% ở 
nhóm chứng). 
Bảng 1. Đặc điểm tuổi đời và tuổi nghề của hai nhóm nghiên cứu 
Nhóm nghiên cứu (n = 1201) Nhóm chứng (n = 926) Đặc điểm 
X ± SD Min - Max X ± SD Min - Max 
Tuổi đời 32,02 ± 6,51 18 - 57 34,40 ± 7,88 18 - 58 
Tuổi nghề 9,92 ± 4,85 1 - 30 12,27 ± 8,44 1 - 32 
Như vậy tuổi đời của 2 nhóm tương đương. Tuổi nghề của nhóm nghiên cứu 
thấp hơn nhóm chứng. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013 108 
Bảng 2. Đặc điểm hút thuốc lá và uống rượu của hai nhóm nghiên cứu 
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng 
Nam (n = 608) Nữ (n = 593) Nam (n = 360) Nữ (n = 566) Đặc điểm 
Số lượng, (%) Số lượng, (%) Số lượng, (%) Số lượng, (%) 
Hút thuốc lá (+) 302 (49,67) 3 (0,51) 147 (40,83) 9 (1,59) 
Uống rượu (+) 431 (70,89) 9 (1,50) 213 (59,17) 11(1,94) 
Kết quả trong bảng 2 cho thấy tỷ lệ nữ hút thuốc lá và uống rượu thấp ở cả 2 
nhóm, ngược lại ở nam giới các chỉ số này ở mức cao. 
Bảng 3. Tỷ lệ số người mắc bệnh tim mạch của hai nhóm nghiên cứu 
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng Tên bệnh 
(ICD-10) N Số mắc, (%) N 
Số mắc, 
(%) 
Tăng huyết áp (I10-I15) 
- Nam 608 35 (5,76) 360 21 (5,83) 
- Nữ 593 30 (5,01) 566 20 (3,53) 
Tổng số 1201 65 (5,41) 926 41 (4,43) 
Thiếu máu cơ tim cục bộ (I20-I25) 
- Nam 608 8 (1,32) 360 3 (0,83) 
- Nữ 593 20 (3,37) 566 11 (1,94) 
Tổng số 1201 28 (2,33) 926 14 (1,51) 
Loạn nhịp tim (I44-I49) 
- Nam 608 12 (1,97) 360 5 (1,39) 
- Nữ 593 18 (3,04) 566 16 (2,83) 
Tổng số 1201 30 (2,50) 926 21 (2,27) 
Huyết áp thấp (I95) 
- Nam 608 2 (0,33) 360 0 
- Nữ 593 5 (0,84) 566 1 (0,18) 
Tổng số 1201 7 (0,58) 926 1 (0,11) 
Các bệnh tim mạch khác 
- Nam 608 5 (0,82) 360 1 (0,28) 
- Nữ 593 8 (1,35) 566 6 (1,06) 
Tổng số 1201 13 (1,08) 926 7 (0,76) 
Kết quả trong bảng 3 cho thấy bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất. Các 
bệnh loạn nhịp và thiếu máu cơ tim chiếm tỷ lệ thấp hơn, thấp nhất là bệnh huyết áp 
thấp. Tỷ lệ các bệnh nhóm nghiên cứu có xu hướng cao hơn nhóm chứng. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013 109 
Bảng 4. Phân tầng bệnh tăng huyết áp theo tuổi ở những người không hút thuốc lá 
và không uống rượu 
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng 
Nam Nữ Nam Nữ Nhóm 
tuổi 
N Số mắc, (%) N 
Số mắc, 
(%) N 
Số mắc,
(%) N 
Số mắc, 
(%) 
< 30 36 0 267 6 (2,25) 36 0 167 2 (1,20) 
30 - 39 67 5 (7,46) 260 15 (5,76)* 51 0 259 5 (1,93) 
≥ 40 56 8 (14,29) 56 8 (14,28) 31 3 (9,68) 124 12 (9,68) 
Ghi chú: *: χ2 hiệu chỉnh của Yates = 4,36, p < 0,05 so với nhóm tuổi tương 
ứng của nhóm chứng. 
Như vậy, kết quả trong bảng 3 cho thấy các bệnh tim mạch phổ biến của 2 
nhóm là tăng huyết áp (tỷ lệ cao nhất), thiếu máu cơ tim cục bộ, loạn nhịp tim và 
huyết áp thấp. Trong số này thì tăng huyết áp và thiếu máu cơ tim cục bộ là 2 bệnh 
được Viện Y khoa - Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ xếp vào nhóm các bệnh có bằng 
chứng hạn chế hoặc gợi ý liên quan với dioxin [4]. 
Để loại trừ các yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp là hút thuốc, uống rượu và 
tuổi, chúng tôi phân tầng bệnh tăng huyết áp theo tuổi đối với các đối tượng không 
sử dụng thuốc lá và rượu. Ở bảng 4, tỷ lệ người bị bệnh tăng huyết áp tăng theo độ 
tuổi, nhất là lứa tuổi từ 40 trở lên. Điều này phù hợp vì tuổi càng cao nguy cơ bệnh 
tăng huyết áp càng nhiều. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp của nam và nữ ở các độ tuổi của 
nhóm bệnh đều cao hơn nhóm chứng. Tuy nhiên chỉ có sự khác biệt tỷ lệ bệnh tăng 
huyết áp của nữ ở độ tuổi 30 - 39 giữa 2 nhóm là có ý nghĩa thống kê. Chúng tôi 
chưa thấy liên quan ảnh hưởng phơi nhiễm chất Da cam/Dioxin với bệnh tăng huyết 
áp. Do vậy cần xem xét các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tăng huyết áp. 
IV. MỘT SỐ NHẬN XÉT 
Cơ chế bệnh sinh của dioxin đối với bệnh tăng huyết áp đã được nhiều nhà 
nghiên cứu tìm hiểu. Trên động vật thực nghiệm TCDD gây tăng tiết các chất co 
mạch eicosanoids của thận làm tăng huyết áp, tăng triglyceride và LDL-cholesterol 
huyết thanh, do vậy tăng khả năng hình thành các mảng xơ vữa động mạch. Trên tế 
bào cơ trơn, TCDD làm giảm điều hoà các gen liên quan với sự tăng sinh và chết tự 
nhiên [3]. Chúng tôi đã kết hợp định lượng nồng độ dioxin trong 9 mẫu huyết thanh 
trộn của nhóm nghiên cứu và 3 mẫu huyết thanh trộn của nhóm chứng. Kết quả cho 
thấy, ở tất cả các mẫu nồng độ TCDD đều dưới 1pg/g. Tổng độ độc tương đương 
(Toxic Equivalent Quotions - TEQ) theo Tổ chức Y tế Thế giới các đồng loại độc 
của các dioxin ở nhóm nghiên cứu là 2,762 - 28,339 pg/g lipid, nhóm chứng là 
4,297 - 15,995 pg/g lipid. Các kết quả này cho thấy sự phơi nhiễm với chất độc 
Da cam/Dioxin của nhóm nghiên cứu là khá thấp và khác biệt không đáng kể so với 
nhóm chứng tại các địa điểm nghiên cứu. Điều này có nghĩa ngoài định hướng đến 
ảnh hưởng của chất độc Da cam/Dioxin tồn lưu trong môi trường đối với tình hình 
mắc bệnh tim mạch thì cũng cần chú ý tới các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch khác. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013 110 
Các nguy cơ khác đối với bệnh tăng huyết áp là béo phì, ăn mặn hoặc stress 
tâm lý [1]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa lượng hóa được các yếu tố trên. 
Do vậy, cần tính toán chỉ số BMI để đánh giá sự thừa cân của cán bộ công nhân 
nhóm nghiên cứu, đồng thời hướng dẫn chế độ ăn đủ muối và kiểm soát các stress 
tâm lý cho cán bộ công nhân các đơn vị. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bùi Thị Hà, Đinh Thị Nga, Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tăng 
huyết áp trong cộng đồng dân cư thành phố Hải Phòng, Y học Việt Nam, 
2010, số 2, tr.29-35. 
2. Agency for Toxic Substances and Disease Registry (ATSDR)-U.S, Department of 
Health and Human Services, Public Health Service (1998), Toxicity Profile for 
Chlorinated Dibenzo-p-Dioxins (update). 
3. Dalton T.P. et al, Dioxin exposure is an environmental risk factor for ischemic 
heart disease, Cardiovasc. Toxicol., 2001, 1(4):285-98. 
4. Institute of Medicine - National Academy of Science, Veterans and agent orange, 
2010, (update). 
SUMMARY 
PRELIMINARY INVESTIGATION OF CIRCULATORY DISEASES OF 
SOLDIERS AND WORKERS WORKING IN THE AGENT ORANGE 
SPRAYED REGIONS IN THE WAR 
In this report we present the results of a preliminary investigation of medical 
personal history of prevalent hypertension, heart arrhythmias and cardiac ischaemia 
and the exposure to Agent Orange/Dioxin residues in the environment of the soldiers 
and workers of the company B working in the orange agent sprayed regions during 
the war in the province Kon Tum. The finding is expected to give some directions 
for further research. 
Nhận bài ngày 06 tháng 5 năm 2013 
Hoàn thiện ngày 14 tháng 6 năm 2013 
 (1) Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 
(2) Hội Nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam 

File đính kèm:

  • pdfdieu_tra_so_bo_benh_tim_mach_cua_can_bo_va_cong_nhan_cong_ty.pdf