Điều tra nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) ở cộng đồng dân cư xã X (huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) đang là vấn đề lớn của y tế công cộng. Theo

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 2/3 dân số thế giới nhiễm HBV, trong đó gần

400 triệu người trở thành người mang HBsAg mạn tính. Hàng năm, có hơn một triệu

người trên thế giới tử vong vì các bệnh lý liên quan đến nhiễm HBV như viêm gan

mạn tính hoạt động, suy gan, xơ gan, ung thư gan nguyên phát

pdf 5 trang phuongnguyen 520
Bạn đang xem tài liệu "Điều tra nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) ở cộng đồng dân cư xã X (huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Điều tra nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) ở cộng đồng dân cư xã X (huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)

Điều tra nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) ở cộng đồng dân cư xã X (huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 04, 09 - 2013 87 
ĐIỀU TRA NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B (HBV) Ở CỘNG ĐỒNG 
DÂN CƯ XÃ X (HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ) 
КАЛИНИНА О.В., PHẠM NGỌC QUANG, VÕ VIẾT CƯỜNG, 
TRẦN THỊ NHÀI, PHẠM THỊ HÀ GIANG 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) đang là vấn đề lớn của y tế công cộng. Theo 
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 2/3 dân số thế giới nhiễm HBV, trong đó gần 
400 triệu người trở thành người mang HBsAg mạn tính. Hàng năm, có hơn một triệu 
người trên thế giới tử vong vì các bệnh lý liên quan đến nhiễm HBV như viêm gan 
mạn tính hoạt động, suy gan, xơ gan, ung thư gan nguyên phát [10]. 
Theo phân vùng dịch tễ nhiễm HBV, Việt Nam nằm trong khu vực có sự lưu 
hành cao. Tỷ lệ người mang HBsAg (+) dao động từ 8% - 12% [3], tỷ lệ người mang 
ít nhất một trong những dấu ấn của HBV chiếm tỷ lệ từ 60% - 80% [3, 6]. 
Để xác định tình trạng nhiễm HBV trong cộng đồng cũng như sàng lọc người 
cho máu, thông thường là phát hiện kháng nguyên bề mặt HBsAg của HBV. Tuy vậy, 
khi phát triển nhân lên và xâm nhập vào tế bào gan thì HBV trút bỏ phần kháng 
nguyên bề mặt HBsAg ở ngoài và chỉ có vật liệu di truyền HBV-DNA đi vào tế bào 
gan để điều hành tổng hợp các vi rút mới, dấu ấn HBsAg chỉ là xét nghiệm gián tiếp 
xác định sự có mặt của HBV. Vì vậy dấu ấn HBV-DNA được phát hiện bằng kỹ 
thuật sinh học phân tử mới phản ánh trực tiếp sự có mặt của hạt vi rút trong máu. 
Trong nghiên cứu này, để xác định tỷ lệ nhiễm HBV trong cộng đồng dân 
cư xã X (Gio Linh, Quảng Trị) chúng tôi xác định đồng thời cả hai dấu ấn 
(HBsAg và HBV-DNA), để qua đó có thông tin chính xác về tình hình nhiễm 
HBV trong một cộng đồng. 
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng 
- 260 người (92 nam, 168 nữ), tuổi từ 18 - 65 tuổi, có thời gian sinh sống ở xã 
X trên 5 năm tính đến tháng 4/2013. 
- Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức: 
2
1 / 2
2 . .
Zn p q
d
α−
=
Trong đó, p là tỷ lệ nhiễm HBV (lấy p = 12%, là tỷ lệ nhiễm HBV trung bình 
ở Việt Nam); q = 1 - p; d = 0,04 (sai số cho phép); Z1-α/2 = 1,96. Tính được cỡ mẫu 
n = 253 người, trong nghiên cứu này chúng tôi lấy n = 260 người. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 04, 09 - 2013 88 
2.2. Vật liệu 
* Sinh phẩm 
- Bộ sinh phẩm phát hiện HBsAg: Monolisa™ HBsAg ULTRA (Biorad, Pháp). 
- Kít tách chiết và tinh sạch DNA tổng số: RIBO-prep (AmpliSens, Nga). 
- Bộ sinh phẩm phát hiện HBV-DNA: real-time PCR AmpliSens® HBV-FRT 
(AmpliSens, Nga). 
* Thiết bị 
- Hệ thống máy ELISA (Biotek, Mỹ). 
- Máy nhân gen Rotor - Gene 6000 (Qiagen- Đức). 
2.3. Phương pháp nghiên cứu 
* Điều tra cắt ngang 
- Thu thập mẫu máu ngẫu nhiên, thường quy theo kỹ thuật của Viện Vệ sinh 
dịch tễ Trung ương. 
- Điều tra các yếu tố liên quan tới tình trạng phơi nhiễm bằng mẫu phiếu điều 
tra đối với từng đối tượng cho máu. 
* Kỹ thuật áp dụng 
- Phát hiện kháng nguyên bề mặt HBsAg theo nguyên lý kỹ thuật miễn dịch 
gắn men (ELISA: Enzyme liked immune asober asay). 
- Phát hiện dấu ấn HBV-DNA bằng kỹ thuật PCR huỳnh quang điểm. 
- Kết quả xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 11.5 
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 
Kết quả xét nghiệm HBsAg cộng đồng dân cư xã X được trình bày ở bảng 1. 
Bảng 1. Tỷ lệ người mang HBsAg tại xã X. 
HBsAg (+) HBsAg (-) 
Giới tính Mẫu xét nghiệm n % n % P(1;2) 
Nam 92 12 13,04 80 86,96 
Nữ 168 17 10,12 151 89,88 ≥ 0,05 
Tổng 260 29 11,15 231 88,85 
Kết quả bảng 1 cho thấy tỷ lệ chung người mang HBsAg trong cộng đồng là 
11,15%; trong đó nam chiếm tỷ lệ 13,04%; nữ 10,12%, không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê ở nam và nữ, với p > 0,05. Theo WHO, tỷ lệ mang HBsAg có sự 
khác nhau giữa các quốc gia, các vùng địa lý và các đối tượng nghiên cứu [10]. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Trần Kim Phụng [7] về tỷ 
lệ mang HBsAg trong quần thể dân cư tại một số vùng nông thôn tại tỉnh Quảng Trị 
là 11,5% và tương đương với tỷ lệ lưu hành của HBsAg trong cộng đồng dân cư 
nước ta (9% - 20%) [1, 5, 6]. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 04, 09 - 2013 89 
Kết quả xét nghiệm HBV-DNA cộng đồng dân cư xã X được trình bày ở bảng 2. 
Bảng 2. Tỷ lệ phát hiện dấu ấn HBV-DNA tại xã X 
HBV-DNA (+) HBV-DNA (-) 
Giới tính Mẫu xét nghiệm n % n % P(1;2) 
Nam 92 14 15,22 78 84,78 
Nữ 168 15 8,93 153 91,07 P < 0,05 
Tổng 260 29 11,15 231 88,85 
Kết quả bảng 2 cho thấy tỷ lệ phát hiện dấu ấn HBV-DNA là: 11,15% 
(29/260), nam 15,22%; nữ 8,93%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Tỷ lệ nam giới có dấu ấn HBV-DNA cao hơn ở nữ trong nghiên cứu này có thể giải 
thích là do ngẫu nhiên với lượng mẫu thu thập ở cộng đồng còn nhỏ. 
Kết quả tổng hợp phát hiện các dấu ấn HBsAg và HBV-DNA được trình bày ở bảng 3. 
Bảng 3. Kết quả phát hiện các dấu ấn HBsAg và HBV-DNA 
Tần suất phát hiện 
Loại dấu ấn 
n % 
HBV- DNA (+) và HBsAg (+) 23 8,85 (23/260) 
HBV-DNA (-) và HBsAg (+) 6 20,7 (6/29) 
HBV-DNA (+) và HBsAg (-) 6 2,6 (6/231) 
Kết quả bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phát hiện đồng thời dấu ấn HBV-DNA và 
HBsAg trong các đối tượng nghiên cứu là 8,85% (23/260), còn nếu chỉ so với các 
đối tượng HBsAg (+) là 79,31% (23/29). Kết quả nghiên cứu của Dunford và cộng 
sự cho thấy tỷ lệ phát hiện HBV-DNA trên các đối tượng HBsAg (+) là 73% 
(273/376) [2], trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Đình Ứng trên 11 đối tượng 
HBsAg (+) có tỷ lệ phát hiện HBV-DNA rất cao, 100% (11/11) [9]. Như vậy, trong 
số 29 trường hợp HBsAg dương tính có 6 trường hợp HBV-DNA âm tính. Theo cơ 
chế phát triển và nhân lên của HBV trong tế bào gan, không phải bất cứ trường hợp 
nào có kháng nguyên HBsAg là có HBV-DNA. Do lớp áo ngoài của vi rút luôn 
được sản xuất quá mức, còn HBV-DNA là dấu ấn gắn liền với sự có mặt của hạt vi 
rút (phát hiện genome). Ngoài ra, trong số 29 trường hợp có HBV-DNA dương tính 
có 6 trường hợp HBsAg âm tính, có thể do dấu ấn HBsAg không có giá trị trong 
đánh giá giai đoạn hoạt động của HBV, còn dấu ấn HBV-DNA phần nào phản ánh 
được sự phát triển của vi rút đang phá vỡ tế bào gan và tung ra ngoài máu ngoại vi. 
Như vậy, tỷ lệ phát hiện dấu ấn HBV-DNA trong các mẫu HBsAg (-) là 2,6% 
(6/231). Theo một số công bố trong và ngoài nước, các trường hợp như trên có tên 
gọi là nhiễm HBV ẩn [4, 8]. Ngoài ra, số liệu trên còn có thể giải thích do tại thời 
điểm xét nghiệm nồng độ HBsAg trong huyết thanh dưới ngưỡng phát hiện của bộ 
sinh phẩm nên kết quả âm tính với HBsAg. Các trường hợp này cần tiếp tục được theo 
dõi và xét nghiệm lại sau 3 - 6 tháng. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 04, 09 - 2013 90 
Bảng 4. Tần suất nhiễm HBV theo nhóm tuổi 
HBV (+) HBV (-) Nhóm 
tuổi 
Mẫu xét 
nghiệm n % n % p 
18-29 45 7 15,55 38 84,40 P (1;3;4) ≥ 0,05 
30 - 39 57 4 7,14 52 92,86 P (1;2) < 0,05 
40 - 49 85 14 16,47 83 83,57 P (3;2) < 0,05 
50 - 65 63 10 15,87 52 83, 88 P (4;2) < 0,05 
Tổng 260 35 13,46 225 86,54 
Kết quả bảng 4 cho thấy, tỷ lệ nhiễm HBV chung của các đối tượng nghiên 
cứu là 13,46% (35/260). Tỷ lệ nhiễm HBV cao nhất ở nhóm tuổi 40 - 49 (16,43%), 
thấp ở nhóm tuổi 30 - 39 (7,14%) (p < 0,05). Kết quả một số nghiên cứu cho thấy, tỷ 
lệ nhiễm HBV tăng dần theo tuổi, thường tỷ lệ này cao nhất ở nhóm tuổi đang lao 
động 18 - 49 tuổi và giảm dần sau 50 tuổi [5, 6]. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm 
HBV ở nhóm tuổi 30 - 39 thấp hơn so với các nghiên cứu đã công bố. Điều này có 
thể giải thích là do ở nhóm tuổi này có tới 79,90% (45/57) đối tượng là nữ, là đối 
tượng nghiên cứu có tỷ lệ nhiễm HBV thấp hơn so với nam nên ảnh hưởng đến tỷ lệ 
nhiễm HBV chung của nhóm tuổi. Ngoài ra do ảnh hưởng của cỡ mẫu nên số lượng 
mẫu trong các nhóm tuổi chưa phản ánh hết tình trạng nhiễm HBV. 
IV. KẾT LUẬN 
Kết quả điều tra nhiễm HBV tại xã X tỉnh Quảng Trị cho thấy: 
- Tỷ lệ người mang HBsAg là 11,15% (29/260), trong đó ở nam là 13,04% và 
ở nữ là 10,12% (p > 0,05); 
- Tỷ lệ phát hiện dấu ấn HBV-DNA là 11,15% (29/260), trong đó ở nam là 
15,22% và ở nữ là 8,93% (p < 0,05); tỷ lệ phát hiện HBV-DNA trên đối tượng có 
HBsAg (+) là 79,31% (23/29), trên đối tượng có HBsAg (-) là 2,60% (6/231). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Thị Vân Anh, Tỷ lệ mang HBsAg và một số yếu tố 
nguy cơ mang HBsAg của các thành viên trong hộ gia đình: Nghiên cứu cộng 
đồng tại một số xã miền Trung (Xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An), 
Tạp chí Y dược học TP Hồ Chí Minh, 2010, Tập 14, số 4, tr.116 - 122. 
2. Dunford L, Carr MJ, Dean J, Nguyen LT, Ta Thi TH, et al, A Multicentre 
Molecular Analysis of Hepatitis B and Blood-Borne Virus Coinfections in Viet 
Nam, PLoS ONE, 2012, 7(6): e39027. doi:10.1371/ journal. pone. 0039027. 
3. Bùi Đại, Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Hoàng Tuấn, Bệnh truyền nhiễm, Nhà 
xuất bản Y học, 2002. 
 Thông tin khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 04, 09 - 2013 91 
4. Gutiérrez-García ML., Fernandez-Rodriguez CM., Lledo-Navarro JL., Buhigas-
Garcia I., Prevalence of occult hepatitis B virus infection, 2011, World J 
Gastroenterol (2011), 17(12):1538-42. doi: 10.3748/wjg.v17.i12. 1538. 
5. Ngô Việt Hùng và cs., Đánh giá thực trạng nhiễm vi rút viêm gan B tại Hải 
Phòng, Tạp chí Y học Dự phòng, 2006, Tập 15, số 5, tr.78. 
6. Phạm Văn Lĩnh, Trần Thị Minh Diễm, Trần Đình Hậu, Ngô Viết Lộc, Nghiên 
cứu tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B tại tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tạp chí Y 
học thực hành, 2006, Số 3, tr.82-85. 
7. Trần Kim Phụng, Nghiên cứu tỷ lệ viêm gan B và viêm gan C ở một số vùng 
tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Y học thực hành, 2010, Số 9, tr.32-34. 
8. Bùi Xuân Trường, Nguyễn Văn Bằng, Yoshihiko Yano, Yasushi Seo, Trần 
Minh Phương, Yoshitake Nayashi, Nguyễn Khánh Trạch, Trần Quỵ, Thông báo 
ban đầu về tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B trên người Việt Nam có kháng nguyên 
bề mặt HBsAg âm tính, Tạp chí Nghiên cứu y học, 2007, số 1, tr.28-32. 
9. Nguyễn Đình Ứng, Đỗ Ngọc Ánh, Vũ Xuân Nghĩa, Nguyễn Thị Huyền, Hoàng 
Văn Lương, Khảo sát tình trạng nhiễm Vi rút viêm gan B ở một số đối tượng 
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tạp chí Y dược học Quân sự, 2011, Số 5, tr85-90. 
10. Worid Health Organization, Wkly Epidemiol Rec, 2004, 79(28):253-264. 
SUMMARY 
THE INVESTIGATION OF HEPATITIS B VIRUS INFECTION (HBV) 
IN X COMMUNE (GIO LINH - QUANG TRI PROVINCE) 
In the study blood collected from 260 residents in X commune (Gio Linh, 
Quang Tri) is examined for HBsAg by ELISA method and HBV-DNA by real - 
time PCR. It is found that HBsAg carrying rate is 11.15% (29/260), 13.04% for 
males and 10.12% for females (p > 0.05); 11.15% of the residents (29/260) are 
HBV-DNA positive, in which 15.22% for males and 8.93% for females. The rate of 
HBV-DNA positive in subjects with HBsAg (+) is 79.31% (23/29) and in subjects 
with HBsAg (-) is 2.60% (6/231); 
Từ khóa: HBV-DNA, HBsAg, hepatitis B virus infection 
Nhận bài ngày 20 tháng 8 năm 2013 
Hoàn thiện ngày 18 tháng 9 năm 2013 
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 

File đính kèm:

  • pdfdieu_tra_nhiem_vi_rut_viem_gan_b_hbv_o_cong_dong_dan_cu_xa_x.pdf