Đánh giá tình hình thai và trẻ sơ sinh của các bà mẹ nhiễm rubella

mục tiêu: “Mô tả các dấu hiệu bất thường của thai

nhi và trẻ sơ sinh ở phụ nữ mang thai nhiễm rubella”. Đối

tượng và phương pháp: cỡ mẫu 777 phụ nữ mang

thai có ít nhất một trong các dấu hiệu như sốt, phát ban

và nổi hạch từ 2009 đến 2011: là thời gian ngay trước,

trong và kết thúc dịch. Kết quả: Tỷ lệ thai nhi ≥ 18 tuần

có dấu hiệu bất thường trên siêu âm là: bất thường về

mắt chiếm 1,4%, đục thủy tinh thể chiếm 1,2%, bất

thường về tim mạch chiếm 10,3%, hẹp động mạch phổi

ngoại biên chiếm 9,4% và đầu nhỏ chiếm 9,4%, gan to

chiếm 1,5%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhiễm rubella là 27,7%, tỷ lệ

trẻ sơ sinh mắc DTBS là 17,7%; Tỷ lệ dị tật bẩm sinh trên

trẻ sơ sinh nhiễm rubella là 64,1%, đặc biệt tất cả trẻ bị

DTBS đều đa dị tật. Kết luận: thai nhi nhiễm Rubella có

tỷ lệ dị dạng cao

pdf 4 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tình hình thai và trẻ sơ sinh của các bà mẹ nhiễm rubella", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá tình hình thai và trẻ sơ sinh của các bà mẹ nhiễm rubella

Đánh giá tình hình thai và trẻ sơ sinh của các bà mẹ nhiễm rubella
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
75
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 75 - 78, 2013
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THAI VÀ TRẺ SƠ SINH
CỦA CÁC BÀ MẸ NHIỄM RUBELLA
phạm huy hiền hào(1), nguyễn Quảng Bắc(2) 
(1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
tóm tắt
mục tiêu: “Mô tả các dấu hiệu bất thường của thai 
nhi và trẻ sơ sinh ở phụ nữ mang thai nhiễm rubella”. Đối 
tượng và phương pháp: cỡ mẫu 777 phụ nữ mang 
thai có ít nhất một trong các dấu hiệu như sốt, phát ban 
và nổi hạch từ 2009 đến 2011: là thời gian ngay trước, 
trong và kết thúc dịch. Kết quả: Tỷ lệ thai nhi ≥ 18 tuần 
có dấu hiệu bất thường trên siêu âm là: bất thường về 
mắt chiếm 1,4%, đục thủy tinh thể chiếm 1,2%, bất 
thường về tim mạch chiếm 10,3%, hẹp động mạch phổi 
ngoại biên chiếm 9,4% và đầu nhỏ chiếm 9,4%, gan to 
chiếm 1,5%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhiễm rubella là 27,7%, tỷ lệ 
trẻ sơ sinh mắc DTBS là 17,7%; Tỷ lệ dị tật bẩm sinh trên 
trẻ sơ sinh nhiễm rubella là 64,1%, đặc biệt tất cả trẻ bị 
DTBS đều đa dị tật. Kết luận: thai nhi nhiễm Rubella có 
tỷ lệ dị dạng cao.
từ khóa: Rubella, phụ nữ mang thai
ABStRACt
assessmenT The FeTus and neWborns oF 
PregnanT Women inFecTed rubella virus
Objective: Describe abnormal features of fetus and 
newborns of pregnant women infected rubella virus. 
materials and methods: 777 pregnant women having 
at least one of the signs as fever, rash, lymphatic nodes; 
Study time from 2009 to 2011: before, during and after 
rubella epidemic outbreak. Results: The rate of abnormal 
fetus having GA ≥ 18 weeks detected by ultrasound: eye 
lesions 1,4%, cataracts 1,2%, heart malformations 10,3%, 
pulmunary artery stenosis 9,4% and microcephalie 
9,4%, hepatomegaly 1,5%; The rate of newborn of 
rubella infections 27,7%, the rate of congenital rubella 
syndroms(CRS) 17,7%; the newborn of rubella infections 
have 64,1% CRS, particulary all of the cases with 
multimalformations. Conclusion: fetal Rubella infection 
have high rate ò fetal malformations.
Keywords: Rubella, pregnant women
Đặt vấn Đề 
Ở Hoa Kỳ, theo McElhaney và cộng sự, tỷ lệ phụ nữ 
bị nhiễm 25% [1], theo Amy Jonhson và Brenda Ross, 
tỷ lệ nhiễm từ 10- 20% [2]. Rubella có thể gây ra nhiều 
biến chứng, yếu tố liên quan đến sức khỏe cộng đồng 
được đặt ra là rubella gây ra thai dị tật bẩm sinh. Với 
những phụ nữ mang thai nhiễm rubella nguyên phát 
ở những tuần đầu thai nghén, thì vi rút rubella có thể 
vào thai nhi và gây ra hội chứng rubella bẩm sinh ở 
trẻ nhỏ. Phụ nữ mang thai bị nhiễm rubella càng sớm 
thì hậu quả đến thai nhi càng nặng nề, đặc biệt trong 
3 tháng đầu của thai nghén. Theo Miller và cộng sự, 
tỷ lệ ảnh hưởng đến thai nhi dưới 12 tuần là 80%, từ 
13- 14 tuần là 54%, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối là 
25%, tỷ lệ ảnh hưởng chung lên thai nhi là 9% [3]. Hội 
chứng rubella bẩm sinh có thể bao gồm 1 hoặc nhiều 
triệu chứng: khiếm khuyết ở mắt, các dị tật về tim, 
động mạch, khiếm khuyết về hệ thống thần kinh, ban 
xuất huyết, bệnh về xương. Hoàng Thị Thanh Thủy, đã 
nghiên cứu tình hình đình chỉ thai nghén vì nhiễm 
rubella tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 6 tháng đầu 
năm 2011[4]. Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và ở 
khu vực miền Bắc nói riêng, chưa có nghiên cứu nào 
về tình hình nhiễm rubella trong thời kỳ thai nghén 
và ảnh hưởng đến thai nhi của người mẹ bị nhiễm 
rubella trong thời kỳ mang thai. chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu này với mục tiêu: “Mô tả các dấu hiệu bất 
thường của thai nhi và trẻ sơ sinh ở phụ nữ mang thai 
nhiễm rubella”.
Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
1. Đối Tượng nghiên cứu
-777 phụ nữ mang thai đến khám, 141 phụ nữ 
sinh đẻ tại BVPSTW có nguy cơ cao nhiễm rubella 
(sốt, phát ban và nổi hạch thời gian từ 2009 đến 2011: 
là thời gian ngay trước dịch, trong khi dịch xảy ra và 
kết thúc dịch.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Phụ nữ mang thai có các triệu chứng lâm sàng 
- Trong tổng số 661 phụ nữ mang thai được siêu 
âm (đủ thời gian mang thai ≥ 18 tuần để có thể có 
kết quả siêu âm): tỷ lệ thai nhi có bất thường về 
mắt chiếm 1,4%; đục thủy tinh thể chiếm 1,2%; bất 
thường về tim mạch chiếm 10,3%; hẹp động mạch 
phổi ngoại biên chiếm 9,4%; đầu nhỏ chiếm 9,4%; 
gan to chiếm 1,5%.
- Phân bố bất thường của thai trên siêu âm theo 
tình trạng nhiễm mới rubella d ựa v ào IgM(+) và 
không nhiễm mới IgM(-): Bất thường về mắt: 0,7% 
so với 2,4% (p=0,087); Đục thủy tinh thể: 0,7% so với 
2,0% (p=0,375); Bất thường về tim mạch: 11,9% so với 
7,7% (p=0,049); Bất thường về mắt: 0,7% so với 2,4% 
(p=0,087); Hẹp động mạch phổi ngoại biên:10,9% so 
với 6,9% (p=0,042) ; Chu vi vòng đầu nhỏ:9,4% so với 
9,3% (p=0,994)
- Chỉ số apgar của trẻ sơ sinh: 3 – 4 điểm: 0,7%; 5 – 
7 điểm: 9,9%; > 7 điểm: 8,2,3%.
Bảng 1. phân bố kháng thể igg và igM của trẻ sơ sinh
Bảng 2. Tỷ lệ trẻ sơ sinh có dị tật bẩm sinh 
Trong tổng số 141 trẻ sơ sinh, tỷ lệ trẻ sơ sinh có dị 
tật bẩm sinh có 25 trẻ sơ sinh chiếm 17,7%.
Bảng 3. phân bố kháng thể igM của trẻ sơ sinh nhiễm rubella và DTBS
- 25 trẻ sơ sinh có DTBS trên 39 trẻ nhiễm rubella 
chiếm tỷ lệ là 64,1.
Bảng 4. phân bố trẻ sơ sinh có dấu hiệu bất thường theo tuổi thai nhiễm rubella 
- Các bất thường trên 141 trẻ sơ sinh: Tăng nhãn 
phạM huy hiền hào, nguyễn Quảng BắC SẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
76
Số lượng Tỷ lệ %
igg dương
igg âm
139
2
98,6
1,4
igM dương
igM âm
39
102
27,7
72,3
Các bất thường Số lượng Tỷ lệ %
Có
Không
25
116
17,7
82,3
Tổng 141 100,0
Dị tật bẩm sinh Không dị tật bẩm sinh
p
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
igM âm tính 0 0 102 100
0,001
igM dương tính 25 64,1 14 35,9
Tổng 25 17,7 116 82,3
Tuổi thai 
(tuần)
Có dấu hiệu bất thường Không có dấu hiệu bất thường
p
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
5 tuần 1 14,3 6 85,7
0,3216-12 tuần 16 22,5 55 77,5
13-18 tuần 8 12,7 55 87,3
như sốt, phát ban và nổi hạch tuổi thai từ 5- 18 tuần 
theo dõi thai và sinh đẻ tại BVPSTW.
- Được lấy máu xét nghiệm định lượng IgG và IgM 
- Tuổi thai phụ xét nghiệm máu từ 5– 18 tuần.
- Bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia vào 
nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
 - Bệnh nhân từ chối không tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân bỏ, không theo dõi trong quá trình 
nghiên cứu.
 - Bệnh nhân đang sẩy thai.
2. Phương PháP nghiên cứu:
Là phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu. 
Kết quả
1. Đặc Điểm chung
- Tổng số phụ nữ mang thai có 1 trong 3 triệu 
chứng lâm sàng nghi nghờ nhiễm rubella mới là sốt, 
phát ban, nổi hạch: 777 bệnh nhân.
- Tuổi: <20: 3,0% ; 20-29: 77,6% ; 30-39: 18,8% ; 
40-49: 0,6%
- Nơi ở: Thành thị 42,6% ; Nông thôn: 57,4%.
- Học vấn: Dưới phổ thông trung học: 12,2%; Phổ 
thông trung học: 87,8%
- Tình trạng hôn nhân: Có chồng: 99,9%; Chưa/ 
không có chồng: 0,1%
- Thời điểm thai phụ xét nghiệm máu, 13-18 tuần: 
50,3%, 6-12 tuần: 43,4% ; 5 tuần: 6,3% . Tuổi thai trung 
bình: 11,9±3,46 tuần.
- Tỷ lệ phụ nữ mang thai có biểu hiện đã nhiễm cũ 
là: tiền sử sốt và phát ban: 1,4%; tiêm vacxin phòng 
rubella: 0,3%. 
- Phân bố các triệu chứng lâm sàng riêng rẽ: sốt: 
có 64,4%, không 35,6%; phát ban: có 84,6%, không 
15,4%; nổi hạch: có 44,9%, không 55,1%.
- Ba triệu chứng lâm sàng phối hợp sốt, phát ban 
và nổi hạch; có 34,9%, không 65,1%.
Đình chỉ thai nghén: 777 thai phụ, có 636 trường 
hợp ĐCTN chiếm tỷ lệ rất cao chiếm 81,9%, 141 thai 
phụ tiếp tục giữ thai chiếm tỷ lệ 18,1%
- 116 trường hợp ĐCTN dưới 16 tuần: 18,2%, 520 
trường hợp ĐCTN ≥ 18 tuần: 82,8%.
- Tỷ lệ phụ nữ mang thai có kháng thể IgG (+): 
87,5%, IgM (+): 68,1%, IgG(-) và IgM (+): 7,2%, có 
nhiễm rubella IgG (+) hoặc IgM (+): 94,7%. 
2. các dấu hiệu bấT Thường của Thai nhi và Trẻ 
sơ sinh ở Phụ nữ mang Thai nhiễm rubella
 Có thể có tới 1/3 trẻ không có triệu chứng bất 
thường sau khi sinh nhưng có thể có một số triệu 
chứng xuất hiện muộn như đái đường, u tuyến giáp 
và béo phì. Hội chứng rubella mở rộng (sa sút trí tuệ, 
đái đường type I) có thể phát triển muộn ở độ tuổi 
20 hoặc 30 tuổi [2].
Tại Việt Nam các nghiên cứu về các triệu 
chứng của nhiễm rubella tương đối ít, đặc biệt là 
trên những phụ nữ mang thai có nghi ngờ nhiễm 
rubella. Do vậy, ít có cơ hội để có thể so sánh giữa 
kết quả nghiên cứu của tôi và các tác giả khác. Lê 
Diễm Hương và CS đã nghiên cứu mô tả 4 trường 
hợp mắc rubella trong vòng 12 tuần đầu mang 
thai và sinh con có dị tật bẩm sinh, cho biết cả 
4 bà mẹ đều có các triệu chứng lâm sàng định 
hướng đến chẩn đoán nhiễm rubella như sốt, 
phát ban và nổi hạch [6]. 
Theo Menser và cộng sự (1967), theo dõi 50 
trường hợp nhiễm rubella bẩm sinh trong 25 năm 
cho thấy, điếc chiếm 96%, bất thường về hình thể 
52%, hình thể bé 50%, bất thường về hệ thống tim 
mạch 22%[7]. 
Theo Lorraine Dontigny và cộng sự, khi thai 
phụ bị nhiễm rubella trong khoảng 3 tháng đầu 
mang thai, tỉ lệ thai nhi bị nhiễm là gần 80%, giảm 
xuống 25% vào cuối 3 tháng giửa, tỉ lệ này lại tăng 
lên từ 35% tại 27 - 30 tuần đến gần 100% sau 36 
tuần . Nguy cơ bị bất thường bẩm sinh đã được 
báo cáo lên tới 90% khi sản phụ bị nhiễm trước 11 
tuần , 33% tại 13 - 14 tuần, 24% tại 15 - 16 tuần và 
0% sau 16 tuần [8]. Theo một số tác giả, một số dị 
tật và tỷ lệ lây nhiễm được tóm tắt như sau:
Bảng 5. Các bất thường do nhiễm rubella trên trẻ sơ sinh(9,10,8).
Dị tật tim xảy ra sau khi nhiễm rubella tại bất 
kỳ thời điểm nào trong 12 tuần đầu của thai kỳ, 
nhưng khá hiếm khi nhiễm rubella sau 12 tuần 
(3,11). Tổn thương tim mạch vẫn là phổ biến 
nhất, còn tổn thương ống động mạch liên quan 
với nhiễm vi rút từ 11 đến 48 ngày sau khi thụ 
tinh, hẹp động mạch phổi và các nhánh của nó từ 
16 đến 57 ngày sau khi thụ tinh (12). Trong một 
nghiên cứu của trẻ sơ sinh bị rubella bẩm sinh, 
13 trẻ em đã đục thủy tinh thể sau khi bà mẹ bắt 
đầu phát ban giữa 12 và 43 ngày sau khi thụ tinh, 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
77
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 75 - 78, 2013
Tuổi thai Các bất thường Tỷ lệ %
3 tháng đầu
Dị tật mắt, dị tật tim mạch, dị tật hệ thống thần 
kinh, điếc, thai chậm phát triển trong tử cung
38-100
3 tháng giữa Điếc, bệnh đáy mắt, đầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ 4-60
3 tháng cuối Thai chậm phát triển trong tử cung 0-18
áp bẩm sinh 2,1%; Đục thuỷ tinh thể 8,5%; Viêm sắc 
tố võng mạc 0,7%; Bất thường về tim mạch 13,5%; 
Hẹp động mạch phổi 10,6%; Gan to 12,8%; Đầu nhỏ 
24,1%; Chiều dài xương đùi ngắn 63,8%;Trẻ sơ sinh 
nhẹ cân 25,5%
- Phân bố các bất thường trên 25 thai nhi có 
DTBS: Tăng nhãn áp bẩm sinh 12%; Đục thuỷ 
tinh thể 44%; Bất thường về tim mạch 72%; Hẹp 
động mạch phổi 56%; Đầu nhỏ 4%; Vàng da 88%; 
Gan to 56%; Ban xuất huyết 88%; Xương đùi 
ngắn100%.
 - 25 trẻ sơ sinh đều có đa DTBS: 2 DTBS 4%,3 
DTBS 16%; 4 DTBS 12%; 5 DTBS 12%; 6 DTBS 28%; 7 
DTBS 20%; 8 DTBS 8%.
Bàn luận
- Tỷ lệ nhiễm mới rubella IgM(+) 68,1%, đã 
nhiễm rubella IgG(+): 87,5% và khởi nhiễm IgM 
(+) IgG(-) là 7,2%, tổng cộng chung phát hiện 
được nhiễm rubella mới hoặc cũ khi xét nghiệm 
máu thời điểm 5 – 18 tuần chỉ phát hiện được 
94,7% các trường hợp, đây cũng phù hợp với xét 
nghiệm trên 141 trẻ sơ sinh có 98,6% IgG(+); sở dĩ 
số trẻ sơ sinh có IgG(+) lớn hơn đôi chút là do số 
phát thai trước đó cộng với thai phụ mắc rubella 
sau thời điểm xét ngiệm nghiên cứu . Thực ra tình 
trạng nhi ễm mới của bà mẹ chỉ dựa vào IgM(+) 
thôi cũng chưa chính xác vì đôi khi vào thời điểm 
xét nghiệm muộn quá IgM đã âm tính, hoặc sớm 
qu á IgM chưa dương tính; thai nhi bị nhiễm vi rút 
rubella sau khi sinh ra sẽ tiếp tục thải vi rút qua 
phân cho đến 30 tháng tuổi [5].
- 520 trường hợp ĐCTN ≥ 18 tuần: 82,8%; 
nhưng tỷ lệ thai nhi có dấu hiệu bất thường trên 
siêu âm là rất thấp: Tỷ lệ thai nhi có bất thường về 
mắt chiếm 1,4%, đục thủy tinh thể chiếm 1,2%, 
bất thường về tim mạch chiếm 10,3%, hẹp động 
mạch phổi ngoại biên chiếm 9,4% và chu vi vòng 
đầu nhỏ chiếm 9,4%
- 141 thai phụ tiếp tục giữ thai đến lúc đẻ, 39 trẻ 
sơ sinh nhiễm rubella IgM(+) chiếm tỷ lệ 27%, 25 trẻ 
bị dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ là 17,7%, như vậy trong 
số 39 trẻ nhiễm rubella chỉ có 64,1% trẻ bị DTBS đều 
là đa dị tật; Tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc DTBS là 17,7%, trong 
đó tỷ lệ trẻ sơ sinh bị tăng nhãn áp là 12%, đục thủy 
tinh thể là 44%, viêm sắc tố võng mạc là 4%. Bất 
thường về tim mạch là 72%, hẹp động mạch phổi là 
56%. Gan to chiếm 56%, vàng da và ban xuất huyết 
88%. Chu vi vòng đầu nhỏ 96%, nhẹ cân 92,3%, 
chiều dài xương đùi ngắn 100%.
phạM huy hiền hào, nguyễn Quảng BắCSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
78
trong khi 33 thai nhi bị nhiễm bệnh sau 43 ngày 
không phát triển đục thủy tinh thể (12). 
Phụ nữ mang thai bị nhiễm rubella và sốt 
phát ban trong 3 tháng đầu, hậu quả nặng nề 
ảnh hưởng lên thai nhi. Theo Miller và cộng sự 
(1982), phụ nữ mang thai bị nhiễm rubella trong 
12 tuần đầu tiên có 80% thai nhi bị lây nhiễm 
rubella. Vào tuần 13- 14, tỷ lệ là 54%, vào giữa và 
cuối thai kỳ là 25%. Hội chứng rubella bẩm sinh 
hay gặp bất thường về mắt: đục thủy tinh thể, 
tăng nhãn áp bẩm sinh, bất thường về tim bẩm 
sinh: bất thường ống động mạch, hẹp động mạch 
phổi ngoại biên, điếc cảm nhận, khiếm khuyết 
hệ thống thần kinh trung ương: đầu nhỏ, chậm 
phát triển trí tuệ, chậm phát triển tâm thần, viêm 
màng não, viêm sắc tố võng mạc, ban xuất huyết, 
gan to vàng da, bệnh tổn thương các đầu xương 
dài (3). Theo tác giả này, thai phụ bị nhiễm rubella 
dưới 11 tuần, tỷ lệ tim bẩm sinh và điếc là 100% 
Theo Amy Johnson và Brenda Ross (2007), nguy 
cơ bất thường bẩm sinh lớn nhất ở thai nhi là ở 
trong 3 tháng đầu thai nghén. Nguy cơ nhiễm hội 
chứng rubella bẩm sinh là khoảng 90% khi người 
mẹ mang thai bị lây nhiễm trước 12 tuần. Nguy 
cơ giảm xuống 20% khi người mẹ bị lây nhiễm 
ở tuổi thai từ 12- 16 tuần; Tuổi thai từ 16 đến 20 
tuần: hội chứng rubella bẩm sinh ở tuổi thai từ 16 
đến 20 tuần là rất hiếm (<1%) và có thể biểu hiện 
bởi bệnh điếc cảm nhận (thường nghiêm trọng) 
ở trẻ mới sinh; Tuy nhiên, sau 20 tuần, nguy cơ 
này giảm xuống đến tối thiểu (2). Nguy cơ ảnh 
hưởng đến những hệ thống cơ quan trong cơ thể 
có thể xảy ra. Những khiếm khuyết bẩm sinh bao 
gồm những khiếm khuyết ở mắt, ví dụ như hình 
thể (10% ), mắt nhỏ và tăng nhãn áp, những bất 
thường về tim (10%-20%), đặc biệt là bất thường 
ống động mạch, bất thường động mạch phổi, 
khiếm khuyết ở van tim, điếc cảm nhận (60% - 
70%), não bộ chậm phát triển trí tuệ, không có 
khả năng hoạt động tinh tế. 
Kết luận
- Tỷ lệ thai nhi ≥ 18 tuần có dấu hiệu bất 
thường trên siêu âm là: bất thường về mắt chiếm 
1,4%, đục thủy tinh thể chiếm 1,2%, bất thường 
về tim mạch chiếm 10,3%, hẹp động mạch phổi 
ngoại biên chiếm 9,4% và đầu nhỏ chiếm 9,4%, 
gan to chiếm 1,5%.
- Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhiễm rubella là 27,7%, tỷ lệ 
trẻ sơ sinh mắc DTBS là 17,7%
- Tỷ lệ dị tật bẩm sinh trên trẻ sơ sinh nhiễm 
rubella là 64,1%, đặc biệt tất cả trẻ bị DTBS đều 
đa dị tật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. McElhaney RD Jr, Ringer M, DeHart DJ, et al. 
Rubella immunity in a cohort of pregnant women, 
Infect Control Host Epidemiol 20, 1999; pp. 64.
2. Amy Johnson and Brenda Ross. Perinatal 
infections John Hopkins Manual of Gynecology and 
Obstetrics, 2007; pp. 136- 149.
3. Miller E, Cradock-Watson JE, Pollock TM. 
Consequences of confirmed maternal rubella at 
successive stages of prenancy, Lancet 2, 1982, pp. 781-784.
4. Hoàng Thị Thanh Thủy. Nghiên cứu tình hình đình 
chỉ thai nghén vì nhiễm rubella tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương 6 tháng đầu năm 2011, Luận văn tốt nghiệp 
nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 2011.
5. Nguyễn Vũ Trung.Virus rubella. Vi sinh vật y 
học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2007; tr 304-307.
6. Lê Diễm Hương, Lê Quang Tân, Phạm Văn Ánh 
và cộng sự. Nhận xét một số trường hợp mắc hội 
chứng rubella bẩm sinh đề xuất biện pháp phòng 
ngừa, Hội nghị Việt – Pháp về sản phụ khoa vùng 
Châu Á Thái Bình Dương lần 5, 2005; tr 101 – 106.
7. Menser, M.A, J,D, Harley, R, Hertzberg, et al. 
Persistence of virus in lens for three years after 
prenatal rubella, Lancet, 2,1967; pp. 387–388.
8. Remington JS, Klein JO. Infectious diseases of 
the fetus and newborn Infant, 5th ed, Philadelphia, 
Saunders Company, 2001.
9. Atreya CD, Mohan KV, Kulkarni S. Rubella virus 
and birth defects: molecular insights into the viral 
teratogenesis at the cellular level, Birth Defects Res 
Part A Clin Mol Teratol ,2004; 70(7), pp. 431–7.
10. M, De Santis, A,F, Straface, A, Caruso. 
Rubella infection in pregnancy, Reproductive 
Toxicology, 21, 2006; pp. 390-398.
11. South, M,A., and J,L, Sever. Teratogen update: 
The congenital rubella syndrome, Teratology, 
31,1985; pp. 297–307. 
12. Ueda, K, Y, Nishida, and K, Oshinia.Congenital 
rubella syndrome: Correlation of gestational age 
at time of maternal rubella with type of defect, J, 
Pediatr, 94, 1979; pp. 763–765.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tinh_hinh_thai_va_tre_so_sinh_cua_cac_ba_me_nhiem_r.pdf