Đánh giá tác dụng hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị

nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai.

Phương pháp: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng chiếu tia plasma lạnh

kết hợp điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thường quy trên từng bệnh nhân.

Kết quả: Có 28 bệnh nhân được khâu lại vết mổ thành bụng chiếm

84,8%. Thời gian lên tổ chức hạt vết mổ từ 3-5 ngày chiếm 81,8%.

Thời gian trung bình khâu lại vết mổ là 4,1±0,6 ngày. Thời gian hết

sốt từ 1-2 ngày chiếm 72,7%. Thời gian nằm viện trung bình là

5,2±2,2 ngày.

Kết luận: Điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai

kết hợp chiếu tia plasma lạnh giúp vết mổ nhanh liền và rút ngắn

thời gian điều trị.

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tác dụng hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá tác dụng hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai

Đánh giá tác dụng hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai
Vũ Bá Quyết, Nguyễn Quảng Bắc 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG HỖ TRỢ CỦA PLASMA LẠNH 
TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN
VẾT MỔ THÀNH BỤNG SAU MỔ LẤY THAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Quảng Bắc, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: Nhiễm khuẩn vết mổ, 
plasma lạnh.
Keywords: Post C-section 
wound infection, medical 
plasma.
Tóm tắt
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị 
nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai. 
Phương pháp: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng chiếu tia plasma lạnh 
kết hợp điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thường quy trên từng bệnh nhân. 
Kết quả: Có 28 bệnh nhân được khâu lại vết mổ thành bụng chiếm 
84,8%. Thời gian lên tổ chức hạt vết mổ từ 3-5 ngày chiếm 81,8%. 
Thời gian trung bình khâu lại vết mổ là 4,1±0,6 ngày. Thời gian hết 
sốt từ 1-2 ngày chiếm 72,7%. Thời gian nằm viện trung bình là 
5,2±2,2 ngày. 
Kết luận: Điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai 
kết hợp chiếu tia plasma lạnh giúp vết mổ nhanh liền và rút ngắn 
thời gian điều trị.
Từ khoá: Nhiễm khuẩn vết mổ, plasma lạnh. 
Abstract 
EFFICIENCY OF MEDICAL PLASMA IN TREATMENT 
OF POST C-SECTION WOUND INFECTION 
Objectives: To evaluate efficiency of medical plasma in treatment of 
post C-section wound infection. 
Methods: This is clinical trial using medical plasma in combination 
with routine protocol in treatment of post C-section wound infection. 
Results: 28 patients treated with wound resutured (84,8%). Granulation 
formation from 3 to 5 days: 81,8%. Average length of resutured was 
4,1±0,6 days. Fever lasted for 1-2 days: 72,7%. Average length of 
hospitalization was 5,2±2,2 days. 
Conclusion: Combining medical plasma with routine protocol in 
treatment of post C-section wound infection help to reduce length of 
hospitalization and boost-up healing rate. 
Key words: post C-section wound infection, medical plasma.
VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN QUẢNG BẮC
78
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 78 - 81, 2017
79
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
1. Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn vết mổ là một biến chứng nặng 
sau mổ, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp 
thời sẽ gây những hậu quả nặng nề ảnh hưởng 
tới kinh tế gia đình và xã hội. Mổ lấy thai tuy là 
một cuộc mổ sạch nhưng vẫn có một tỷ lệ bị nhiễm 
khuẩn vết mổ sau mổ, theo Bagratee và Moodley 
[1], nhiễm khuẩn vết mổ chiếm 13,3% trong các 
nhiễm khuẩn sau mổ đẻ. Theo nghiên cứu của Chử 
Quang Độ [1] thì tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ 
lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 
2001 là 18,08%. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng 
kháng sinh ngày càng gia tăng gây ra mối quan 
ngại về điều trị nhiễm khuẩn trong tương lai. Trên 
thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn 
đề kháng thuốc đã trở nên báo động. Trong đó, 
nghiên cứu ứng dụng plasma trong diệt khuẩn rất 
đáng được quan tâm, ứng dụng này đã phát triển 
rất mạnh trong những năm gần đây ở các nước 
phát triển trên thế giới [3]. Xuất phát từ thực tiễn 
đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh 
giá tác dụng hỗ trợ của plasma lạnh trong điều trị 
nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai”
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị nhiễm 
khuẩn vết mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn vết 
mổ thành bụng nông.
- Bệnh nhân sau mổ lấy thai tại viện và các 
bệnh viện tuyến dưới.
- Thời gian từ khi phẫu thuật đến khi xuất hiện 
nhiễm khuẩn vết mổ trong vòng 30 ngày.
- Bệnh nhân được cung cấp bảng thông tin 
nghiên cứu, đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu 
và ký tên vào bảng tự nguyện tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS, mắc lao, 
giang mai.
- Bệnh nhân có nhiễm trùng toàn thân
- Bệnh nhân có máy điều hòa nhịp tim và máy 
khử rung
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng chiếu tia 
plasma lạnh kết hợp điều trị nhiễm khuẩn vết mổ 
thường quy trên từng bệnh nhân.
3. Kết quả nghiên cứu
- Trong 6 tháng cuối năm 2016, chúng tôi điều 
trị được 33 bệnh nhân nhiễm khuẩn vết mổ thành 
bụng tại khoa sản nhiễm khuẩn Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương, kết quả thu được như sau:
Nhận xét: Có 28 bệnh nhân được khâu lại vết 
mổ thành bụng chiếm 84,8%
Nhận xét: thời gian lên tổ chức hạt vết mổ từ 
3-5 ngày chiếm 81,8%
Nhận xét: thời gian khâu lại vết mổ từ 3-5 ngày 
chiếm 71,4%
Nhận xét: Thời gian hết sốt từ 1-2 ngày 
chiếm 72,7%
Khâu lại vết mổ n Tỷ lệ %
Khâu 28 84,8
Không khâu 5 15,2
Tổng số 33 100
Bảng 1. Khâu lại vết mổ
Thời gian lên tổ chức hạt n Tỉ lệ %
< 3 ngày 5 15,2
3-5 ngày 27 81,8
>5 ngày 1 3,0
Tổng số 33 100
Trung bình 3,7±1,0
Bảng 2. Thời gian lên tổ chức hạt
Thời gian khâu lại vết mổ n Tỉ lệ %
< 3 ngày 5 17,9
 3- 5 ngày 20 71,4
>5 ngày 3 10,7
Tổng số 33 100
Trung bình 4,1±0,6
Bảng 3. Thời gian khâu lại vết mổ
Thời gian hết sốt n Tỉ lệ %
1-2 ngày 24 72,7
3-4 ngày 6 18,2
5-7 ngày 3 9,1
> 7 ngày 0 0
Tổng số 33 100
Trung bình 1,5±0,4
Bảng 4. Thời gian hết sốt
VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN QUẢNG BẮC
80
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nhận xét: thời gian nằm viện 5- 7 ngày 
chiếm 45,5%
4. Bàn luận
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong số 33 
trường hợp NKVM có 28 trường hợp được khâu 
lại vết mổ chiếm tỷ lệ 84,8%, số còn lại là 5 trường 
hợp không phải khâu lại vết mổ thành bụng mà 
để hở chiếm tỷ lệ 15,2%. Những trường hợp phải 
khâu lại vết mổ là do vết mổ có toác rộng, khi khâu 
lại vết mổ đã được cắt lọc lấy hết dịch mủ, tổ chức 
hoại tử, giả mạc kết hợp chiếu tia plasma lạnh và 
đã lên tổ chức hạt. Vết mổ được khâu lại bằng 
các mũi rời, khâu cách quãng. Theo nghiên cứu 
của Nguyễn Thị Phương Thảo, trong số 62 trường 
hợp NKVM có 20 trường hợp được khâu lại vết 
mổ chiếm tỷ lệ 32,3%, số còn lại là 42 trường hợp 
không phải khâu lại vết mổ thành bụng mà để hở 
chiếm tỷ lệ 77,7% [4].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian lên 
tổ chức hạt vết mổ từ 3-5 ngày chiếm 81,8%, < 3 
ngày chiếm 15,2%, trên 5 ngày chiếm 3%. Thời 
gian trung bình tổ chức hạt vết mổ 3,7±1,0 ngày. 
Nghiên cứu sử dụng khí NO trong điều trị vết 
thương phần mềm nhiễm trùng của Lipatov (2002) 
ở 40 bệnh nhân đã chứng minh khả năng tăng tốc 
của quá trình liền vết thương so với nhóm chứng 
bằng các xét nghiệm vi khuẩn, tế bào học và hình 
thái học. Khảo sát bằng Laser Doppler flowmetry 
thấy sự cải thiện đáng kể các vi tuần hoàn trong 
khu vực vết thương. Phương pháp này giúp tổ chức 
hạt mọc nhanh và giảm 3 đến 5 ngày thay băng 
để đóng vết thương [5].
Trong số 28 trường hợp có khâu lại vết mổ thì 
thời gian khâu lại vết mổ sau khi vào bệnh viện 
Phụ Sản Trung Ương điều trị từ ngày thứ 3-5 chiếm 
tỷ lệ 71,4%, chỉ có 5 trường hợp là được khâu lại 
vết mổ trong vòng 3 ngày sau khi vào viện chiếm 
tỷ lệ 17,9%. 3 bệnh nhân được khâu lại vết mổ > 5 
Thời gian nằm viện n Tỉ lệ %
< 3 ngày 2 6,1
3-5 ngày 7 21,2
5-7 ngày 15 45,4
> 7 ngày 9 27,3
Tổng số 33 100
Trung bình 5,2±2,2
Bảng 5. Thời gian nằm viện ngày đều chiếm tỷ lệ 10,7%. Thời gian khâu lại vết 
mổ sau khi vào viện điều trị trung bình là 4,1±0,6 
ngày. Như vậy trước khi khâu lại vết mổ cần được 
làm thuốc, cắt lọc, rửa vết mổ để loại bỏ các tổ 
chức hoại tử, giả mạc, vết mổ lên tổ chức hạt thì 
thời gian liền của vết mổ sẽ nhanh hơn, rút ngắn 
thời gian nằm viện. Isbary (2010) nghiên cứu trên 
150 bệnh nhân có vết thương nhiễm trùng mạn tính 
được điều trị với plasma argon hàng ngày từ 2 đến 
5 phút, đã kết luận điều trị argon plasma lạnh là 
một kỹ thuật điều trị mới an toàn, không đau, làm 
giảm lượng vi khuẩn vết thương mãn tính và thúc 
đẩy quá trình liền thương [6].
Theo bảng 4, trong số 33 trường hợp NKVM 
thì có 24 trường hợp hết sốt sau thời gian điều trị 
từ 1-2 ngày, chiếm tỷ lệ 72,7%, tiếp đến là hết sốt 
sau khi điều trị trong khoảng từ 3-4 ngày chiếm 
tỷ lệ 18,2%, chỉ có 3 bệnh nhân là sau khi điều 
trị trên 5 ngày mới hết sốt và 3 trường hợp này 
đều có kết quả cấy dịch vết mổ dương tính với 
E.Coli. Thời gian trung bình hết sốt là 1,5±0,4 
ngày. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị phương 
Thảo, trong số 33 trường hợp NKVM có sốt thì 
có 25 trường hợp hết sốt sau thời gian điều trị từ 
1-2 ngày, chiếm tỷ lệ 75,8%, tiếp đến là hết sốt 
sau khi điều trị trong khoảng từ 3-4 ngày chiếm 
tỷ lệ 18,2%, như vậy nghiên cứu của chúng tôi 
phù hợp với tác giả này [4]. Có thể thấy việc sử 
dụng kháng sinh phổ rộng, phối hợp 2 hoặc 3 
loại kháng sinh kết hợp với việc chăm sóc làm 
sạch vết thương tốt làm cho thời gian hết sốt của 
bệnh nhân ngắn lại. 
 Bệnh nhân nằm điều trị NKVM trong vòng 5-7 
ngày chiếm tỷ lệ cao nhất 45,4%, tiếp đến là thời 
gian điều trị trên 7 ngày chiếm tỷ lệ 27,3%, trường 
hợp bệnh nhân nằm điều trị từ 3-5 ngày chiếm 
tỷ lệ 21,2%, và chỉ có 2 bệnh nhân có thời gian 
nằm điều trị <3 ngày chiếm tỷ lệ 6,1%. Thời gian 
nằm viện trung bình của đối tượng nghiên cứu là 
5,2±2,3 ngày. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị 
phương Thảo, số bệnh nhân nằm điều trị NKVM 
trong vòng 5-7 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất 40,3% 
, tiếp đến là thời gian điều trị trên 7 ngày chiếm 
tỷ lệ 37,2%, trường hợp bệnh nhân nằm điều trị 
từ 3-5 ngày chiếm tỷ lệ 17,7%, và chỉ có 3 bệnh 
nhân có thời gian nằm điều trị <3 ngày chiếm tỷ 
lệ 4,8%. Thời gian nằm viện trung bình của đối 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 78 - 81, 2017
81
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
tượng nghiên cứu là 7,5 ± 3,38 ngày [4]. Như vậy, 
nghiên cứu của chúng tôi, thời gian điều trị trung 
bình ngắn hơn thời gian điều trị trung bình là 2 
ngày. Sở dĩ như vậy bởi những bệnh nhân NKVM 
vào viện điều trị trước tiên sẽ được làm thuốc – 
thay băng vết mổ, đánh giá tình trạng nặng nhẹ 
của NKVM, nếu cần thiết vết mổ có thể sẽ được 
cắt lọc, chạy tia plasma lạnh, khâu lại vết mổ khi 
lên tổ chức hạt. Theo nghiên cứu của Mpogoro FJ, 
Mshana SE tại Tanzania [7] thì thời gian nằm viện 
trung bình của các đối tượng bị NKVM dài hơn 
những đối tượng không có NKVM là 12,7±6,9 
ngày. Có sự khác biệt giữa 2 nghiên cứu, để lý giải 
cho sự khác khác biệt này do điều trị vết mổ nhiễm 
khuẩn thường quy kết hợp chạy tia plasma lanh, 
thời gian biểu mô hóa vết mổ sớm hơn, thời gian 
khâu lại vết mổ thành bụng ngắn lại, do vậy thời 
gian nằm viện ngắn hơn, đó là tính ưu việt khi điều 
trị vết mổ nhiễm khuẩn kết hợp chiếu tia plasma 
lạnh lên vết mổ. 
5. Kết luận
Điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau mổ 
lấy thai kết hợp chiếu tia plasma lạnh giúp vết mổ 
nhanh liền và rút ngắn thời gian điều trị. 
Tài liệu tham khảo
1. Bagratee J.S, Moodley J, Kleinschmidt I Zawilski W (2001). A 
randomized controlled trial of antibiotic prophylaxis in selective caesarean 
delivery. BJOG, 108 (2), 143-148.
2. Chử Quanh Độ (2002). “Góp phần nghiên cứu các hình thái lâm 
sàng và những yếu tố liên quan gây nhiễm khuẩn sau mổ đẻ tại Viện 
BVBMTSS (từ tháng 1-2001 đến tháng 6-2002)”, Luận văn thạc sỹ y 
học, Trường Đại học Y Hà Nội. 
3. Tian, Y., et al. (2010), “Inactivation of Staphylococcus aureus and 
Enterococcus faecalis by a direct-current, cold atmospheric-pressure air 
plasma microjet”, J Biomed Res. 24(4), 264-9.
4. Nguyễn Thị Phương Thảo (2016).Nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ 
thành bụng sau mổ lấy thai được điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương từ tháng 11/2014 đến tháng 8/2016, Luận văn thạc sỹ y học, 
Trường Đại học Y Hà Nội.
5. Lipatov, K. V., et al. (2002), “[Use of gas flow with nitrogen oxide (NO-
therapy) in combined treatment of purulent wounds]”, Khirurgiia. 2, 41-3.
6. Isbary, G., et al. (2010), “A first prospective randomized controlled 
trial to decrease bacterial load using cold atmospheric argon plasma on 
chronic wounds in patients”, Br. J. Dermatol. 163(1), 78-82.
7. Mpogoro FJ, Mshana SE, Mirambo MM, Kidenya BR, Gumodoka B, 
Imirzalioglu C, (2014). Incidence and predictors of surgical site infections 
following caesarean sections at Bugando Medical Centre, Mwanza, 
Tanzania. Antimicrob Resist Infect Control. 11,3-15.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tac_dung_ho_tro_cua_plasma_lanh_trong_dieu_tri_nhie.pdf