Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18-49 tuổi đến khám tại khoa Phụ-Sản, Bệnh viện Bạch Mai

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục

dưới ở phụ nữ từ 18 - 49 tuổi đến khám tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai.

Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang,

phỏng vấn 260 phụ nữ có tuổi 18-49 đến khám phụ khoa từ 01/12/2015

đến 30/04/2016.

Kết quả và kết luận: 97.7% phụ nữ đã từng nghe nói đến bệnh

VNĐSDD, 90.4% biết dấu hiệu ngứa âm hộ; 4.2% không biết bất kỳ

dấu hiệu nào, 91.5% biết nguyên nhân gây bệnh là vệ sinh kém; 6.5%

không biết nguyên nhân gây bệnh nào, Tỷ lệ phụ nữ đạt mức độ kiến

thức tốt là 28.8%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ

kiến thức về bệnh VNĐSDD với các đặc điểm: nơi sống, học vấn, nghề

nghiệp, kinh tế gia đình (p<>

pdf 5 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18-49 tuổi đến khám tại khoa Phụ-Sản, Bệnh viện Bạch Mai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18-49 tuổi đến khám tại khoa Phụ-Sản, Bệnh viện Bạch Mai

Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18-49 tuổi đến khám tại khoa Phụ-Sản, Bệnh viện Bạch Mai
LƯU THỊ HỒNG, PHẠM BÁ NHA, NGUYỄN HÀ LINH
126
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Lưu Thị Hồng(1), Phạm Bá Nha(1), Nguyễn Hà Linh(2) 
 (1) Bệnh viện Bạch Mai, (2) Trường đại học Y Hà Nội
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC
VỀ BỆNH VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI
Ở PHỤ NỮ TỪ 18 - 49 TUỔI ĐẾN KHÁM
TẠI KHOA PHỤ - SẢN, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lưu Thị Hồng,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: Kiến thức, viêm nhiễm 
đường sinh dục dưới. 
Keyword: Knowledge, lower 
genitor-urinary tract infection.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục 
dưới ở phụ nữ từ 18 - 49 tuổi đến khám tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện 
Bạch Mai.
Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 
phỏng vấn 260 phụ nữ có tuổi 18-49 đến khám phụ khoa từ 01/12/2015 
đến 30/04/2016. 
Kết quả và kết luận: 97.7% phụ nữ đã từng nghe nói đến bệnh 
VNĐSDD, 90.4% biết dấu hiệu ngứa âm hộ; 4.2% không biết bất kỳ 
dấu hiệu nào, 91.5% biết nguyên nhân gây bệnh là vệ sinh kém; 6.5% 
không biết nguyên nhân gây bệnh nào, Tỷ lệ phụ nữ đạt mức độ kiến 
thức tốt là 28.8%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ 
kiến thức về bệnh VNĐSDD với các đặc điểm: nơi sống, học vấn, nghề 
nghiệp, kinh tế gia đình (p<0.05). 
Từ khóa: Kiến thức, viêm nhiễm đường sinh dục dưới. 
Abstract 
ASSESS THE KNOWLEDGE OF LOWER 
GENITOURINARY TRACT INFECTION IN 
WOMAN AGED 18-49 YEARS OLD TO VISIT THE 
DEPARTMENT OF OBSTETRÍC AND GYNECOLOGY, 
BACH MAI HOSPITAL 
Objectives: to assess the knowledge of lower genitourinary tract 
infection in woman aged 18-49 years old in the Department of Obstetríc 
and Gynecology, Bạch Mai Hospital. 
Materials and Method: A cross-sectional descriptive study, 
interviewed 260 woman aged 18-49 with gynecological examination 
from 01/12/2015 to 30/04/2016. 
Results and conclusion: 97,7% of woman have ever heard of lower 
genitourinary tract infection, 90,4% have known itching, 4,2% did not 
know any signs, 91,5% knewthe cause of poor hygiene, 6,5% do not 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 126 - 130, 2017
127
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
know the cause of the disease, the percentage of woman with good knowledge level is 28,8%. The 
is statistically significant relationship between the level of knowledge of lower genitourinary tract 
infection and the characteristics of living, education, occupation, family economics (p< 0.05). 
Key words: Knowledge, lower genitor-urinary tract infection.
1. Đặt vấn đề
Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSDD) dưới 
là một trong những bệnh hay gặp ở phụ nữ trong 
độ tuổi sinh đẻ và là bệnh gặp nhiều nhất trong 
các bệnh phụ khoa [1],[2]. Bệnh không những ảnh 
hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động, sinh hoạt 
vợ chồng, kế hoạch hóa gia đình... mà còn có thể 
gây ra những biến chứng nặng nề nếu không được 
chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có 
khoảng 50% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế 
giới bị viêm nhiễm đường sinh dục, tập trung nhiều 
ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam 
[2],[3],[4].Tại Việt Nam, theo báo cáo của vụ Sức 
khỏe Sinh sản (2002), tỷ lệ mắc bệnh VNĐSDD ở 
phụ nữ các địa phương trên toàn quốc rất khác nhau 
với tỷ lệ chung là 51,8% tổng số phụ nữa lứa tuổi sinh 
đẻ, cao nhất ở Tây Nguyên và vùng Đông Bắc 56,0 
– 58,1%, vùng có tỷ lệ thấp nhất là Bắc Bộ chiếm 
43.6% [5]. Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Hướng 
dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh 
sản, nội dung tập trung vào các lĩnh vực chăm sóc sức 
khỏe sinh sản, trong đó có phần hướng dẫn về các 
bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn 
lây truyền qua đường tình dục [6]. 
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức về bệnh viêm 
nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18 - 49 tuổi 
đến khám tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện tại khoa Phụ - Sản, bệnh 
viện Bạch Mai từ 01/12/2015 đến 30/04/2016.
2.2. Đối tượng và chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu thuận tiện: Gồm 260 phụ nữ độ tuổi 
18-49 đến khám phụ khoa tại khoa Phụ - Sản, bệnh 
viện Bạch Mai, đủ tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đồng ý tự nguyện tham 
gia nghiên cứu, đã quan hệ tình dục.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Đã mãn kinh, cắt tử cung 
bán phần hoặc hoàn toàn.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp 
mô tả cắt ngang.
2.4. Phương pháp thu thập và xử lý 
số liệu
Dùng phương pháp phỏng vấn dựa vào bộ 
câu hỏi được xây dựng để thu thập thông tin về 
kiến thức và của phụ nữ về viêm nhiễm đường sinh 
dục dưới.
Bộ câu hỏi được dùng theo ngôn ngữ phổ thông, 
rõ ràng, dễ hiểu.
Nhập số liệu từ bộ câu hỏi được nhập 2 lần một 
cách tỉ mỉ, chính xác. 
Các thông tin và số liệu điều tra qua bộ câu 
hỏi được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 
20.0 và các test thống kê thường dùng trong 
nghiên cứu Y học.
3. Kết quả 
3.1. Phân bố đối tượng theo độ tuổi
Số đối tượng từ 18-20 tuổi trả lời phỏng vấn 
chiếm tỷ lệ thấp nhất (1.9%), các nhóm tuổi còn lại 
gần tương đương nhau.
3.2. Phân bố đối tượng theo địa chỉ
Tỷ lệ phụ nữ sống ở nông thôn là 61.2%; thành 
thị là 38.8%. 
LƯU THỊ HỒNG, PHẠM BÁ NHA, NGUYỄN HÀ LINH
128
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
3.3. Kiến thức về bệnh VNĐSDD
Nhận xét: - Về nghe nói đến bệnh, chỉ có 2.3% 
phụ nữ chưa nghe nói về VNĐSDD bao giờ.
- Về dấu hiệu bệnh, tỷ lệ biết dấu hiệu ngứa âm 
hộ cao nhất (90.4%), tiếp theo là dấu hiệu ra nhiều 
khí hư/ khí hư mùi hôi (86.2%). Có 4.2% không 
biết bất kỳ dấu hiệu nào.
- Về nguyên nhân gây bệnh, đứng hàng 
đầu được biết là vệ sinh kém (91.5%), tỷ lệ biết 
nguyên nhân ngâm mình lâu trong nước thấp nhất 
(24.2%). Có 6.5% không biết bất kỳ nguyên nhân 
gây bệnh nào.
3.4. Phân loại mức độ kiến thức về 
bệnh VNĐSDD của đối tượng
Nhận xét: Tỷ lệ kiến thức tốt về cách thực hành 
thấp, chiếm 40.4% số đối tượng phỏng vấn.
3.5. Liên quan giữa đặc điểm chung 
với mức độ kiến thức về bệnh VNĐSDD
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống 
kê giữa các đặc điểm chung sau: nơi sống, trình 
Kiến thức n %
Nghe nói đến bệnh VNĐSDD
 Có 254 97.7
 Không 6 2.3
Hiểu biết về dấu hiệu bệnh
 Ra nhiều khí hư/ Khí hư mùi hôi 224 86.2
 Ngứa âm hộ 235 90.4
 Đau khi giao hợp 139 53.5
 Ra máu bất thường 67 25.8
 Loét da vùng sinh duc ngoài 70 26.9
 Tiểu rắt, tiểu buốt 85 32.7
 Không biết 11 4.2
Hiểu biết về nguyên nhân bị bệnh
Không có nước sạch 146 56.2
 Vệ sinh kém 238 91.5
 Mặc quần áo bẩn 151 58.1
 Ngâm mình lâu trong nước 63 24.2
 Thiếu vệ sinh khi giao hợp 153 58.8
 Lây nhiễm từ bạn tình 156 60.0
Không biết 17 6.5
Tổng 260 100.0
Bảng 3.1: Kiến thức về dấu hiệu và nguyên nhân mắc bệnh VNĐSDD 
Biểu đồ 3.3. Phân loại mức độ kiến thức về bệnh VNĐSDD của đối tượng
Đặc điểm
Tốt Chưa tốt
OR(CI
95%
), p
n % n %
Tuổi 1.2 
(0.6 - 2.0),
p>0.05
 18 – 29 tuổi 28 10.8 63 24.2
 30 – 49 tuổi 47 18.1 122 46.9
Nơi sống 2.7
(1.6 - 4.7),
p<0.05
 Thành thị 42 16.2 59 22.7
 Nông thôn 33 12.7 126 48.5
Trình độ học vấn 3.5
(2.0 - 6.2),
p<0.05
 Tốt nghiệp THPT trở xuống 25 9.6 118 45.4
 Tốt nghiệp Trung cấp trở lên 50 19.2 67 25.8
Nghề nghiệp 4.1
(2.3 - 7.1),
p<0.05
 Cán bộ, nhân viên văn phòng 44 16.9 48 18.5
 Các nghề nghiệp khác 31 11.9 137 52.7
Kinh tế gia đình 9.5
(1.3 - 71.8),
p<0.05
 Ổn định 74 28.5 164 63.1
 Khó khăn 1 0.4 21 8.1
Bảng 3.2: Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung với mức độ kiến thức về bệnh VNĐSDD 
của đối tượng
độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình với mức 
độ kiến thức về VNĐSDD của đối tượng (p<0.05).
4. Bàn luận
Phân bố đối tượng theo độ tuổi
Có tổng số 260 phụ nữ tham gia nghiên cứu 
nhằm đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống 
VNĐSDD. Số đối tượng từ 18-20 tuổi trả lời phỏng 
vấn chiếm tỷ lệ thấp nhất (1.9%), các nhóm tuổi 
còn lại gần tương đương nhau.
Phân bố đối tượng theo địa chỉ
Tỷ lệ phụ nữ sống ở nông thôn là 61.2% cao hơn 
ở thành thị là 38.8%. Điều này là hợp lý vì địa bàn 
nghiên cứu của chúng tôi là khoa Phụ - Sản, bệnh 
viện Bạch Mai. Đây là một bệnh viện lớn tại thủ đô 
vì vậy không chỉ người dân Hà Nội, bệnh nhân đến 
khám chữa bệnh tại bệnh viện Bạch Mai nói chung 
và khoa Phụ - Sản nói riêng từ khắp các tỉnh thành 
trên cả nước, không kể thành thị, nông thôn.
Kiến thức về bệnh VNĐSDD
- Tỷ lệ phụ nữ đã nghe nói về VNĐSDD cao, 
chiếm 97.7%.
- Phần lớn phụ nữ kể được 2 triệu chứng của 
bệnh là ngứa âm hộ (90.4%) và ra nhiều khí hư/ 
khí hư mùi hôi (86.2%); tiếp đến là dấu hiệu đau 
khi giao hợp (53.5%); ngoài ra biết các dấu hiệu 
còn lại như ra máu bất thường, loét da vùng sinh 
duc ngoài, tiểu rắt tiểu buốt chiếm thấp (lần lượt 
là 25.8%, 26.9% và 32.7%). Có 4.2% số phụ nữ 
không biết bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh. Kết quả 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 126 - 130, 2017
129
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
này tương đương với kết quả nghiên cứu của Nông 
Thị Thu Trang (2015) tại Thái Nguyên: cao nhất 
là kể được biểu hiện ngứa âm hộ với 68.0%; tiếp 
theo là ra nhiều khí hư (55.9%), cácbiểu hiện khác 
chiếm thấp. Tuy nhiên kết quả này lại cao hơn so 
với kết quả tổng hợp các nghiên cứu về SKSS của 
UNFPA (2012) cho rằng chỉ có 25% tổng số phụ nữ 
được nghe về VNĐSDD, có 1/3 số phụ nữ không 
kể được tên các triệu chứng của bệnh VNĐSDD [7]. 
- Nguyên nhân gây bệnh:Đa số phụ nữ biết 
nguyên nhân gây VNĐSDD là vệ sinh kém (91.5%), 
tỷ lệ hiểu biết các nguyên nhân lây nhiễm từ bạn 
tình, thiếu vệ sinh khi giao hợp, mặc quần áo bẩn, 
không có nước sạch tương đối cao (lần lượt là 
60.0%, 58.8%, 58.1% và 56.2%); tỷ lệ đối tượng 
biết nguyên nhân ngâm mình lâu trong nước thấp 
nhất (24.2%); thấp hơn so với nghiên cứu trước 
với tỷ lệ biết nguyên nhân do ngâm mình trong 
nước lâu là 47.5% . Có 6.5% đối tượng nghiên cứu 
không biết bất kỳ nguyên nhân gây bệnh nào, thấp 
hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến và 
Trần Thị Phương Mai, có tới 31.6% phụ nữ được 
phỏng vấn không biết bất kỳ một nguyên nhân nào 
có thể gây ra VNĐSDD [5]
Phân loại mức độ kiến thức về bệnh 
VNĐSDD của đối tượng
Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức chung mức độ tốt về 
VNĐSDD thấp, chỉ chiếm 28.8%. Điều này hoàn 
toàn phù hợp với báo cáo của UNFPA (2012) cho 
rằng kiến thức phòng chống bệnh VNĐSDD ở phụ 
nữ Việt Nam còn thấp. Kết quả này cũng tương 
đương với kết quả nghiên cứu của Lưu Thị Kim 
Thanh (2012) [3], tại Phú Bình có 32.0% phụ nữ 
có hiểu biết đạt yêu cầu. So sánh với nghiên cứu 
của Nông Thị Thu Trang (2015), tại Thái Nguyên 
với 19.5% phụ nữ có kiến thức tốt về phòng chống 
bệnh VNĐSDD [6], kết quả của chúng tôi cao hơn. 
Kết quả của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên 
cứu của Trần Trọng Nghĩa (2011) [11], với tỷ lệ 
53.75% đối tượng có kiến thức tốt; thấp hơn rất 
nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa 
(2010), tại Thừa Thiên Huế với 72.6% phụ nữ hiểu 
biết đúng về bệnh VNĐSDD.
Lý do khiến các phụ nữ tham gia nghiên cứu có 
mức độ kiến thức chung chưa tốt về VNĐSDD có thể 
là do các thông tin về bệnh VNĐSDD chưa được 
đầu tư đúng mực trên các phương tiện thông tin đại 
chúng cũng như chưa được đưa đầy đủ vào chương 
trình giáo dục phổ thông. Thêm nữa là các thông 
tin về sức khỏe sinh sản và hoạt động tình dục ở 
Việt Nam vẫn còn bị coi là “nhạy cảm”, người lớn 
thường giữ kín những thông tin này, không cho trẻ 
em được biết. Ngoài ra, trên thực tế, việc thiếu kiến 
thức đặc biệt là ở phụ nữ nông thôn còn là do nhiều 
yếu tố như: thiếu thời gian, tâm lý ngại ngùng... 
Ngay cả khi có các chương trình truyền thông và 
khám chữa bệnh định kỳ của trung tâm Chăm sóc 
sức khỏe sinh sản thì không phải phụ nữ nào cũng 
tham gia được.
Liên quan giữa đặc điểm chung với 
mức độ kiến thức về bệnh VNĐSDD
- Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về mức độ kiến thức về VNĐSDD của phụ nữ giữa 2 
nhóm tuổi 18 - 29 và 30 - 49 (p>0.05). Lý giải kết 
quả này, theo chúng tôi là do hiện nay phương tiện 
thông tin đại chúng phát triển, khả năng tiếp cận 
TT - GDSK của phụ nữ mọi lứa tuổi là tương đương. 
Bởi vậy, sự khác biệt về lứa tuổi không ảnh hưởng 
đến mức độ kiến thức về VNĐSDD. Đối với đặc 
điểm về địa chỉ, phụ nữ thành thị có mức độ kiến 
thức về VNĐSDD tốt cao hơn 2.7 lần phụ nữ nông 
thôn (95% CI: 1.6 - 4.7), kiểm định có ý nghĩa 
thống kê (p<0.05). So với người thành thị, người 
nông thôn thường ít quan tâm hơn đến các vấn đề 
sức khỏe nói chung và sức khỏe tình dục nói riêng. 
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu 260 phụ nữ từ 18 – 49 tuổi 
đến khám tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai 
từ 01/12/2015 đến 31/04/2016, có thể đưa ra 
kết luận về hiểu biết bệnh VNĐSD của đối tượng 
nghiên cứu sau:
- 97.7% phụ nữ đã từng nghe nói đến bệnh 
VNĐSDD.
- 90.4% biết dấu hiệu ngứa âm hộ; 4.2% không 
biết bất kỳ dấu hiệu nào.
- 91.5% biết nguyên nhân gây bệnh là vệ sinh 
kém; 6.5% không biết nguyên nhân gây bệnh nào. 
- Tỷ lệ phụ nữ đạt mức độ kiến thức tốt là 28.8%. 
- Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
mức độ kiến thức về bệnh VNĐSDD với các đặc 
điểm: nơi sống, học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia 
đình (p<0.05). 
LƯU THỊ HỒNG, PHẠM BÁ NHA, NGUYỄN HÀ LINH
130
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. Trường đại học Y tế công cộng (2009). Báo cáo đánh giá thực hiện 
chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam 2001 - 2010, Hà Nội.
2. World Health Organization (2005). Sexually transmitted and other 
reproductive tract infection: A guide to essential practice, World Health 
Organization, Geneva, Switzerland.
3. Low N., Broutet N., Adu-Sarkodie Y., Barton P., Hossain M., Hawkes 
S. (2006). Global control of sexually transmitted infections, Lancet, 368 
(9551), pp. 2001-2016.
4. Patel A. Divya, Nancy M. Burnett, Kathryn M. Curtis (2003). Reproductive 
tract infections, Reproductive health epidemiology series: Module 3, Centers 
for Disease Control and Prevention (CDC), Georgia, USA.
5. Trần Thị Trung Chiến, Trần Thị Phương Mai (2004). Khảo sát thực 
trạng bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, u vú, ung thư cổ tử cung ở 
phụ nữ Việt Nam, Bộ Y tế và Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em, Hà 
Nội.
6. Nông Thị Thu Trang (2015). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ 
học viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ nông thôn miền núi tỉnh 
Thái Nguyên và hiệu quả giải pháp can thiệp, Luận án tiến sĩ y học, 
Trường đại học Thái Nguyên.
7. Lưu Thị Kim Thanh (2012). Nghiên cứu bệnh nhiễm trùng sinh dục 
dưới của phụ nữ nông thôn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Báo 
cáo kết quả nghiên cứu khoa học bệnh viện đa khoa Trung ương Thái 
Nguyên, tr. 50-60.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_kien_thuc_ve_benh_viem_nhiem_duong_sinh_duc_duoi_o.pdf