Đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec

Đặt vấn đề: Truyền ối điều trị các trường hợp thai thiểu ối là một kỹ

thuật mới áp dụng tại Việt Nam. Bệnh viện Vinmec mới triển khai kỹ

thuật này từ năm 2016 và bước đầu ghi nhận kết quả khả quan, nghiên

cứu được tiến hành nhằm

Mục tiêu: đánh giá một số điều kiện và tiêu chí của kỹ thuật truyền ối

và nhận xét kết quả kỹ thuật truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện đa

khoa quốctế Vinmec.

Đối tượng nghiên cứu: 8 thai phụ có đầy đủ các chỉ tiêu lựa chọn để

tiến hành truyền ối với tiêu chí cơ bản là chỉ số ối dưới 50mm.

Phương pháp nghiên cứu: theo dõi dọc đến khi thai ra ngoài tử cung.

Kết quả: Tuổi thai trung bình khi truyền ối là 27,0±5,3 tuần, lượng ối

truyền trung bình 325 ± 84 ml, thời gian truyền trung bình 35,6 ± 15,6

phút. Thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình: 6,8 ± 5,4 tuần.

85,7% sơ sinh sống sót khi truyền ối ở tuổi thai trên 22 tuần.

Kết luận: Truyền ối có thể thực hiện cho thai trên 16 tuần có chỉ

số ối dưới 50mm, lượng dịch truyền và thời gian truyền tùy thuộc tuổi

thai và chỉ số ối trước truyền. Truyền ối là một biện pháp có hiệu quả

điều trị bệnh lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung, cải thiện

rõ rệt về chỉ số ối từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối

đến thai nhi

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec

Đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
NGUYỄN THU HOÀI, NGUYỄN NGỌC TÚ, NGUYỄN QUỐC TUẤN
78
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Thu Hoài, Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Quốc Tuấn 
Bệnh viện Quốc tế Vinmec
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
TRUYỀN ỐI ĐIỀU TRỊ THIỂU ỐI
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thu Hoài, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: thiểu ối, truyền ối.
Keywords: oligohydramnios, 
amnioinfusion.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Truyền ối điều trị các trường hợp thai thiểu ối là một kỹ 
thuật mới áp dụng tại Việt Nam. Bệnh viện Vinmec mới triển khai kỹ 
thuật này từ năm 2016 và bước đầu ghi nhận kết quả khả quan, nghiên 
cứu được tiến hành nhằm 
Mục tiêu: đánh giá một số điều kiện và tiêu chí của kỹ thuật truyền ối 
và nhận xét kết quả kỹ thuật truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện đa 
khoa quốctế Vinmec. 
Đối tượng nghiên cứu: 8 thai phụ có đầy đủ các chỉ tiêu lựa chọn để 
tiến hành truyền ối với tiêu chí cơ bản là chỉ số ối dưới 50mm. 
Phương pháp nghiên cứu: theo dõi dọc đến khi thai ra ngoài tử cung. 
Kết quả: Tuổi thai trung bình khi truyền ối là 27,0±5,3 tuần, lượng ối 
truyền trung bình 325 ± 84 ml, thời gian truyền trung bình 35,6 ± 15,6 
phút. Thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình: 6,8 ± 5,4 tuần. 
85,7% sơ sinh sống sót khi truyền ối ở tuổi thai trên 22 tuần. 
Kết luận: Truyền ối có thể thực hiện cho thai trên 16 tuần có chỉ 
số ối dưới 50mm, lượng dịch truyền và thời gian truyền tùy thuộc tuổi 
thai và chỉ số ối trước truyền. Truyền ối là một biện pháp có hiệu quả 
điều trị bệnh lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung, cải thiện 
rõ rệt về chỉ số ối từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối 
đến thai nhi.
Từ khóa: thiểu ối, truyền ối.
Abstract 
 EFFECT ASSESMENT OF AMNIOINFUSION 
TO TREAT OLIGOHYDRAMNIOS AT VINMEC 
INTERNATIONAL HOSPITAL 
Background: Amnioinfusion treating oligohydramnios is a new 
technique in Vietnam. Vinmec international hospital has performed this 
technique since 2016 and received some remarkable result. 
Objectives: to evaluate some conditions and criteria of amnioinfusion 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 78 - 82, 2018
79
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
procedure and comment the results of this technique at Vinmec International Hospital. 
Subjects: 8 pregnant women who suffer from oligohydroamnios with AFI less than 50mm. 
Method: prospective study. 
Results: The mean gestational age when performed procedure is 27.0±5.3 weeks. The mean 
volumn infusion is 325 ± 84 ml. The mean time performing is 35.6 ± 15.6 minutes. The mean 
time continuing pregnancy is 6.8 ± 5.4 weeks. The rate neonatal survived is 87.5% if performed 
amnioinfusion after 22 weeks. 
Conclusions: Amnioinfusion can be performed to treat oligohydroamnios with gestational age 
above 16 weeks, the volumn infusion and time performing depend on gestational age and AFI before 
procedure. Amnioinfusion is an effective method to treat oligohydroamnios, increase the duration 
of pregnancy, improve significantly the AFItherefore decrease the harmful effects on the fetus of 
oligohydramnios.
Key words: oligohydramnios, amnioinfusion.
1. Đặt vấn đề
Ối là một chất dịch sinh học bao quanh thai 
nhi, có khả năng tái tạo và trao đổi, có vai trò 
quan trọng với sự sống và sự phát triển của thai 
nhi, nước ối được sản sinh từ thai nhi (qua da, khí 
phế quản, hệ tiết niệu), từ nội sản mạc, từ máu 
của mẹ với chu kỳ 3 giờ/ lần [1]. Thiểu ối là tình 
trạng nước ối ít hơn thể tích ối thông thường theo 
tuổi thai và màng ối còn nguyên vẹn, chẩn đoán 
xác định bằng siêu âm thai và nước ối [2]. Các 
nguyên nhân gây thiểu ối thường được đề cập là vỡ 
ối, bất thường thai nhi, suy giảm chức năng bánh 
rau, thai chậm phát triển,  Thiểu ối gây nhiều 
ảnh hưởng cho thai, đặc biệt nếu xuất hiện sớm 
và kéo dài, những biến chứng thường gặp là thiểu 
sản phổi, suy thai, biến dạng thai thậm chí tử vong 
thai. Nhiều phương pháp đã được sử dụng để điều 
trị thiểu ối như truyền dịch cho mẹ, sử dụng kháng 
sinh, tuy nhiên chưa đem lại hiệu quả mong muốn. 
Truyền ối là kỹ thuật được mô tả lần đầu điều trị cho 
các trường hợp thiểu ối nặng nhằm giảm nguy cơ 
thiểu sản phổi của thai tại Nhật Bản (Nakayama et 
al., 1983) [3]. Từ đó đến nay, truyền ối được xem 
như một trong các kỹ thuật can thiệp bào thai để 
điều trị bệnh lý thiểu ối. Tại Việt Nam, Bệnh viện 
Vinmec đã tiên phong thực hiện một cách hệ thống 
kỹ thuật này và ghi nhận một số kết quả khả quan. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:
1. Đánh giá một số điều kiện và tiêu chí của kỹ 
thuật truyền ối.
2. Nhận xét kết quả kỹ thuật truyền ối điều trị 
thiểu ối tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các thai phụ có thai bị thiểu ối đồng ý điều trị 
bằng phương pháp truyền ối
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Thai trên 15 tuần, tim thai dương tính.
- Siêu âm chỉ số ối dưới 50mm.
- Tuổi thai dưới 35 tuần.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Các trường hợp thai lưu.
- Siêu âm hình thái thai nhi có bất thường.
- Các trường hợp vỡ ối, rỉ ối.
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi bất thường.
- Có triệu chứng nhiễm trùng.
NGUYỄN THU HOÀI, NGUYỄN NGỌC TÚ, NGUYỄN QUỐC TUẤN
80
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc. 
Cỡ mẫu: Mẫu toàn bộ, tất cả các bệnh nhân thỏa 
mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được 
thực hiện kỹ thuật truyền ối. Trong 20 tháng từ tháng 5 
năm 2016 đến hết tháng 1 năm 2018 có 8 bệnh nhân 
thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu.
2.3. Quy trình nghiên cứu
Bệnh nhân được thăm khám, chẩn đoán xác 
định thiểu ối, loại trừ vỡ ối, rỉ ối, xét nghiệm không 
có tình trạng nhiễm trùng cấp, các trường hợp đạt 
yêu cầu được thực hiện kỹ thuật.
Kỹ thuật: 
- Tiến hành tại phòng mổ, có thể sử dụng an 
thần đường tĩnh mạch.
- Kháng sinh dự phòng.
- Sử dụng kim dài cỡ 22G đâm qua thành bụng 
dưới hướng dẫn của siêu âm vào buồng ối.
- Dịch truyền: Natriclorid đẳng trương. Thể tích 
từ 200-500ml mỗi lần truyền tùy thuộc tuổi thai, 
chỉ số ối trước truyền, tốc độ truyền 5-10ml/ phút.
- Lấy mẫu ối sau truyền để xét nghiệm di truyền, 
nhiễm trùng. Các trường hợp có bất thường di 
truyền hoặc nhiễm trùng thai sẽ bị loại không đưa 
vào nghiên cứu.
- Lưu viện sau thủ thuật 2 ngày, thuốc giảm co 
nếu cần.
- Sau khi thực hiện thủ thuật, thai phụ được 
đánh giá tình trạng mẹ, thai, rau, ối thường xuyên 
trên siêu âm đến khi đánh giá ổn định về lâm sàng 
và cận lâm sàng sẽ được quản lý thai như bình 
thường đến khi kết thúc thai kỳ.
3. Kết quả 
3.1. Tuổi thai phụ
Tuổi trung bình của các thai phụ trong nghiên 
cứu là: 33,13 ± 3,22, thấp nhất là 30 tuổi và cao 
nhất là 40 tuổi.
Biểu đồ 1. Tuổi thai phụ nghiên cứu
3.2. Tuổi thai khi có chỉ định truyền ối 
và quá trình theo dõi sau đó
Trong 8 ca được truyền ối, 12,5% số ca có tuổi 
thai dưới 22 tuần, số ca có tuổi thai từ 22 đến 28 
chiếm 20%, 37,5% số bệnh nhân được truyền ối ở 
tuổi thai từ 28 đến 32 và 20% số trường hợp truyền 
ối ở tuổi thai trên 32 tuần.
Thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình 
là: 6,8 ± 5,4 tuần, thấp nhất là 1 tuần, cao nhất 
là 16 tuần.
6 trường hợp giữ được thai tới trên 35 tuần , 
trong đó có 5 ca trên 37 tuần chiếm 83,33%.
3.3. Lượng dịch truyền, thời gian 
truyền ối và số lần truyền ối
Thể tích dịch truyền trung bình là 325 ± 84 ml, 
thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình là 35,6 ± 
15,6 phút, chỉ có 1 trường hợp phải truyền ối lần 2 
do thiểu ối tái phát sau truyền lần 1 chiếm 12,5%. 
Đây là trường hợp giữ được lâu nhất 16 tuần, và 
lần 2 truyền lúc thai 28 tuần.
3.4. Sự thay đổi chỉ số ối trong vòng 4 
tuần sau truyền ối
Ghi chú: Không đưa vào biểu đồ trường hợp 
song thai do chỉ đo góc ối sâu nhất của mỗi thai 
Nhóm tuổi thai truyền ối Tuổi thai truyền ối (tuần)
Thời gian duy trì 
thai nghén (tuần)
Tuổi thai khi kết 
thúc thai kỳ(tuần)
Dưới 22 tuần 17 01 18
Từ 22 đến 28 tuần
26 01 27 
22 16 38 
Từ 28 đến 32 tuần
28 10 38 
29 10 39
29 10 39 
Trên 32 tuần
32 03 35 
33 04 37 
Trung bình 27,0±5,3 tuần 6,8 ± 5,4 tuần
Bảng 1. Tuổi thai khi có chỉ định truyền ối và quá trình theo dõi sau đó
Nhóm tuổi thai 
truyền ối
Tuổi thai 
truyền ối
Tổng lượng dịch 
truyền (ml)
Thời gian truyền 
(phút)
Số lần 
truyền ối
Dưới 22 tuần 17 300 20 1 
Từ 22 đến 28 tuần
26 300 20 1 
22 500 (lần 1: 250ml lần 2: 250ml) 
65 (lần 1: 30 phút
 lần 2: 35 phút) 2
Từ 28 đến 32 tuần
28 350 50 1
29 300 30 1 
29 200 35 1 
Trên 32 tuần
32 300 25 1
33 350 40 1 
Trung bình 325 ± 84 ml 35,6 ± 15,6 1,125
Bảng 2. Lượng dịch truyền, thời gian truyền ối và số lần truyền ối 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 78 - 82, 2018
81
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
chứ không đo chỉ số ối AFI, tuy nhiên góc ối 
sâu nhất của thai cũng tăng sau các lần siêu âm 
cách nhau mỗi 2 ngày với chỉ số lần lượt tăng từ 
23mm lên 47mm và sau đó là 50mm, tuy nhiên 
trường hợp song thai này chỉ giữ được 1 tuần vì 
1 thai sống có dấu hiệu suy thai nặng phải dừng 
thai kỳ.
Chỉ có 1 trường hợp cạn ối tái phát sau 1 lần 
truyền cần truyền thêm lần thứ 2, 6 trường hợp còn 
lại chỉ số ối đều cải thiện, trong 6 trường hợp này 
có 5 ca ối tăng trên 80mm, chỉ có 1 trường hợp 
thai 29 tuần truyền ối có chỉ số AFI duy trì dưới 
80mm trong vòng 4 tuần sau đó ối đã tăng về mức 
bình thường ở tuần thứ 5 sau truyền ối và duy trì tốt 
đến khi sinh đủ tháng (39 tuần).
Như vậy 7/8 số ca truyền ối đều cải thiện được 
chỉ số ối và duy trì mức ối bình thường sau thời 
gian dài chiếm tới 87,5%.
3.5. Tỷ lệ thành công của truyền ối
Do trường hợp sảy thai 17 tuần không đánh giá 
trẻ sơ sinh, còn lại 7 trường hợp sinh có tỷ lệ bệnh 
tật và tử vong như sau
- Tỷ lệ vàng da sau sinh: 1 trường hợp 
chiếm 14,3%.
- Tỷ lệ sơ sinh cần hỗ trợ hô hấp sau sinh: 0%.
- Tỷ lệ bất thường bẩm sinh: 0%.
- Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh: 0%.
- Tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung 14,3%.
- Tỷ lệ tử vong: 1 chiếm 14,3% hợp tử vong 
ngay sau sinh ở bệnh nhân song thai 1 thai lưu, 
thai còn lại bị suy thai.
- Tỷ lệ sơ sinh sống là 6 ca chiếm 85,7%.
4. Bàn luận
4.1. Tuổi thai phụ
Theo kết quả nghiên cứu tuổi trung bình của các 
Biểu đồ 2. Theo dõi chỉ số ối sau khi truyền
thai phụ trong nghiên cứu là: 33,13 ± 3,22, nhỏ 
nhất là 30 tuổi và lớn nhất là 40 tuổi.
Mặc dù nghiên cứu đã loại trừ những yếu tố 
như bất thường nhiễm sắc thể, tuy vậy nhìn chung 
độ tuổi của các thai phụ tương đối cao, đều trên 
30 tuổi, có thể do tuổi cao làm gia tăng những bất 
thường về mặt chức năng của bánh rau. Kết quả 
này tương tự nghiên cứu của Taneja A tuổi trung 
bình các thai phụ bị thiểu ối là 30 tuổi [4]. Cần có 
nghiên cứu lớn hơn với cỡ mẫu cao hơn để có kết 
quả cụ thể hơn về tiêu chí này.
4.2. Tuổi thai khi có chỉ định truyền ối 
và quá trình theo dõi sau đó
Trong 8 bệnh nhân được tiến hành truyền ối, đa 
phần các trường hợp cạn ối không rõ nguyên nhân 
gặp ở tuổi thai 22 đến 32 tuần chiếm tới 57,5%. Tuổi 
thai trung bình khi truyền ối là 27,0±5,3 tuần. Thời 
gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình là: 6,8 ± 
5,4 tuần, thấp nhất là 1 tuần, cao nhất là 16 tuần. 
Có 2 trường hợp thấp nhất chỉ duy trì được 1 tuần. 
Trường hợp thứ nhất là song thai 1 thai lưu, phải dừng 
thai kỳ do thai thứ 2 (thai cạn ối) có biểu hiện suy thai, 
trường hợp này khi theo dõi không có xuất hiện triệu 
chứng dọa sinh non. Điều đó chứng tỏ song thai vẫn 
có thể truyền ối mặc dù khó khăn hơn về mặt kỹ thuật 
cũng như nhiều nguy cơ hơn đơn thai. Trường hợp 
còn lại bị sảy thai, trên cơ địa bệnh nhân cũng có tiền 
sử sảy thai và nạo thai lưu trên 4 lần. 
6 trường hợp còn lại đều giữ được thai tới trên 
35 tuần , trong đó có 5 ca trên 37 tuần chiếm 
83,33%. Với kết quả trên, có thể thấy truyền ối là 
một trong các biện pháp có hiệu quả điều trị bệnh 
lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung.
4.3. Lượng dịch truyền, thời gian 
truyền ối và số lần truyền ối 
Thể tích dịch truyền trung bình là 325 ± 84 ml, 
lượng dịch truyền này phụ thuộc vào tuổi thai, chỉ số ối 
ban đầu, sự xuất hiện cơn co tử cung, vị trí khó đặt kim 
truyền ối. Lượng dịch truyền này tương tự nghiên cứu 
của Vikraman SK với thể tích truyền 314±54ml [5].
Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình là 35,6 
± 15,6 phút. Tương tự như thể tích truyền, thời gian 
truyền phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó theo nhóm 
nghiên cứu tuổi thai là một yếu tố quan trọng. Trong 
số các ca truyền ối, trường hợp thai nhỏ 17 tuần 
chúng tôi truyền số lượng 300ml, thể tích này lớn hơn 
một ít so với lượng ối của thai 17 tuần, nhưng do 
NGUYỄN THU HOÀI, NGUYỄN NGỌC TÚ, NGUYỄN QUỐC TUẤN
82
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật, chúng 
tôi truyền trong thời gian ngắn, có nguy cơ tăng co 
tử cung, cộng hợp với bệnh nhân có tiền sử sảy thai 
nhiều lần nên chỉ duy trì thêm thai kỳ trong 1 tuần. 
Chỉ có 1 trường hợp phải truyền ối lần 2 do thiểu 
ối tái phát sau truyền lần 1 chiếm 12,5%. Đây là 
trường hợp giữ được lâu nhất 16 tuần, và lần 2 truyền 
lúc thai 28 tuần. Chỉ định truyền thêm hoàn toàn phụ 
thuộc vào chỉ số ối sau truyền cũng như dấu hiệu dọa 
sinh non của thai phụ. Theo nghiên cứu của Hsu TL và 
cộng sự, nghiên cứu trên 17 trường hợp truyền ối với 
số lần truyền ối cho mỗi thai phụ từ 1 đến 6 lần, cho 
thấy truyền ối nhiều lần có làm tăng nguy cơ nhiễm 
trùng và vỡ ối, vì vậy chỉ định truyền ối các lần tiếp 
theo cần hết sức cân nhắc [6].
4.4. Sự thay đổi của chỉ số ối sau 
truyền ối 
Tỷ lệ chỉ số ối cải thiện chiếm khá cao, 7/8 trường 
hợp đơn thai chiếm 87,5%, trường hợp song thai cũng 
có cải thiện. Đặc biệt đa phần chỉ số ối tăng trở lại 
mức bình thường (trên 80mm) trong vòng 4 tuần đầu 
sau thủ thuật, chỉ có 1 trường hợp ối dù cải thiện hơn 
trước nhưng vẫn duy trì dưới 80mm trong vòng 4 tuần 
rồi sau đó mới tăng về mức bình thường ở tuần thứ 5 
sau truyền ối và duy trì tốt đến khi sinh đủ tháng (39 
tuần). Kết quả nghiên cứu trên cho thấy sự cải thiện 
rõ rệt về chỉ số ối của các trường hợp can thiệp, từ 
đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến 
thai nhi, đồng thời cũng cho thấy chỉ cần một lượng ối 
đủ cho tuần hoàn thai nhi có thể tự tái sản xuất lượng 
nước ối về mức bình thường.
4.5. Tỷ lệ thành công của truyền ối
Ngoài 1 trường hợp thai 17 tuần bị sảy thai sau 
truyền ối ở bệnh nhân có tiền sử sảy thai, thai lưu nhiều 
lần và 1 trường hợp tử vong sau sinh ở bệnh nhân 
song thai 1 thai lưu, thai còn lại bị suy thai, còn lại 6 sơ 
sinh sống sót chiếm 85,7% số trường hợp truyền ối sau 
22 tuần. Kết quả này tương tự so với kết quả nghiên 
cứu của Takahashi Y, tỷ lệ sơ sinh sống là 85% [7].
Một số bệnh lý sơ sinh gặp phải là vàng da 
(14,3%), thai chậm phát triển (14,3%), ngoài ra không 
có trường hợp nào phải hỗ trợ hô hấp sơ sinh sau đẻ, 
không có trường hợp thiểu sản phổi, không ghi nhận 
có nhiễm trùng sơ sinh hay có dị dạng bẩm sinh. Một 
điểm đáng lưu ý là các bệnh nhân đã được xét nghiệm 
đánh giá không có bất thường di truyền và nhiễm trùng 
bào thai, do vậy tiên lượng các trường hợp thai chậm 
phát triển trong tử cung tương đối tốt. Do số trường hợp 
nghiên cứu chưa nhiều, tuy nhiên tỷ lệ xuất hiện bệnh 
lý không cao, không gặp bệnh lý sơ sinh nặng là một 
yếu tố chứng tỏ truyền ối nếu tiến hành đúng chỉ định, 
đúng kỹ thuật là một biện pháp tương đối an toàn.
5. Kết luận
Truyền ối thực hiện cho thai trên 16 tuần có chỉ 
số ối dưới 50mm, lượng dịch truyền và thời gian 
truyền tùy thuộc tuổi thai và chỉ số ối trước truyền. 
Truyền ối là một biện pháp có hiệu quả điều 
trị bệnh lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử 
cung, cải thiện rõ rệt về chỉ số ối từ đó giảm thiểu 
các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến thai nhi.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Hà Nội. Bài giảng sản phụ khoa. Nhà 
xuất bản Y học; 2004.
2. Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa. 
Nhà xuất bản Hồng Đức; 2015. 7-11
3. Nakayama DK, Glick PL, Harrison MR, Villa RL, Noall R. Experimental 
pulmonary hypoplasia due to oligohydramnios and its reversal by relieving 
thoracic compression. Journal of Pediatric Surgery. 1983; 18(4): 347–53.
4. Taneja A, Arora K, Chopra I, Naik SSJ Clin Diagn Res. Pregnancy 
Outcomes in Isolated Oligohydramnios during Second Trimester: A Case 
Series. 2017 Aug;11(8) 
5. Vikraman SK, Chandra V, Balakrishnan B, Batra M, Sethumadhavan 
S, Patil SN, Nair S, Kannoly G. Impact of antepartum diagnostic 
amnioinfusion on targeted ultrasound imaging of pregnancies presenting 
with severe oligo- and anhydramnios: An analysis of 61 cases. Eur J 
Obstet Gynecol Reprod Biol. 2017 May; 212:96-100.
6. Hsu TL, Hsu TY, Tsai CC, Ou CY, The experience of amnioinfusion 
for oligohydramnios during the early second trimester Taiwan J Obstet 
Gynecol. 2007 Dec;46(4):395-8. 
7. Takahashi Y, Iwagaki S, Chiaki R, Iwasa T, Takenaka M, Kawabata I, 
Itoh M Amnioinfusion before 26 weeks’ gestation for severe fetal growth 
restriction with oligohydramnios: preliminary pilot study J Obstet Gynaecol 
Res. 2014 Mar; 40(3):677-85
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_truyen_oi_dieu_tri_thieu_oi_tai_benh_vien_d.pdf