Đánh giá phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn - đùi
Mục tiêu: Đánh giá các kết quả phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc
mạc điều trị thoát vị bẹn – đùi.
Đối tượng và phương pháp: Tiến cứu mô tả 34 trường hợp thoát vị được điều trị
phẫu thuật nội soi TEP tại Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông từ 8/2009 đến 8/2014.
Kết quả: 34 bệnh nhân thoát vị bẹn được điều trị phẫu thuật theo phương pháp
đặt lưới ngoài phúc mạc. Không có trường hợp nào chuyển sang mổ mở. Không có tái
phát sau 12 tháng theo dõi. Có 01 trường hợp máu tụ vùng bìu (2,9%). Có 06 trường
hợp tụ dịch bẹn (17,64%) trong vòng 2 tuần, nhưng chỉ 01 trường hợp (2,9%) kéo dài
01 tháng, không có nhiễm trùng vết mổ, hoặc biến chứng. Lúc 12 tháng, không có bệnh
nhân dùng thuốc giảm đau. Tuy nhiên, 01 bệnh nhân báo cáo thỉnh thoảng tê vùng bẹn
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn - đùi
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 60 ĐÁNH GIÁ PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN - ĐÙI Phạm Văn Tịnh1, Lương Văn Một1, Nguyễn Hoài Nghị1 (1) Bệnh viện Quân dân y miền đông Người phản hồi (Corresponding): Phạm Văn Tịnh ([email protected]) Ngày nhận bài: 9/3/2015; Ngày phản biện đánh giá: 11/5/2015 TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá các kết quả phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn – đùi. Đối tượng và phương pháp: Tiến cứu mô tả 34 trường hợp thoát vị được điều trị phẫu thuật nội soi TEP tại Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông từ 8/2009 đến 8/2014. Kết quả: 34 bệnh nhân thoát vị bẹn được điều trị phẫu thuật theo phương pháp đặt lưới ngoài phúc mạc. Không có trường hợp nào chuyển sang mổ mở. Không có tái phát sau 12 tháng theo dõi. Có 01 trường hợp máu tụ vùng bìu (2,9%). Có 06 trường hợp tụ dịch bẹn (17,64%) trong vòng 2 tuần, nhưng chỉ 01 trường hợp (2,9%) kéo dài 01 tháng, không có nhiễm trùng vết mổ, hoặc biến chứng. Lúc 12 tháng, không có bệnh nhân dùng thuốc giảm đau. Tuy nhiên, 01 bệnh nhân báo cáo thỉnh thoảng tê vùng bẹn. Kết luận: Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn là một phẫu thuật hiệu quả an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp và không có bằng chứng tái phát sau theo dõi 01 năm. EVALUATION OF THE OUTCOMES OF PATIENTS UNDERGOING TOTAL EXTRAPERITONEAL INGUINAL HERNIA REPAIR ABSTRACT Objective: To determine the outcomes of patients undergoing total extraperitoneal inguinal hernia repair. Patients and methods: Prospective study of 34 cases treated by laparoscopictotal extraperitoneal inguinal hernia repairs at Quan Dan Y Mien Dong hospital from 8/2009 to 8/2014. Results: Thirty-four consecutive patients underwent 34 total extraperitoneal inguinal hernia repairs. No conversions were made to open hernia repairs. No recurrences were found at the 12-month follow-up visit. There were 01 scrotal hematomas (2,9%) and 6 inguinal seromas (17,64%) identified at 2 weeks, but only one (2,9%) remained at 1 month. No wound infections or other perioperative complications were reported. At TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 61 ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị bẹn là bệnh phổ biến với tần suất 10/10,000 dân ở Anh và 28/10,000 dân ở Hoa Kỳ (theo Chung 2007, Devlin 1995). Hằng năm có khoảng 20 triệu phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn trên toàn thế giới. Trong nước chưa thấy tài liệu thống kê nào. Mục tiêu điều trị thoát vị là sửa chữa các điểm yếu của thành bụng. Trong hơn 100 năm qua có trên 70 phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn. Điều đó phản ánh sự phức tạp của bệnh lý này. Schiller A.6 ghi nhận 10% tái phát đối với thoát vị nguyên phát và lên tới 20% đối với thoát vị tái phát. Trong 2 thập kỷ trở lại đây, có 2 kỹ thuật được sử dụng phổ biến. Kỹ thuật sửa chữa thành bụng không căng qua ngã trước được Lichtenstein mô tả năm 1989. Ger mô tả phẫu thuật nội soi thắt cao cổ thoát vị mà không đặt lưới vào năm 1990. Năm 1993, Mc. Kerman và Laws mô tả Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP). Phẫu thuật TEP nhanh chóng được áp dụng rộng rãi. Ngày nay trong PTNS điều trị thoát vị bẹn, TEP được cho là có nhiều ưu điểm. Nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích của phẫu thuật nội soi so với phẫu thuật mở trong lĩnh vực này: lợi ích cho bệnh nhân (thời gian nằm viện ngắn ngày hơn, ít đau hơn, thẩm mỹ cao, nhanh chóng quay trở lại sinh hoạt bình thường, nhất là tỷ lệ tái phát giảm). Trong những năm gần đây, với sự phát triển của các phương tiện trong phẫu thuật nội soi và kinh nghiệm ngày càng cao trong lĩnh vực này thì chỉ định cho phẫu thuật nội soi ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, điều trị đối với các khối thoát vị lớn vẫn đang được bàn cãi nhiều. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật, chúng tôi thực hiện đề tài nhằm: Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc. Sau một thời gian thực hiện với số lượng chưa nhiều, tuy nhiên chúng tôi mong muốn tổng kết, đánh giá lại kết quả điều trị nhằm góp thêm phần số liệu vào nghiên cứu chung của lĩnh vực phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP). ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu mô tả. 2. Đối tượng: Các trường hợp thoát vị bẹn và đùi được điều trị phẫu thuật nội soi TEP tại Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông từ 8/2009 đến 8/2014. Tiêu chuẩn chọn bệnh: bệnh nhân được chẩn đoán và phân loại thoát vị bẹn và đùi theo Nyhus (1991). Tiêu chuẩn loại trừ: Chống chỉ định gây mê toàn thân, túi thoát vị lớn. 3. Kỹ thuật mổ: Phẫu thuật nội soi 12 months, no patient was taking pain relief medication; however, 01 patient reported occasional discomfort in the groin. Conclusions: Laparoscopic TEP repair is safe and effective for treating inguinal hernia, because no recurrence rate and other complications were low. TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 62 đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc. 4. Đánh giá kết quả: Đánh giá mức độ đau sau mổ bằng thang điểm VAS (Visual Analog Scale), ghi nhận biến chứng hậu phẫu, theo dõi kết quả sau 03 tháng và 01 năm. 5. Thu thập số liệu: Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đều được thu thập số liệu theo mẫu hồ sơ định sẵn bao gồm: Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mức độ đau sau mổ, tai biến biến chứng, theo dõi 03 tháng, 01 năm. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trong 5 năm từ 2009-2014 có 34 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu trong đó: Nam: 31 Nữ: 03.Tỷ lệ nam là 91,17%, nữ 8,83%. 1. Giới: 2. Tuổi: Biểu đồ 1: Tỷ lệ nam / nữ trong nghiên cứu Biểu đồ 2: Phân bố lứa tuổi mắc bệnh TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 63 Tuổi: Cao nhất: 73; thấp nhất: 21; trung bình: 36,7 ± 13,3 tuổi. 3. Loại thoát vị: Bảng 1: Loại thoát vị n % Thoát vị bẹn trực tiếp 3 8,82 Thoát vị bẹn gián tiếp 29 85,29 Thoát vị đùi 2 5,88 Tổng số 34 100 4. Thời gian mổ: thời gian dài nhất 105 phút, ngắn nhất 41 phút, trung bình 59,5 phút. 5. Tai biến trong mổ: Bảng 2 : Tai biến trong mổ. n = 34 % Thủng rộng phúc mạc phải chuyển sang TAPP 1 2,94 Chảy máu động mạch thượng vị dưới 1 2,94 34 bệnh nhân được Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn, trong đó 33 bệnh nhân tiến hành thuận lợi, chiếm tỉ lệ 97,05%; 01 bệnh nhân thủng rộng phúc mạc phải chuyển sang nội soi qua ngã ổ bụng (TAPP), chiếm tỉ lệ 2,94%. Tai biến chảy máu trong mổ có 01 trường hợp (2,94%). 6. Theo dõi sau mổ: Bảng 3: Theo dõi sau mổ Theo dõi sau mổ Trung bình Dao động Thời gian phẫu thuật (phút) 59,5 ± 28,4 41 - 105 Thời gian sử dụng thuốc giảm đau (ngày) 1,88 ± 0,54 1 - 3 VAS thời điểm 6 giờ sau mổ (điểm) 2,9 ± 0,6 VAS thời điểm 12 giờ sau mổ (điểm) 2,2 ± 0,7 VAS thời điểm 24 giờ sau mổ (điểm) 1,5 ± 0,6 VAS thời điểm 48 giờ sau mổ (điểm) 1,3 ± 0,4 Thời gian có trung tiện (ngày) 1,08 ± 0,4 1 - 3 Thời gian nằm viện (ngày) 5,2 ± 0,68 4- 8 TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 64 7. Biến chứng sau mổ 7.1 Biến chứng sớm Bảng 4: Kết quả sớm sau mổ B/C sau mổ Tụ dịch bẹn Tụ máu vùng bẹn đùi Nhiểm trùng Tử vong N = 34 6 01 0 0 Tỉ lệ% 17,64 2,94 0 0 Biến chứng sau mổ gặp 01 trường hợp tụ máu vùng bẹn bìu (2,94%) không xử trí gì sau 6 tuần hết hoàn toàn, tụ dịch 06 trường hợp ( 17,64%). Không có tử vong. Bệnh nhân ra viện sau 4-8 ngày (trung bình 5,2 ± 0,68 ngày). Khám lại sau 01 tuần, 02 tuần 01 tháng không có di chứng và biến chứng. 7.2 Biến chứng muộn và tái phát Theo dõi sau mổ 03 tháng đến 01 năm bằng khám lâm sàng, siêu âm. Bảng 5: Kết quả kiểm tra sau mổ N= 29 % Tê vùng bẹn bìu 1 3,44 Tái phát 0 0 BÀN LUẬN Sửa chữa thoát vị bẹn là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất được thực hiện hàng năm. Trên thế giới có khoảng 20 triệu phẫu thuật một năm. Kể từ khi Mc Kerman và Laws [4] (1993) thực hiện thành công Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc, phẫu thuật này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong điều trị bệnh lý này. Tại bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông, chúng tôi thực hiện TEP từ tháng 8/2009 đến tháng 8/2014 cho 34 trường hợp bệnh lý thoát vị bẹn có chỉ định mổ với độ tuổi trung bình 36,7 ± 13,3 tuổi, nam 91,17%, nữ 8,83%. Kỹ thuật TEP được coi là một phương pháp an toàn và hiệu quả với kết quả tốt [4]. Nghiên cứu chúng tôi tỉ lệ thành công là 97,05% chỉ 01 trường hợp phải chuyển sang TAPP (2,94%). Thời gian phẫu thuật trung bình: 59,5 ± 28,4 phút. So với nghiên cứu của Pablo R. Miguel &CS: 32,84 phút, Albeto Meyer là 43,38 phút thì thời gian phẫu thuật của chúng tôi dài hơn. Hạn chế của kỹ thuật Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) là phẫu thuật phức tạp và trường thao tác hẹp. Một số tác giả cho rằng trong trường hợp túi thoát vị lớn nên phẫu thuật theo phương pháp sửa chữa không căng của Lichtenstein, đối với những người đã có vết mổ cũ ở trên xương mu, người có chỉ số BMI cao, viêm túi thoát vị mạn dính nhiều, bộc lộ khó khăn... thì nên chủ động chuyển sang phương pháp mổ nội soi trong phúc mạc (TAPP) hoặc Lichtenstein nhằm TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 65 đảm bảo an toàn cho người bệnh, rút ngắn thời gian phẫu thuật, giảm biến chứng. Nghiên cứu của chúng tôi có 01 trường hợp phải chuyển sang phương pháp TAPP do bóc tách khó khăn, rách rộng phúc mạc làm hẹp phẫu trường. Chúng tôi gặp chảy máu trong mổ 1/34 trường hợp (2,94%) do làm tổn thương động mạch thượng vị dưới, làm thời gian mổ kéo dài tới 91 phút, nhưng không phải truyền máu và không phải thay đổi kỹ thuật mổ. Trong kỹ thuật TEP, khi tạo khoang bằng balloon có thể đẩy động mạch thượng vị dưới khỏi thành bụng, làm tổn thương động mạch, máu có thể đổ đầy khoang. Khi đó có khả năng chuyển sang mổ mở. Theo chúng tôi Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc bước đầu chỉ nên áp dụng ở những trường hợp thoát vị một bên, túi thoát vị nhỏ, thoát vị không có biến chứng, những trường hợp túi thoát vị lớn nên mổ đặt lưới ngõ trước theo phương pháp Lichtenstein. Đánh giá mức độ đau sau mổ theo thang điểm đau (VAS), chúng tôi thấy thời điểm đau nhất là trong khoảng 6h đầu sau mổ (VAS 2,9 điểm). Sau 24h – 48h bệnh nhân đau rất ít (VAS 1,5 điểm) do đó chỉ cần dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân tới ngày thứ 2 sau mổ. Mổ nội soi ít gây sang chấn nên người bệnh thường chỉ đau nhiều nhất trong 6 giờ đầu nhưng giảm đi rõ rệt vào những giờ sau. Thời gian sử dụng thuốc giảm đau sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,98 ± 0,64 ngày. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 5,2 ± 0,68 ngày (dài hơn với nghiên cứu khác là 1,8 ± 0,9 ngày). Các nghiên cứu về TEP và TAPP báo cáo chấn thương ruột mổ ở mức 0% đến 0,3% các trường hợp, với tần suất 0% đến 0,06% trong cuộc điều tra lớn liên quan đến hơn 1.000 bệnh nhân, và tỷ lệ thương tích cho các mạch máu lớn từ 0 đến 0,11% [4]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi không có tổn thương đường ruột và tổn thương mạch chậu. Các phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc được thực hiện dưới gây mê toàn thân và giãn cơ tốt, nếu không thì phẫu trường sẽ rất hẹp. Nếu có bất kỳ rò rỉ khí CO2, khoang tiền phúc mạc trở nên quá hẹp. Vì lý do này, khi có thủng phúc mạc nhỏ chúng tôi không xử lý gì, trong trường hợp rách lớn, chúng tôi khâu lại phúc mạc rồi tiếp tục phẫu thuật. 1. Kỹ thuật kiểm soát chảy máu trong mổ Chảy máu trong mổ là biến chứng nguy hiểm nhất, cũng là nguyên nhân chuyển mổ mở của hầu hết các trường hợp TEP. Những trường hợp đầu khi thực hiện TEP chúng tôi có 01 trường hợp chảy máu trong mổ do tổn thương động mạch thượng vị dưới. Chúng tôi đã dùng clip để cầm máu. Một trường hợp chảy máu sau mổ nghi do chảy máu mặt cắt cổ túi thoát vị máu chảy xuống vùng bẹn bìu và theo cân Scarpa lan lên vùng hông lưng, chúng tôi không can thiệp gì sau 01 tháng thì giảm hẳn. Sau này, khi cắt cổ túi, chúng tôi thường để chùng túi và chỉ cắt lần lượt từng bán phần một, cầm máu kỹ rồi mới cắt bán phần còn lại. Nhờ đó, các cuộc mổ sau không có trường hợp nào chảy máu TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 66 sau mổ nữa. 2. Kết quả sớm TEP Phẫu thuật TEP là một phẫu thuật ít xâm lấn, nên có những ưu điểm chung của phẫu thuật nội soi như: đường mổ nhỏ, ít gây đau cho bệnh nhân, thời gian nằm viện ngắn hơn, sớm trả bệnh nhân về với sinh hoạt bình thường sau mổ. Để phẫu thuật thành công đòi hỏi kiến thức về giải phẫu vùng chậu bẹn khi nhìn thông qua ống soi. Hầu hết các biến chứng có thể tránh được nhờ hiểu biết đầy đủ giải phẫu bình thường. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận không có trường hợp nào biến chứng nặng. Chỉ có 01 trường hợp chảy máu sau mổ, còn lại là kết quả tốt chiếm 97,05%, tỷ lệ thủng ruột 0%, không có trường hợp nào tử vong trong và sau mổ do tai biến của phẫu thuật. Qua đó cho thấy tai biến và biến chứng do phẫu thuật TEP thấp. Việc phẫu tích nên thực hiện một cách cẩn thận và rõ ràng trong khu vực này để tránh tổn thương các cấu trúc dây hoặc mạch chậu. Chấn thương mạch máu chậu có thể gây tử vong và thường đòi hỏi phải mở bụng khẩn cấp để cầm máu. Trong phẫu tích này, các phẫu thuật viên sử dụng điện nhiệt. Và sử dụng lưỡng cực an toàn hơn so với đơn cực. Chấn thương nhiệt xuống ruột thường không nhận thấy tại thời điểm xảy ra. Chỉ khi có biểu hiện sốt và đau bụng mới biết, thường phải mất từ 3 đến 7 ngày sau mổ. 3. Kết quả xa Schumpelick & CS[7] ghi nhận tỉ lệ tái phát sau 5 năm là 1–3% đối với thoát vị nguyên phát và 3–5% đối với thoát vị tái phát. Trong nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi nhận tái phát sau một năm theo dõi. Tái phát theo Lowham & CS[4], nguyên nhân chủ yếu tái phát sau TEP là sai sót kỹ thuật bao gồm phẫu tích khoang không đủ, kích thước mesh không phù hợp, đặt mesh phải phủ toàn bộ vị trí có khả năng thoát vị, thoát vị trực tiếp tại tam giác Hasselbach, thoát vị gián tiếp từ bờ ngoài đến động mạch thượng vị dưới và dọc theo ống bẹn, thoát vị đùi tại lỗ đùi dưới tới dây chằng Cooper và thoát vị bịt tại lỗ bịt . Đau mạn tính vùng bẹn bìu do tổn thương thần kinh cảm giác: nhánh đùi của dây thần kinh sinh dục đùi, hoặc chính bản thân dây bì đùi ngoài hoặc dây thần kinh đùi. Có thể tránh được khi phẫu tích vào mô bên dưới dải chậu mu cẩn thận. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Rosenberger & CS[5] trên xác ở Đức về giải phẫu vùng bẹn sau ghi nhận có 15% trường hợp dây thần kinh nằm trên dải chậu mu. Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 01 trường hợp tê vùng bẹn đùi sau một năm theo dõi. TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175 - SOÁ 3 - 9/2015 67 So sánh một số tác giả khác: QDYMD Các tác giả N= 29/34 % Pablo R. Miguel et al Lau Hlee E v a n g e l o s Messaris, MD, PhDet al Tụ dịch 6/34 17,64 4/155 2,6% 2/117 6% 1/274 6% Tụ máu vùng bìu 1/34 2,94 2/155 1,3% 2/117 2,6% 0% Đau mạn tính 1/29 3,44 4% Tái phát 0 0 1/155 0,64% 2/117 0,28% 0% Tỷ lệ biến chứng của TEP là thấp. Kỹ thuật TEP phải được tỉ mỉ để tránh biến chứng trong mổ. Các biến chứng có thể giảm sau khi các đường cong học tập tốt hơn. KẾT LUẬN Phẫu thuật nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn là phẫu thuật hiệu quả, an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp và không có tái phát, sau theo dõi 01 năm ở 29 trường hợp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trịnh Văn Thảo (2010) “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép hoàn toàn ngoài phúc mạc trong điều trị thoát vị bẹn” Luận án tiến sỹ y khoa, Hà Nội 2010. 2. Lau Hlee F (2003), Seroma fol- lowing endoscopic extraperitoneal in- guinal hernioplasty. Surg Endosc;17 (11) 1773- 1777. 3. Lichtenstein IL, Shulman A, Amid P, Montilor N. (1989)The tension-free her- nioplasty. Am J Surg;157:188-193. 4. McKernan JBLawsHL (1993). Lap- aroscopic repair of inguinal hernias using a totally extraperitoneal prosthetic ap- proach. Surg Endosc;7 (1) 26- 28 5. Rosenberger R, Loeweneck H, Meyer G. (2000)The cutaneous nerves encountered during laparoscopic repair of inguinal: new anatomical findings for the surgeon. Surg Endosc;8:731-735. 6. Schiller A.(2002) Ergebnisse bei der Versorgung von Rezidivleistenhernien durch TEP. Dissertation Erlangen 7. Schumpelick V, Treutner KH, Arlt G. (1994) Inguinal hernia repair in adults. Lancet; 344(8919): 375-9 8. Evangelos Messaris, MD, PhD; Guy Nicastri, MD; Stanley J. Dudrick, MD (2010). Total Extraperitoneal Lapa- roscopic Inguinal Hernia Repair Without Mesh FixationProspective Study With 1-Year Follow-up Results;4 657-661.
File đính kèm:
danh_gia_phau_thuat_noi_soi_hoan_toan_ngoai_phuc_mac_dieu_tr.pdf

