Diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mới được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới

Đặt vấn đề: Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh nhiễm HIV ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống

của một người, về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần. Việc tư vấn và theo dõi diễn tiến về tâm lý ở nhóm bệnh

nhân HIV/AIDS mới được chẩn đoán là rất cần thiết để có những nhận định phù hợp và làm cơ sở xây dựng kế

hoạch chăm sóc toàn diện về cả sức khỏe lẫn tinh thần cho bệnh nhân.

Mục tiêu: Theo dõi diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS mới được chẩn đoán

qua thang điểm tâm lý SCL-90.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, theo dõi dọc trên 93 bệnh nhân nhiễm HIV, điều

trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh theo yêu cầu - bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, trong thời gian từ tháng 10/2018 đến

tháng 8/2019

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mới được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mới được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới

Diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mới được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 200 
DIỄN TIẾN TÂM LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở BỆNH NHÂN MỚI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHIỄM HIV/AIDS 
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI 
Tào Gia Phú1, Nguyễn Thành Dũng2, Vương Minh Nhựt3, Trần Minh Hoàng3, Cao Ngọc Nga3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh nhiễm HIV ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống 
của một người, về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần. Việc tư vấn và theo dõi diễn tiến về tâm lý ở nhóm bệnh 
nhân HIV/AIDS mới được chẩn đoán là rất cần thiết để có những nhận định phù hợp và làm cơ sở xây dựng kế 
hoạch chăm sóc toàn diện về cả sức khỏe lẫn tinh thần cho bệnh nhân. 
Mục tiêu: Theo dõi diễn tiến tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS mới được chẩn đoán 
qua thang điểm tâm lý SCL-90. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, theo dõi dọc trên 93 bệnh nhân nhiễm HIV, điều 
trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh theo yêu cầu - bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, trong thời gian từ tháng 10/2018 đến 
tháng 8/2019. 
Kết quả: Điểm tâm lý SCL-90 cải thiện liên tục sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, lần lượt là: 0,49; 0,29; 0,18 
so với ban đầu là 0,88; sự thay đổi ở các thời điểm đều có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Thay đổi về tâm lý sau 3 
và 6 tháng có sự khác biệt giữa nhóm có tín ngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáo. Ngoài ra, những người trẻ 
hơn sẽ có sự phục hồi tâm lý tốt hơn với p=0,03. 
Kết luận: Có sự thay đổi rất lớn về tâm lý ở bệnh nhân HIV/AIDS mới được chẩn đoán. Cần hết sức chú 
trọng quan tâm tư vấn cho bệnh nhân trong giai đoạn này. 
Từ khóa: HIV/AIDS, SCL-90, OPC 
ABSTRACT 
PSYCHOSOCIAL ASPECTS OF HIV/AIDS PATIENTS 
AT THE HOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES 
Tao Gia Phu, Nguyen Thanh Dung, Vo Van Tam, Tran Minh Hoang, Cao Ngoc Nga 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 200 - 205 
Background: The World Health Organization has emphasized that HIV infection affects every aspect of a 
person's life, physically, psychologically, socially, and mentally. Monitoring the psychological progress in the 
initiation of antiretroviral therapy in HIV/AIDS patients is necessary to guide the policy and program planning, 
as well as prioritizing surveillance needs and research agendas. 
Objectives: Following the psychological progress and its related factors of HIV/AIDS patents by SCL-
90 scores. 
Methods: The study was a clinic-based longitudinal study done at outpatient clinic, Tropical Diseases 
Hospital, Ho Chi Minh city, VietNam from 10/2018 to 8/2019. 
Results: Ninety-three patients were provided informed consent to participate in this study. Overall, the 
median of psychosocial scores was improved significantly after third and six-month. In this study, after six 
1Khoa Y – Dược, trường Đại học Trà Vinh 2Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh 
3Bộ môn Nhiễm, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Tào Gia Phú ĐT: 0817276191 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 201 
months, the result showed that lower SCL scores were likely to appear in patients who have religious beliefs 
(p=0.01). Besides, improvements in psychosocial scores were strongly associated with younger patients, p=0.03. 
Conclusion: Psychosocial factors appear to impact the development and progression of HIV/AIDS patients. 
Psychosocial interventions have been shown to improve the quality of life of patients living with HIV/AIDS and it 
can serve as adjuvants to medical treatments. 
Keywords: HIV/AIDS, SCL-90, OPC 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh nhiễm 
HIV ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc 
sống của một người, về thể chất, tâm lý, xã hội 
và tinh thần. Nhiễm HIV thường dẫn đến sự kỳ 
thị và sợ hãi đối với họ, cũng như đối với những 
người chăm sóc, và có thể ảnh hưởng đến toàn 
bộ gia đình(1). Những người mới được chẩn đoán 
nhiễm HIV sẽ trải qua nhiều phản ứng cảm xúc 
khi phải đối mặt với bệnh và đối với nhiều bệnh 
nhân (BN) việc được chẩn đoán HIV là một biến 
cố lớn trong cuộc đời. Quá trình tâm lý diễn ra 
trong giai đoạn này là vô cùng phức tạp và 
nhiều phản ứng tâm lý xã hội có thể xuất hiện 
như lo lắng, trầm cảm, tội lỗi, xáo trộn cuộc 
sống, sự cách ly xã hội. Hỗ trợ về tâm lý bằng 
nhiều phương pháp khác nhau sẽ tác động tích 
cực đến kết quả điều trị và cải thiện đời sống xã 
hội của BN nhiễm HIV(2,3,4). Tất cả các vấn đề trên 
đều đã nhấn mạnh đến sự phức tạp và biến đổi 
của các yếu tố thực thể và các yếu tố tâm lý xã 
hội với nhau trong cuộc sống của mỗi BN. Vì 
vậy, việc theo dõi diễn tiến về tâm lý ở nhóm BN 
nhiễm HIV/AIDS mới được chẩn đoán là cần 
thiết và từ đó có thể có những nhận định phù 
hợp và làm cơ sở xây dựng cho những kế hoạch 
chăm sóc toàn diện về cả sức khỏe lẫn tinh thần 
cho bệnh nhân. 
Mục tiêu 
Diễn tiến về tâm lý và các yếu tố liên quan 
đến sự thay đổi tâm lý ở BN HIV/AIDS sau 06 
tháng được khởi trị ARV 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
BN nhiễm HIV người lớn, điều trị ngoại trú 
tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu - bệnh viện 
Bệnh Nhiệt đới, trong thời gian từ tháng 10/2018 
đến tháng 8/2019. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
BN tuổi ≥16 tuổi, có kết quả xét nghiệm 
dương tính (theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế), tỉnh 
táo, có thể trả lời hết các câu hỏi của nghiên cứu 
và đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chí loại trừ 
Bệnh nhân không tuân thủ nghiên cứu hoặc 
tự ý bỏ trị, bệnh nhân có mắc các bệnh liên quan 
hệ thống miễn dịch khác. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Cắt ngang mô tả. 
Phương pháp thực hiện 
Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp và tra cứu hồ 
sơ: mã số BN (theo mã bệnh viện), các thông tin 
cơ bản của BN (gồm những câu hỏi về đặc điểm 
dân số – xã hội của đối tượng nghiên cứu). 
Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn, bộ công cụ 
được sử dụng để đánh giá diễn tiến tâm lý của 
bệnh nhân là Symptom Checklist 90 (SCL – 90): 
đây là bộ công cụ được sử dụng để đo cường độ 
triệu chứng trên chín phân nhóm khác nhau. 
Thang đo bao gồm 90 câu hỏi, bảng câu hỏi 
được ghi trên thang điểm 5, từ 0 (hoàn toàn 
không) đến 4 (vô cùng có), thể hiện tỉ lệ của dấu 
hiệu của triệu chứng trong thời gian khảo sát. 
Tổng số điểm đo SCL-90 tính bằng tổng số điểm 
trung bình tất cả các mục. Điểm càng cao thì 
mức độ triệu chứng bất ổn tâm lý càng lớn(5). 
Xử lý và phân tích số liệu 
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata và 
phân tích số liệu bằng phần mềm Stata. Sử dụng 
các phép kiểm Kruskal – Wallis, Wilcoxon bắt 
cặp và hệ số tương quan Spearman để so sánh 
sự khác biệt, thay đổi về điểm số SCL-90 và các 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 202 
yếu tố liên quan của BN, với khoảng tin cậy là 
95% và ngưỡng bác bỏ p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh 
viện Bệnh Nhiệt Đới, số 46/HĐĐĐ, ngày 
18/10/2018. 
KẾT QUẢ 
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến 
tháng 2/2019 có 93 BN được tư vấn và tham gia 
vào nghiên cứu. Tuổi trung bình của đối tượng 
nghiên cứu là 32,5 tuổi. Phần lớn là nam giới 
chiếm 83,9%. 
Diễn tiến về sự thay đổi tâm lý của bệnh nhân 
Điểm số tâm lý người bệnh được đánh giá 
với thang đo SCL-90 có thay đổi qua 6 tháng 
điều trị. Trung vị của SCL-90 tại thời điểm sau 
điều trị 1 tháng giảm so với đánh giá ban đầu 
(0,49 so với 0,88) có ý nghĩa thống kê với p 
<0,001. Tương tự, trung vị của SCL-90 tiếp tục 
giảm ở tháng thứ 3 với trung vị là 0,29 so với 
0,49 ở thời điểm tháng thứ 1, mức giảm này có ý 
nghĩa thống kê với p <0,001. Ở tháng thứ 6, điểm 
SCL-90 tiếp tục giảm và có trung vị là 0,18, mức 
giảm cũng có ý nghĩa thống kê so với thời điểm 
tháng thứ 3, với p <0,001. 
Bảng 1: Sự thay đổi điểm số tâm lý (SCL-90) trong 
nghiên cứu (n=93) 
Thời điểm Điểm số tâm lý SCL-90 (Trung vị) p* 
Ban đầu 0,88 
p1<0,001 
p2<0,001 
p3<0,001 
Sau 1 tháng 0,49 
Sau 3 tháng 0,29 
Sau 6 tháng 0,18 
*Phép kiểm Wilcoxon; 
p1: thời điểm ban đầu và sau 1 tháng; p2: thời 
điểm 1 tháng và 3 tháng; p3: thời điểm 3 tháng và 6 
tháng 
Các yếu tố liên quan đến sự phục hồi tâm lý 
của bệnh nhân 
Điểm số tâm lý SCL-90 ở hai thời điểm điều 
trị sau 3 và 6 tháng có sự khác biệt ở các nhóm 
đối tượng có tín ngưỡng tôn giáo và không tín 
ngưỡng với p=0,04 và p=0,01. Tình trạng tâm lý 
ở người bệnh có liên quan với tuổi sau 6 tháng 
điều trị, cụ thể là tương quan nghịch với r=-0,2 
có ý nghĩa thống kê p=0,03. 
Bảng 2: Các yếu tố dân số - xã hội và sự liên quan đến phục hồi tâm lý trong nghiên cứu (n=93) 
Các biến số 
Điểm số SCL sau 3 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
Điểm số SCL sau 6 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
Tuổi 
r= 0,09
3
p= 0,3 
r= -0,21
3
p= 0,03 
Giới tính 
Nam 0,41 (0,05) 
0,8
1
0,31 (0,05) 
0,9
1
Nữ 0,37 (0,09) 0,27 (0,08) 
Học vấn 
Tiểu học 0,23 (0,09) 
0,3
2
0,07 (0,02) 
0,1
2
THCS 0,47 (0,08) 0,35 (0,07) 
THPT 0,43 (0,09) 0,31 (0,07) 
TC/CĐ/ĐH 0,38 (0,06) 0,31 (0,07) 
Sau đại học 0,41 (0,14) 0,18 (0,03) 
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân 0,41 (0,07) 
0,8
2
0,36 (0,08) 
0,7
2
Sống với gia đình 0,46 (0,11) 0,30 (0,08) 
Sống với bạn tình 0,35 (0,06) 0,23 (0,04) 
Góa/ Ly dị/ Ly thân 0,57 (0,25) 0,39 (0,23) 
Tôn giáo tín ngưỡng 
Có 0,43 (0,05) 
0,04
1
0,32 (0,05) 
0,01
1
Không 0,84 (0,10) 1,13 (0,05) 
Tình trạng công việc 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 203 
Các biến số 
Điểm số SCL sau 3 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
Điểm số SCL sau 6 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
Việc làm ổn định 0,37 (0,04) 
0,5
2
0,24 (0,03) 
0,09
2
Việc không ổn định 0,47 (0,13) 0,38 (0,14) 
Thất nghiệp 0,59 (0,19) 0,71 (0,26) 
1Phép kiểm Wilcoxon rank sum 2Phép kiểm Kruskal – Wallis 3Hệ số tương quan Spearman 
TB: trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn 
Bảng 3: Các yếu tố về bệnh nền, chỉ số khối và sự liên quan đến phục hồi tâm lý trong nghiên cứu (n=93) 
Các biến số 
Điểm số SCL sau 3 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
Điểm số SCL sau 6 tháng 
(TB/ĐLC) 
p 
BMI 
<18,5 0,38 (0,07) 
0,9
1
0,23 (0,04) 
0,9
1
 18,5-23,0 0,42 (0,06) 0,33 (0,06) 
>23,0 0,35 (0,07) 0,26 (0,08) 
Đồng nhiễm siêu vi B 
Có 0,30 (0,10) 
0,2
2
0,17 (0,08) 
0,4
2
Không 0,42 (0,04) 0,31 (0,04) 
Đồng nhiễm siêu vi C 
Có 0,02 (0,0) 
0,1
2
0,01 (0,0) 
0,1
2
Không 0,41 (0,04) 0,30 (0,04) 
1Phép kiểm Kruskal – Wallis 2Phép kiểm Wilcoxon rank sum TB: trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn 
Thay đổi điểm số tâm lý hầu như không 
khác biệt có ý nghĩa thống kê ở các nhóm người 
bệnh theo giới tính, tình trạng hôn nhân, học 
vấn, chỉ số khối và tình trạng đồng nhiễm siêu vi 
B, C với p >0,05. 
BÀN LUẬN 
Về diễn tiến thay đổi tâm lý của bệnh nhân 
trong nghiên cứu 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, diễn tiến 
đáp ứng tâm lý của bệnh nhân được đánh giá 
qua thang điểm SCL-90, đây là một bảng câu hỏi 
tự báo cáo hướng tới hành vi có triệu chứng của 
BN ngoại trú tâm thần được xây dựng bởi 
Derogatis HR vào năm 1973(2). Kể từ đó đến nay, 
nó đã được áp dụng rộng rãi hơn, như một 
nghiên cứu tìm hiểu về tâm thần, một thước đo 
mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và là 
thang đo mô tả về tâm lý ở các quần thể bệnh 
nhân khác nhau. Chỉ số của công cụ này được 
tính bằng giá trị trung bình của tất cả các mục, 
điểm càng cao thì mức độ triệu chứng bất ổn 
tâm lý càng lớn(5). Mỗi mục của bảng câu hỏi 
được đánh giá bởi chính bệnh nhân, dựa trên 
thang điểm 5, từ điểm 0 điểm (không có triệu 
chứng) đến 4 điểm (triệu chứng rất nghiêm 
trọng). SCL-90 bao gồm 9 mục đánh giá về tâm 
thần như sau: triệu chứng thực thể, ám ảnh 
cưỡng chế, độ nhạy cảm của cá nhân, sự phiền 
muộn, sự lo âu, sự thù địch, rối loạn lo âu hỗn 
hợp, ý tưởng hoang tưởng, chủ nghĩa tâm linh. 
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thang đo này có 
tính tin cậy nội bộ tốt(3,6). 
Tại Việt Nam hiện nay cũng còn rất ít các dữ 
kiện về nghiên cứu các vấn đề tâm lý trên bệnh 
nhân HIV/AIDS, mặc dù, nhiều nghiên cứu cũng 
chỉ ra rằng tâm lý bệnh nhân khi điều trị là một 
trong những yếu tố quan trọng cần khảo sát 
trong quá trình theo dõi bệnh(7). Vì vậy, nghiên 
cứu đã áp dụng bộ câu hỏi SCL-90 để đánh giá 
các vấn đề của bệnh nhân để khảo sát các mức 
độ triệu chứng tâm lý của bệnh nhân. 
Qua 6 tháng điều trị, với 4 lần khảo sát ở mỗi 
lần tái khám (lúc bắt đầu, sau 1 tháng, sau 3 
tháng và sau 6 tháng), nghiên cứu ghi nhận được 
trung vị của SCL-90 tại thời điểm 1 tháng giảm 
so với lúc bệnh nhân mới vào (0,49 so với 0,88), 
khác biệt có ý nghĩa với p <0,001. Tiếp tục đánh 
giá ở thời điểm 3 tháng, số điểm SCL-90 có giảm 
khi so với lúc đánh giá vào thời điểm 1 tháng 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 204 
(0,49 so với 0,29) và sự khác biệt này cũng có ý 
nghĩa thống kê với p <0,001. Tương tự, trung vị 
của SCL-90 sau 6 tháng tiếp tục giảm so với thời 
điểm 3 tháng (0,29 so với 0,18), với p <0,001. Qua 
theo dõi bệnh nhân, nhóm nghiên cứu cũng 
nhận thấy: đa số các BN khi mới phát hiện bệnh 
đều có rất nhiều vấn đề về tâm lý. Ngoài ra, ở 
nhóm BN có tuổi cao hơn thường có xu hướng 
tự lo lắng nhiều hơn. Việc giải thích rõ ràng và 
tư vấn kỹ cho bệnh nhân về các nguồn lây bệnh, 
phác đồ điều trị, việc dùng thuốc... trong thời 
gian này là hết sức quan trọng. Sau lần tái khám 
ở thời điểm 1 tháng và 3 tháng, đa phần bệnh 
nhân đều có giảm các triệu chứng bất ổn về tâm 
lý và giảm sự lo âu, điều này cũng tương ứng 
với sự thích nghi và chấp nhận tình trạng bệnh, 
ngoài ra điều này cũng một phần thể hiện sự yên 
tâm hơn sau khi được bác sĩ tư vấn và chăm sóc 
điều trị. Có thể thấy, ở thời điểm mới được chẩn 
đoán, có sự tăng rất các các điểm số về triệu 
chứng tâm lý của bệnh nhân, nhưng các triệu 
chứng tâm lý sẽ dần cải thiện sau 6 tháng điều 
trị. Ngoài việc chấp nhận và thích nghi tự nhiên 
của bệnh nhân, việc phục hồi tâm lý còn được 
cải thiện nhờ vào việc tư vấn ban đầu của bác sĩ, 
quá trình tư vấn tốt có thể tạo mối gắn kết với 
bệnh nhân và giúp bệnh nhân an tâm hơn, giải 
quyết các vấn đề nhân quả và các yếu tố tâm lý 
bên trong của bệnh nhân, từ đó giúp bệnh nhân 
phục hồi tâm lý và cải thiện tình trạng bệnh của 
bệnh nhân(6,8). 
Về các yếu tố liên quan đến sự phục hồi tâm lý 
của bệnh nhân 
Khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự 
thay đổi tâm lý của bệnh nhân qua bảng phân 
tích, nghiên cứu ghi nhận: các triệu chứng tâm lý 
thông qua điểm số SCL-90 có sự giảm nhanh 
hơn ở nhóm BN trẻ tuổi và có tín ngưỡng tôn 
giáo. Thay đổi điểm số tâm lý hầu như không 
khác biệt có ý nghĩa thống kê ở các nhóm người 
bệnh theo giới tính, tình trạng hôn nhân, công 
việc, học vấn, chỉ số khối và tình trạng đồng 
nhiễm VGSV B, C với p >0,05. 
Có thể giải thích rằng: tuổi bệnh nhân có mối 
tương quan với thang điểm tâm lý vì ở những 
bệnh nhân cao tuổi hơn thì có nhiều mối lo lắng 
hơn về sức khỏe và về mặt xã hội, khi họ phải 
đối diện với nhiều áp lực tâm lý hơn khi bị bệnh, 
từ đó nhóm đối tượng này cũng có sự phục hồi 
về sức khỏe và tinh thần chậm hơn(9,10). 
Ngoài ra, thang điểm tâm lý còn có sự khác 
biệt giữa những người có tôn giáo và không có 
tín ngưỡng tôn giáo, và sự khác biệt lớn nhất ở 
nhóm có tôn giáo là Phật giáo thì có các triệu 
chứng tâm lý giảm nhẹ hơn. Có thể giả thuyết 
rằng, các vấn đề tinh thần của BN có thể sẽ một 
phần giải quyết được thông qua các niềm tin vào 
tôn giáo và thực hành các thói quen tốt. Từ đó, sẽ 
giúp BN tự điều chỉnh các hành vi của bản thân, 
từ đó sẽ giúp BN có thể giải tỏa các vấn đề tâm 
lý của chính họ. Bên cạnh đó, trên đối tượng 
bệnh nhân HIV có một yếu tố cần lưu tâm rằng 
đây là đây là một bệnh thuộc về nhóm bệnh xã 
hội, các bệnh nhân HIV/AIDS thường phải đối 
mặt với rất nhiều sự kỳ thị từ xã hội và thậm chí 
là nhân viên y tế, và chính vì vậy, khi bác sĩ điều 
trị cởi mở và tích cực giúp đỡ - đồng hành cùng 
bệnh nhân, thì sự tin tưởng của bệnh nhân đối 
với bác sĩ là gần như tuyệt đối và chính từ niềm 
tin đó, bệnh nhân sẽ tích cực tuân thủ điều trị 
làm cho tỉ lệ tuân thủ điều trị cũng ở mức cao 
tương ứng(4,7,11,12). 
Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu mang tính 
mở đầu với lần đầu tiên áp dụng bảng câu hỏi 
SCL-90 để đánh giá tâm lý bệnh nhân vì thế dân 
số nghiên cứu cũng còn hạn chế ở mức 93 bệnh 
nhân và chỉ thực hiện tại một cơ sở là phòng 
khám ngoại trú của Bệnh biện Bệnh Nhiệt đới, 
đây cũng là một trong những điểm yếu của 
nghiên cứu. Ngoài ra, trong nghiên cứu sử dụng 
bộ câu hỏi tự đánh giá, mặc dù bộ câu hỏi này có 
chỉ số tin cậy nội bộ cao, tuy nhiên sai số trong 
ước tính tỉ lệ triệu chứng khi tự báo cáo có thể 
xảy ra (người tự đánh giá có thể có xu hướng 
thiên lệch), mặc dù đây cũng là hạn chế chung ở 
những nghiên cứu có bộ câu hỏi tự đánh giá. 
Nhìn chung, số lượng nghiên cứu về tâm lý- 
sự tín nhiệm của bệnh nhân HIV/AIDS đối với 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 205 
bác sĩ điều trị ở Việt Nam và cả trên thế giới đều 
tương đối ít. Mặc khác, HIV/AIDS là một bệnh 
được xếp vào nhóm các bệnh truyền nhiễm mới 
trỗi dậy và việc điều trị HIV/AIDS chỉ thật sự có 
những bước tiến trong những thập niên gần đây. 
Với những kết quả đạt được và những hạn chế 
tồn tại của đề tài, chúng tôi cho rằng đây sẽ là 
tiền đề để triển khai các nghiên cứu khác trong 
lĩnh vực này, giúp bác sĩ lâm sàng chú trọng hơn 
các vấn đề về tâm lý và tư vấn cho bệnh nhân, từ 
đó nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện về cả 
sức khỏe lẫn chất lượng sống cho bệnh nhân 
HIV/AIDS ở nước ta. 
KẾT LUẬN 
Có sự thay đổi rất lớn về tâm lý ở bệnh nhân 
HIV/AIDS mới được chẩn đoán. Nếu được tư 
vấn và chăm sóc tốt thì tâm lý của bệnh nhân sẽ 
có sự cải thiện rất nhanh chóng sau 6 tháng điều 
trị. Việc tư vấn và chăm sóc tốt giúp cải thiện và 
mặt tâm lý cho bệnh nhân cũng là yếu tố quan 
trọng giúp bệnh nhân tăng tính tuân thủ và hồi 
phục về thể chất. Vì thế, bác sĩ điều trị cần hết 
sức chú trọng và quan tâm tư vấn cho bệnh nhân 
trong giai đoạn mới được chẩn đoán bệnh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. World Health Organization (2018). Psychosocial Support. URL: 
https://www.ifrc.org/en/what-we-do/health/psychosocial-
support/. 
2. Han HR, Kim K, Murphy J (2018). Community health worker 
interventions to promote psychosocial outcomes among people 
living with HIV-A systematic review. PLoS ONE, 13(4):e0194928. 
3. Lofgren SM, Nakasujja N, Boulware DR (2018). Systematic 
Review of Interventions for Depression for People Living with 
HIV in Africa. AIDS Behav, 22(1):1-8. 
4. Spaan P, van Luenen S, Garnefski N, et al (2020). Psychosocial 
interventions enhance HIV medication adherence: A systematic 
review and meta-analysis. J Health Psychol, 25(10-11):1326-1340. 
5. Department of Psychiatry - Helsinki University (2003). 
Assessment of psychiatric symptoms using the SCL-90. Helsinki 
University Printing House. 
6. Gail I, Elizabeth B, Emily S (2008). Perceived Stress and 
Norepinephrine Predict the Effectiveness of Response to 
Protease Inhibitors in HIV. Int J Behav Med, 15(3):221–226. 
7. Rintamaki LS, Davis TC, Skripkauskas S, et al (2006). Social 
stigma concerns and HIV medication adherence. AIDS Patient 
Care and STDs, 20:359–368. 
8. Steve K, Jean N, Anna F, et al (2014). CD4 T Cell recovery after 
initiation of antiretroviral therapy in a resource - limited setting: 
a prospective cohort analysis. Antiviral Therapy, 19:31-39. 
9. Kroeze S, Ondoa P, et al (2018). Suboptimal immune recovery 
during antiretroviral therapy with sustained HIV suppression 
in sub-Saharan Africa. AIDS, 32:1043–1051. 
10. Wondu T, Ambachew T (2015). Detection of immunological 
treatment failure among HIV infected patients in Ethiopia: a 
retrospective cohort study. BMC Immunology, doi: 
10.1186/s12865-015-0120-1. 
11. Ana MS, Michael BM, Michael WR (2005). Psychosocial Aspects 
of HIV/AIDS. Adults, pp.1-16. 
12. British Psychological Society (2011). Standards for psychological 
support for adults living with HIV. Medical Foundation for AIDS 
& Sexual Health, 
https://www.bhiva.org/standardsforpsychologicalsupport. 
Ngày nhận bài báo: 10/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfdien_tien_tam_ly_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_benh_nhan_moi_duo.pdf