Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo

Mở đầu & mục tiêu

Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá

sử dụng dây chằng nhân tạo tại Viện Tim thành

phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp: Tiền cứu hàng loạt ca các

trường hợp lâm sàng từ tháng năm 2015 đến 2018

trên các số liệu thu thập được từ 27 bệnh nhân

được phẫu thuật sửa van hai lá sử dụng dây chằng

nhân tạo và khám lại sau phẫu thuật.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân

51.67 ± 11.12 tuổi. Tỷ lệ tái khám đều là 92.6%,

mất theo dõi sau mổ là 2 bệnh nhân. Sau 2 năm

theo dõi, không có trường hợp tử vong muộn, và

96,3% không cần mổ lại. Nhiễm trùng vết mổ

3,7%. 96,3% trường hợp không hở van hai lá tồn

lưu hoặc hở nhẹ; 3,7% hở trung bình.

Kết luận: Sửa van hai lá sử dụng dây chằng

nhân tạo là phương pháp điều trị rất tốt đối với

bệnh nhân hở van hai lá do thoái hóa van. Ưu

điểm của phẫu thuật này là bảo tồn được mô van

hai lá, tăng cường cho bộ máy dưới van nhờ dây

chằng nhân tạo với độ an toàn cao, ít biến chứng,

và bệnh suất cũng như tử suất thấp

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo

Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 110 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN SỬA VAN HAI LÁ SỬ DỤNG 
DÂY CHẰNG NHÂN TẠO 
Nguyễn Văn Nghĩa* 
TÓM TẮT 
Mở đầu & mục tiêu 
Đánh giá kết quả trung hạn sửa van hai lá 
sử dụng dây chằng nhân tạo tại Viện Tim thành 
phố Hồ Chí Minh. 
Phương pháp: Tiền cứu hàng loạt ca các 
trường hợp lâm sàng từ tháng năm 2015 đến 2018 
trên các số liệu thu thập được từ 27 bệnh nhân 
được phẫu thuật sửa van hai lá sử dụng dây chằng 
nhân tạo và khám lại sau phẫu thuật. 
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân 
51.67 ± 11.12 tuổi. Tỷ lệ tái khám đều là 92.6%, 
mất theo dõi sau mổ là 2 bệnh nhân. Sau 2 năm 
theo dõi, không có trường hợp tử vong muộn, và 
96,3% không cần mổ lại. Nhiễm trùng vết mổ 
3,7%. 96,3% trường hợp không hở van hai lá tồn 
lưu hoặc hở nhẹ; 3,7% hở trung bình. 
Kết luận: Sửa van hai lá sử dụng dây chằng 
nhân tạo là phương pháp điều trị rất tốt đối với 
bệnh nhân hở van hai lá do thoái hóa van. Ưu 
điểm của phẫu thuật này là bảo tồn được mô van 
hai lá, tăng cường cho bộ máy dưới van nhờ dây 
chằng nhân tạo với độ an toàn cao, ít biến chứng, 
và bệnh suất cũng như tử suất thấp. 
Từ khóa: Sửa sa van hai lá, Dây chằng nhân 
tạo, Bệnh van tim thoái hóa. 
ABSTRACT: 
Background and aim of the study: To 
present mid-term follow-up results of Mitral 
Valve Repair with Artifitial Chordae. 
Materials and Methods: From 2015 to 
2018, 27 patients underwent mitral valve repair 
by the technique of applying artifitial chordae in 
the Heart Institute of Ho Chi Minh, Vietnam. 
Results: Valve disease was degenerative in 
most cases. Age ranging of patients 51.67 ± 11.12 
years. Regular follow-up ratio was 92.6%, lost 
follow-up 2 cases. Non-fatal complication: No 
bacterial endocarditis; Infection: 3.7%. No death 
after 2 years of follow-up overall. Freedom from 
re-operation at 2 years was 96.3% (1 case of re-
operation related to cardiac insufficiency). The 
grades of mitral regurgitation at 2 years were 
96.3% absent or mild, 3.7% moderate. 
Conclusions: This study showed excellent 
mortality and morbidity outcomes with mitral 
valve repair applying artifitial chordae at 2-year 
follow-up, confirming reliablility and durability of 
this technique for the patients. This showed a good 
solution for mitral regurgitation by safe technique, 
and increase feasibility of mitral valve repair. 
Key word: mitral valve repair, artifitial 
chordae, neo-chord, degenerative disease.1 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật sửa van hai lá hình thành từ đầu 
thập niên 60. Vào thời điểm đó, những biến chứng 
của van nhân tạo còn rất cao, đã thúc đẩy các phẫu 
thuật viên nghiên cứu và áp dụng các kỹ thuật chỉnh 
hình van. Những kỹ thuật sửa van khởi đầu còn rất 
đơn giản và chưa hoàn chỉnh. Dần dần, các kỹ thuật 
này đã được cải tiến và đa dạng hơn, giúp cho các 
kết quả sửa van được tốt hơn. 
Ngày nay, có thể dùng chỉ PTFE 
(polytetrafluoroethylene) tạo dây chằng mới thay 
thế dây chằng bị hư hại, tăng cường cho lá van. Vì 
vậy, dây chằng nhân tạo Gore-tex là một giải pháp 
tốt để điều trị hở van hai lá do thoái hóa. [1] 
Bệnh hở van hai lá tác động lên cơ quan 
đích là thất trái, bao gồm những thay đổi hình thái 
và cấu trúc, vì vậy cần khảo sát kỹ thất trái trước 
* Khoa phẫu thuật – Viện Tim TP.HCM. 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Văn Nghĩa 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN SỬA VAN HAI LÁ SỬ DỤNG DÂY CHẰNG NHÂN TẠO 
 111 
và sau khi phẫu thuật. Ở một số bệnh viện và 
trung tâm lớn có phương tiện chẩn đoán hiện đại, 
bệnh nhân có thể được chụp Cộng hưởng từ giúp 
đánh giá hình thái và cấu trúc tim, đặc biệt là thất 
trái một cách toàn diện và chính xác. [5] 
Mục tiêu nghiên cứu 
- Đánh giá kết quả ngắn hạn và trung hạn 
của phẫu thuật sửa sa van hai lá sử dụng dây 
chằng nhân tạo. 
- Đánh giá sự thay đổi về hình thái và cấu 
trúc thất trái sau phẫu thuật. 
II. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu hàng loạt ca. 
Đối tượng nghiên cứu: 
Dân số nghiên cứu: 
Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật sửa sa van 
hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo tại Viện Tim 
Tp.HCM trong thời gian từ năm 2015 đến 2018 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật sửa sa 
van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo trong thời 
gian từ năm 2015 đến 2018 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân hở van hai lá được thay van 
nhân tạo 
Bệnh nhân sửa van hai lá nhưng dùng các 
phương pháp khác với dây chằng nhân tạo. 
Bệnh nhân hở van hai lá trong bệnh lý 
nhiều van phối hợp 
Kiểm soát sai lệch chọn mẫu: 
Sai số do chọn mẫu: định nghĩa rõ ràng đối 
tượng được đưa vào nghiên cứu căn cứ vào tiêu 
chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ. 
Sai số do thu thập thông tin: chúng tôi ghi 
nhận thông tin đầy đủ chi tiết và khách quan. 
Những hồ sơ hoặc số liệu không rõ ràng sẽ được 
loại ra. 
Thu thập số liệu 
Dựa vào bệnh án mẫu, số liệu được thu thập 
tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh. 
Phân tích và xử lý số liệu 
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống 
kê, có hỗ trợ bằng phần mềm SPSS 16.0. Biểu đồ 
tính và vẽ bằng phần mềm Excel. 
- Phân tích tổng hợp các dữ kiện lâm sàng, 
các phương pháp mổ, kết quả phẫu thuật, các biến 
chứng sau khi mổ. 
- Tỉ lệ sống còn theo thời gian, được tính 
bằng phương pháp Kaplan – Meier. 
Phương pháp tiến hành: Xác định chiều 
dài dây chằng nhân tạo và kỹ thuật đặt dây chằng. 
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp đặt dây 
chằng nhân tạo của tác giả Nguyễn Văn Phan: 
Bước 1: Xác định vị trí sa van hai lá 
Bước 2: Chọn vị trí van bình thường (kế bên 
vùng sa van), gắn chỉ 5.0 qua lá trước và lá sau 
Bước 3: Khâu chỉ PTFE từ cơ nhú lên vùng 
lá van bị sa 
Bước 4: Chỉ 5.0 căng lên để làm chiều dài 
chuẩn 
Bước 5: Cột chỉ PTFE ngang mức chiều 
dài chuẩn 
Bước 6: Cột chỉ một lần nữa ở mặt dưới lá van 
Bước 7: Bơm nước muối sinh lý vào Thất 
trái để kiểm tra 
 Máy siêu âm tim dùng trong nghiên cứu: 
Loại máy Philips HD7. 
Theo dõi ngắn hạn: 
* Sau mổ từ 1 đến 7 ngày, theo dõi các biến 
chứng phẫu thuật: Chảy máu, đau sau mổ, siêu 
âm tim. 
* Từ 7 ngày sau mổ – 3 tháng sau mổ: siêu 
âm tim kiểm tra độ hở van 2 lá tồn lưu. 
Theo dõi trung hạn: Siêu âmtim kiểm tra 
sau mổ 6 tháng – 1 năm 
* Các thông số nghiên cứu gồm: Mức độ 
hở van hai lá, kích thước lá van hai lá: lá trước, lá 
sau, kích thước vòng van hai lá, kích thước các 
buồng tim trái, áp lực động mạch phổi. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 112 
III. KẾT QUẢ 
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Biểu đồ 1: Đặc điểm nhóm tuổi 
Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ (63% so với 37%). Tuổi trung bình là 51.67 (tuổi), lớn nhất là 77 
tuổi, thấp nhất là 30 tuổi. 
Bảng 1. Phân độ suy tim NYHA trước mổ 
NYHA I 1 3.7% 
NYHA II 22 81.5% 
NYHA III 3 11.1% 
NYHA IV 1 3.7% 
TỔNG 27 100% 
Trong số 27 bệnh nhân đến viện đều có triệu chứng lâm sàng, 81.5% khó thở khi gắng sức theo 
phân độ NYHA II. Có 3/27 trường hợp suy tim ( NYHA III ) trước mổ, 1 trường hợp phân độ NYHA 
I, tình cờ phát hiện bệnh tim khám sức khỏe. 1 trường hợp khác, biểu hiện suy tim nặng, phân độ 
NYHA IV. 
Bảng 2. Số cặp dây chằng được sử dụng 
1 cặp dây chằng 16 59,3 
2 cặp dây chằng 9 33,3 
3 cặp dây chằng 2 7,4 
Tổng 27 100% 
Bảng 3. Vị trí lá van sử dụng gắn dây chằng nhân tạo 
Vị trí gắn dây chằng Tần số % 
A1 1 3.7 
A2 17 63 
A3 3 11.1 
P1 3 11.1 
P2 13 48.1 
P3 3 11.1 
33.3
51.9
14.8
0
10
20
30
40
50
60
30-49 50-59 ≥ 60
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN SỬA VAN HAI LÁ SỬ DỤNG DÂY CHẰNG NHÂN TẠO 
 113 
Nhận xét: Đa số các trường hợp được gắn 1 cặp dây chằng nhân tạo, chiếm 59,3%; 33,3% bệnh 
nhân được gắn 2 cặp dây chằng nhân tạo; còn lại, 7,4% trường hợp phải dùng đến 3 cặp dây chằng 
nhân tạo. 
Trong nghiên cứu này, thương tổn lá trước van hai lá chiếm ưu thế hơn lá sau, 63 % ở A2 so với 
48,1% ở P2 và thấp nhất là vị trí vùng A1 (3.7%) khi đánh giá trực tiếp thương tổn lá van trong lúc 
phẫu thuật. 
38,22
34,72
31,87
28
30
32
34
36
38
40
Trước mổ 1 tháng 3 tháng
Biểu đồ 2: Sự cải thiện Thất trái sau mổ 
Sau phẫu thuật chức năng thất trái hồi phục lại: tim nhỏ lại, giảm kích thước buồng thất trái. Sự 
cải thiện kích thước buồng tim trái giúp gia tăng phân suất tống máu và ổn định huyết động. 
Bảng 4. Các thương tổn của van tim thoái hóa 
Thương tổn van hai lá Tần số % 
Đứt dây chằng 14 51.9 
Dài dây chằng 5 18.5 
Thiếu dây chằng 2 7.4 
Barlow 6 22.2 
Tổng 27 100 
Trong số 27 trường hợp nghiên cứu, đứt dây chằng là thương tổn chiếm hơn ½ trường hợp, do 
bản chất của bệnh lý thoái hóa van làm cho dây chằng van hai lá mỏng manh dễ bị đứt. Ngoài ra, dây 
chằng dãn, dài cũng gặp 18.5% trường hợp, và bệnh lý Barlow chiếm 22.2%. Đây là hình thái tổn 
thương đặc trưng cho bệnh lý van tim thoái hóa. 
Bảng 5. Thông số phẫu thuật 
 Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình 
Thời gian THNCT (phút) 51 220 107.93± 36.87 
Nhiệt độ 0C 28 32 
Thời gian kẹp ĐMC (phút) 36 112 70.41 ± 20.87 
Thời gian thở máy ( giờ ) 4 264 41.41 ± 60.79 
Thời gian hồi sức( ngày ) 1 15 3.59 ± 3.10 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 114 
THEO DÕI SAU MỔ 
Kết quả siêu âm tim kiểm tra sau phẫu thuật 
không ghi nhận hở van hai lá tồn lưu, cũng như 
không có tắc nghẽn đường ra thất trái ( SAM ), kể 
cả theo dõi ở những lần bệnh nhân tái khám. 
Không thuyên tắc do huyết khối hoặc viêm nội 
tâm mạc nhiễm trùng. 
Ngoài ra, ghi nhận tràn dịch màng tim 
chiếm 5/27 trường hợp, được dẫn lưu. Tất cả 
bệnh nhân tái khám đều. Không có trường hợp tử 
vong sau phẫu thuật. 
IV. BÀN LUẬN 
 4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Tuổi: Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi 
trung bình là 51.67 tuổi, thấp nhất là 30 tuổi, cao 
nhất là 77 tuổi. Đây là nhóm tuổi trung niên, phù 
hợp cho phẫu thuật sửa van hai lá. Nếu phẫu thuật 
sớm sẽ giúp bệnh nhân về lại cộng đồng với sức 
khỏe tốt. Nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi 
trung bình cao hơn tác giả trong nước tuy nhiên 
lại thấp hơn so với tác giả Tirone E. David. [3] 
Giới tính: Theo nghiên cứu của các tác giả 
trong nước và trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh hở van 
hai lá nam giới luôn lớn hơn so với nữ giới. 
Nghiên cứu của Tirone E. David nam chiếm 
73.6%, nữ chiếm 26.4% [4]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, nam giới chiếm 63% và nữ giới là 
37%. Có một số y văn lý giải sự tăng tỉ lệ ở nam 
giới do liên quan đến chấn thương, gắng sức.[6] 
4.2. Phân độ suy tim trước phẫu thuật so 
với các nghiên cứu khác 
Kết quả phân bố bệnh nhân theo mức độ 
suy tim trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số 
bệnh nhân có mức độ suy tim NYHA ≥ 2. Trong 
đó, độ II chiếm 81.5% và độ III chiếm 11.1%, và 
cũng có suy tim độ I và IV, cùng chiếm 3.7%. 
S.Ragnarsson, nghiên cứu năm 2014 ghi nhận: 
56% NYHA II, 44% NYHA III [6]. Riêng trong 
nghiên cứu của T.Shibata năm 2015, có 54.6% 
trường hợp NYHA II, 45.4% NYHA III [8]. 
4.3. Nhịp tim trước phẫu thuật 
Trong nghiên cứu này, khoảng gần ½ số 
trường hợp có rung nhĩ trước phẫu thuật, mới 
phát hiện khoảng 2 năm trở lại. Rung nhĩ là một 
yếu tố liên quan đến nguy cơ cao đột tử và suy 
tim, làm giảm tỉ lệ sống lâu dài sau phẫu thuật ở 
bệnh nhân hở van hai lá mạn tính. 
 Tirone E. David, năm 2013, ghi nhận 
trong nghiên cứu 476 bệnh nhân, có 78.6% nhịp 
xoang, 21.3% rung nhĩ [4]. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, tỉ lệ rung nhĩ là 49.1% và nhịp xoang 
là 51.9%. Tỉ lệ rối loạn nhịp nói chung cao hơn 
các tác giả khác. Sự khác biệt này có liên quan 
đến đường kính nhĩ trái lớn, do thương tổn mạn 
tính kéo dài nhiều năm. 
4.4. Sự thay đổi về kích thước buồng tim 
sau phẫu thuật 
Sau phẫu thuật chức năng thất trái hồi phục 
tốt (Biểu đồ 2): tim nhỏ lại, giảm thể tích thất trái, 
giảm kích thước buồng thất trái; sự hồi phục thất 
trái cả thì tâm thu và tâm trương về bình thường 
[2], [7]. Ngoài ra, kích thước Nhĩ trái cũng cải 
thiện: trước phẫu thuật, đường kính nhĩ trái trung 
bình là 50.7mm, được cải thiện tốt sau mổ 1 
tháng với kích thước trung bình là 40.72mm, và 
tiếp tục cải thiện về kích thước trung bình là 
40.67mm. 
V. KẾT LUẬN 
- Phẫu thuật gắn dây chằng nhân tạo trong 
sửa van hai lá là phương pháp điều trị an toàn và 
hiệu quả cho bệnh nhân hở van hai lá. Qua theo 
dõi sau phẫu thuật, gần như van hai lá hoàn toàn 
không hở hoặc hở nhẹ, kích thước buồng tim nhỏ 
lại (đường kính cuối tâm trương và tâm thu thất 
trái giảm có ý nghĩa). Không có tử vong sớm và 
muộn qua theo dõi. 
- Tăng phân suất tống máu, kích thước các 
buồng tim trái giảm, và bệnh nhân phục hồi tốt 
(theo phân độ NYHA). 
KIẾN NGHỊ 
- Phẫu thuật sửa sa van hai lá sử dụng dây 
chằng nhân tạo cần được nghiên cứu theo dõi lâu 
dài hơn để đánh giá đầy đủ về bệnh lý này, và có 
những kết luận về lâu dài. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN SỬA VAN HAI LÁ SỬ DỤNG DÂY CHẰNG NHÂN TẠO 
 115 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ngô Chí Hiếu, Đỗ Doãn Lợi (2013), 
"Nghiên cứu sự thay đổi huyết động, hình thái 
chức năng thất trái sau phẫu thuật sa van hai lá tại 
bệnh viện Tim Hà nội". Tạp Chí Y Học Thực 
Hành, 4, pp. 29-33. 
2. Nguyễn Văn Phan (2014), "Kết quả phẫu 
thuật sửa van hai lá trong bệnh Barlow tại viện tim 
TP.HCM từ 1994 đến 2012". Tạp chí Phẫu thuật 
tim mạch và lồng ngực Việt Nam, 6, pp. 17-23. 
3. David T. E et al (2013), "Chordal 
replacement with polytetrafluoroethylene sutures 
for mitral valve repair: a 25-year experience". J 
Thorac Cardiovasc Surg, 145 (6), pp. 1563-9. 
4. Kitahara H, Murata M (2016), 
"Preservation of Mobility of the Posterior Mitral 
Leaflet After Mitral Valve Repair With 
Neochordae Using Loop Technique". Circ J, 80 
(3), pp. 663-7. 
5. Morris J. D, Penner D. A, Brandt R. L 
(1964), "Surgical Correction of Ruptured 
Chordae Tendineae". J Thorac Cardiovasc Surg, 
48, pp. 772-80. 
6. Ragnarsson S, Sjogren J (2014), 
"Polytetrafluoroethylene neochordae is 
noninferior to leaflet resection in repair of 
isolated posterior mitral leaflet prolapse: a 
multicentre study". Interact Cardiovasc Thorac 
Surg, 19 (4), pp. 577-83. 
7. Shibata T, Kato Y (2015), "Mitral valve 
repair with loop technique via median sternotomy 
in 180 patients". Eur J Cardiothorac Surg, 47 
(3), pp. 491-6. 
8. Shibata T et al (2014), "Loop technique 
for mitral valve repair". Gen Thorac Cardiovasc 
Surg, 62 (2), pp. 71-7. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_trung_han_sua_van_hai_la_su_dung_day_chang.pdf