Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật glenn theo hai hướng trên bệnh không lỗ van ba lá

58 bệnh nhân được phẫu thuật Glenn theo hai

hướng bao gồm các trường hợp có hoặc không có tuần

hoàn ngoài cơ thể với thời gian theo dõi trung bình

46.5 ± 22.4 tháng (ngắn nhất 10 tháng, dài nhất 92

tháng). Trong đó có 34 nam, 24 nữ, tuổi phẫu thuật từ

4 tháng đến 20 tuổi, cân nặng từ 3.5 kg đến 49 kg. Tỷ

lệ tử vong trong thời gian nằm viện là (1.72%), không

có tử vong muộn. Độ bão hoà oxy trung bình từ 74.7

± 5.85% trước phẫu thuật tăng lên 89.45 ± 1.78% khi

xuất viện và lần theo dõi cuối 86.26 ± 4.3%. Áp lực

trung bình động mạch phổi sau phẫu thuật 14.01 ±

2.31 mmHg. Có 7 trường hợp được làm phẫu thuật

Fontan với thời gian trung bình 62.85 tháng sau phẫu

thuật Glenn.

Phẫu thuật Glenn theo hai hướng trên bệnh không

lổ van ba lá cho kết quả sớm và trung hạn tốt và là

phẫu thuật ở giai đoạn trung gian nhằm chuẩn bị tốt

nhất cho phẫu thuật Fontan tiếp theo.

pdf 4 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật glenn theo hai hướng trên bệnh không lỗ van ba lá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật glenn theo hai hướng trên bệnh không lỗ van ba lá

Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật glenn theo hai hướng trên bệnh không lỗ van ba lá
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT GLENN THEO HAI HƯỚNG  
 7 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT GLENN 
THEO HAI HƯỚNG TRÊN BỆNH KHÔNG LỖ VAN BA LÁ 
Kim vũ Phương* , Nguyễn văn Phan* 
TÓM TẮT 
58 bệnh nhân được phẫu thuật Glenn theo hai 
hướng bao gồm các trường hợp có hoặc không có tuần 
hoàn ngoài cơ thể với thời gian theo dõi trung bình 
46.5 ± 22.4 tháng (ngắn nhất 10 tháng, dài nhất 92 
tháng). Trong đó có 34 nam, 24 nữ, tuổi phẫu thuật từ 
4 tháng đến 20 tuổi, cân nặng từ 3.5 kg đến 49 kg. Tỷ 
lệ tử vong trong thời gian nằm viện là (1.72%), không 
có tử vong muộn. Độ bão hoà oxy trung bình từ 74.7 
± 5.85% trước phẫu thuật tăng lên 89.45 ± 1.78% khi 
xuất viện và lần theo dõi cuối 86.26 ± 4.3%. Áp lực 
trung bình động mạch phổi sau phẫu thuật 14.01 ± 
2.31 mmHg. Có 7 trường hợp được làm phẫu thuật 
Fontan với thời gian trung bình 62.85 tháng sau phẫu 
thuật Glenn. 
Phẫu thuật Glenn theo hai hướng trên bệnh không 
lổ van ba lá cho kết quả sớm và trung hạn tốt và là 
phẫu thuật ở giai đoạn trung gian nhằm chuẩn bị tốt 
nhất cho phẫu thuật Fontan tiếp theo. 
Từ khóa: bệnh không lổ van 3 lá, phẫu thuật 
Glenn theo hai hướng. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh không lỗ van ba lá là bệnh tim bẩm sinh 
tương đối hiếm gặp, chiếm 1 – 3% trong tổng số các 
bệnh tim bẩm sinh, được Kuhne đã mô tả lần đầu tiên 
vào năm 1906, được định nghĩa là tình trạng không có 
sự thông thương trực tiếp giữa nhĩ phải và thất phải. 
Nếu không có can thiệp ngoại khoa, chỉ 1/3 bệnh nhân 
sống đến 1 tuổi và chỉ còn 10% sống đến 10 tuổi 
[2,12]. Tùy theo đặc điểm giải phẫu sinh lý, phần lớn 
trẻ sơ sinh không lỗ van ba lá cần thiết phải có một số 
can thiệp ngoại khoa để đem lại sự sống còn lâu dài và 
một trong những can thiệp đó là phẫu thuật Glenn. 
Phẫu thuật Glenn cổ điển được báo cáo lần đầu tiên 
vào năm 1958 bằng cách nối tĩnh mạch chủ trên vào 
đầu xa động mạch phổi phải, phẫu thuật này được sử 
dụng một thời gian dài sau đó, nhưng do một số bất 
lợi sau phẫu thuật Glenn cổ điển cũng như các yếu tố 
nguy cơ khi làm phẫu thuật Fontan. Đến năm 1972, 
Azollina đã cải tiến phẫu thuật Glenn cổ điển thành 
phẫu thuật Glenn theo hai hướng, bảo toàn sự hơp lưu 
của động mạch phổi phải và trái, giúp máu đi vào cả 
hai phổi. Phẫu thuật này làm cải thiện độ bão hoà oxy 
máu bằng cách tăng lưu lượng máu lên phổi hiệu quả, 
không làm tăng tải thể tích tâm thất, tránh biến dạng 
động mạch phổi, ngăn ngừa sự phát triển bệnh tắt 
nghẽn mạch máu phổi như khi làm thông nối chủ-phổi 
[4,12]. Ngày nay phẫu thuật Glenn theo hai hướng 
được xem là phẫu thuật tạm thời áp dụng cho bệnh 
không lổ van ba lá cũng như các bệnh tim bẩm sinh có 
tâm thất chung khác, phẫu thuật có thể được thực hiện 
lần đầu hoặc giai đoạn thứ hai sau phẫu thuật thông 
nối chủ-phổi hoặc phẫu thuật xiết thân động mạch 
phổi trước khi làm phẫu thuật Fontan. * 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Đây là nghiên cứu hồi cứu mô tả với mục tiêu đánh 
giá kết quả trung hạn những trường hợp được làm phẫu 
thuật Glenn theo hai hướng trên bệnh không lổ van ba lá. 
Thông tin bệnh nhân trước và sau phẫu thuật được ghi 
nhận qua hồ sơ bệnh án, tất cả các trường hợp sống sót 
được tái khám định kì 3-6 tháng và được kiểm tra siêu 
âm tim, SpO2, Hct,  và các cận lâm sàng khác nếu cần 
thiết. Tất cả bệnh nhân đều được sử dụng kháng đông 
sau phẫu thuật (Aspirin 5mg/kg). 
Phẫu thuật Glenn theo hai hướng là phẫu thuật tạm 
thời được áp dụng cho bệnh không lổ van ba lá và các 
bệnh tim bẩm sinh có tâm thất chung khác nhằm 
chuẩn bị tốt nhất cho phẫu thuật Fontan tiếp theo, 
phẫu thuật có thể được thực hiện lần đầu hoặc lần thứ 
hai sau phẫu thuật thông nối chủ-phổi hay xiết thân 
động mạch phổi. Từ tháng 3/2006 đến tháng 3/2014, 
có 58 trường hợp bệnh không lổ van ba lá đã được 
phẫu thuật Glenn theo hai hướng tại bệnh viện tim 
Tâm Đức và Viện Tim TP.HCM, trong đó có 2 trường 
hợp đã được phẫu thuật Blalock-taussig cải tiến, 1 
trường hợp xiết thân động mạch phổi trước đó. Trong 
tất cả 58 trường hợp, nam có 34 trường hợp chiếm 
58.6%, nữ có 24 trường hợp chiếm 41.4%, tuổi phẫu 
thuật trung bình 56 tháng (nhỏ nhất 4 tháng, lớn nhất 
20 tuổi), cân nặng lúc phẫu thuật trung bình 14.1kg 
(nhỏ nhất 3.5kg, lớn nhất 39Kg), độ bão hoà oxy máu 
ngoại vi (SpO2) trước phẫu thuật trung bình 74.7 ± 
5.8% (thấp nhất 50%, cao nhất 82%), dung tích hồng 
cầu (Hct) trước phẫu thuật trung bình 66.9 ± 7.6% 
(thấp nhất 46%, cao nhất 81.6%). 
* Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Phan 
Ngày nhận bài: 20/07/2015 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/08/2015 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 8 
Phẫu thuật Glenn theo hai hướng được thực hiện qua 
đường mở xương ức với việc có thể sử dụng tuần hoàn 
ngoài cơ thể hoặc không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, 
nếu có kết hợp với việc sửa chữa các bất thường khác 
trong tim thì tuần hoàn ngoài cơ thể luôn được sử dụng 
và trong trường hợp có hai tĩnh mạch chủ trên, nếu 
không kết hợp sửa chữa các bất thường trong tim thì việc 
sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể là không cần thiết. 
Miệng nối tận-bên giữa tĩnh mạch chủ trên với động 
mạch phổi phải được thực hiện với việc sử dụng chỉ 6.0 
đơn sợi có thể tiêu được và khâu mũi liên tục, đối với chỉ 
không tan ta khâu mũi liên tục ở một nữa mặt dưới và 
khâu mũi rời ở mặt trên. Tĩnh mạch đơn và ống động 
mạch được cột lại ở tất cả các trường hợp, nguồn máu từ 
tâm thất lên động mạch phổi được để lại ở tất cả các 
trường hợp (nếu có) nhưng được kiểm soát thông qua 
việc đánh giá áp lực động mạch phổi và SpO2 ngay sau 
phẫu thuật, các nguồn máu lên phổi khác (thông nối chủ-
phổi, tuần hoàn bàng hệ) được loại trừ trước hoặc trong 
phẫu thuật. 
3. KẾT QUẢ 
Trong tất cả 58 trường hợp, có 20 trường hợp sử 
dụng tuần hoàn ngoài cơ thể chiếm tỉ lệ 34.48%, 34 
trường hợp không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể chiếm 
tỉ lệ 65.52%. Các phẫu thuật khác phối hợp trong lúc 
phẫu thuật Glenn theo hai hướng được mô tả ở bảng 1. 
Bảng 1: Các phẫu thuật phối hợp khi làm phẫu thuật BGS: 
Các phẫu thuật khác Bệnh nhân 
Tỷ lệ 
(%) 
Nối TMCT vào ĐMP hai bên 12 20.69 
Mở rộng thông liên nhĩ 8 13.79 
Mở rộng thông liên thất 1 1.72 
Cột ống động mạch 40 68.97 
Sửa van hai lá 2 3.44 
Mở rộng nhánh động mạch phổi 1 1.72 
Xiết thân ĐMP 2 3.44 
3.1 Kết quả sớm 
Ở hậu phẫu, nhóm bệnh nhân nghiên cứu có thời gian 
thở máy là 9.83 ± 5.33 giờ (3 – 26 giờ), thời gian nằm 
điều trị tại hồi sức là 1.33 ± 0.73 (1 – 4 ngày), Có 1 
trường hợp tử vong, chiếm tỷ lệ 1/58 (1.72%). Trường 
hợp tử vong là bệnh nhân nam, 8 tháng tuổi, cân nặng 
4kg, được phẫu thuật Glenn theo hai hướng, rút nội khí 
quản giờ thứ 25 sau phẫu thuật, nằm hồi sức 3 ngày, ra 
khoa điều trị được 3 ngày (ngày hậu phẫu thứ 6) bệnh 
nhân nhập lại hồi sức do viêm phổi không đáp ứng với 
kháng sinh phổ rộng và tử vong ngày hậu phẫu 16. Một 
số biến chứng khác trong quá trình theo dõi hậu phẫu 
được mô tả trong bảng 2. Sự thay đổi độ bão hoà oxy 
máu và dung tích hồng cầu trước và sau phẫu thuật được 
mô tả ở bảng 3, áp lực động mạch phổi trung bình sau 
phẫu thuật 14.01 ± 2.31 mmHg. Ngoài ra đánh giá siêu 
âm lúc xuất viện, không có trường hợp nào hẹp miệng 
nối sau phẫu thuật và đo điện tâm đồ không có trường 
hợp nào rối loạn nhịp. 
Bảng 2: Biến chứng hậu phẫu 
Biến chứng Bệnh nhân 
Tỷ lệ 
(%) 
Tràn dịch dưỡng trấp 3 5.17 
Hội chứng cung lượng tim thấp 2 3.45 
Suy thận cấp cần phải thẩm phân 
phúc mạc 1 1.72 
Viêm phổi 2 3.45 
Tràn dịch màng tim cần phải dẫn lưu 2 3.45 
Tràn dịch màng phổi cần phải dẫn lưu 1 1.72 
Chảy máu cần cầm máu lại 4 6.9 
Hội chứng tĩnh mạch chủ trên 1 1.72 
Bảng 3: So sánh Hct, SpO2 trước và sau phẫu thuật . 
Thông số Trước phẫu thuật 
Sau 
phẫu thuật p 
Hct (%) 66.98 ± 7.66 43.2 ± 5.14 0.000 
SpO2 (%) 74.7 ± 5.83 89.45 ± 1.78 0.000 
Bảng 3 cho thấy dung tích hồng cầu và độ bão hoà 
oxy máu trước và sau phẫu thuật thay đổi có ý nghĩa 
thống kê (p<0.001). 
3.2. Kết quả trung hạn 
Chúng tôi đánh giá kết quả trung hạn với thời gian 
theo dõi trung bình 46.5 ± 22.4 tháng, thời gian theo dõi 
ngắn nhất 10 tháng, thời gian theo dõi dài nhất 92 tháng. 
Nhìn chung không có trường hợp nào tử vong, có 7 
trường hợp được làm phẫu thuật Fontan (12.28%), thời 
gian từ lúc phẫu thuật Glenn theo hai hướng đến lúc 
phẫu thuật Fontan trung bình 62.85 tháng. Có 2 trường 
hợp phải đóng tuần hoàn bàng hệ chủ-phổi trước khi làm 
phẫu thuật Fontan, sự thay đổi độ bão hoà oxy máu và 
dung tích hồng cầu sau phẫu thuật và lần theo dõi cuối 
được mô tả ở bảng 4. Không phát hiện trường hợp nào 
hẹp miệng nối hay rối loạn nhịp trong quá trình theo dõi. 
Bảng 4. So sánh Hct, SpO2 sau phẫu thuật 
 và lần theo dõi cuối 
Thông số Sau phẫu thuật 
Theo dõi 
cuối p 
Hct (%) 43.2 ±5.14 51.23 ±7.52 0.000 
SpO2 (%) 89.45±1.78 86.26±4.03 0.000 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT GLENN THEO HAI HƯỚNG  
 9 
Theo dõi bệnh nhân qua những lần tái khám nghi nhận 
dung tích hồng cầu, và độ bão hoà oxy máu, từ bảng 4 ta 
thấy sự thay đổi SpO2 và Hct sau phẫu thuật và ở lần theo 
dõi cuối thay đổi có ý nghĩa thống kê (p<0.001). 
4. BÀN LUẬN 
Phẫu thuật Glenn theo hai hướng được sử dụng 
như là phẫu thuật tạm thời cho bệnh không lổ van ba 
lá cũng như các bệnh tim bẩm sinh có tâm thất chung 
khác để chuẩn bị cho phẫu thuật Fontan sau này, phẫu 
thuật này được cho là có các ưu điểm là giảm tải thể 
tích thất trái, phòng ngừa sự biến dạng động mạch 
phổi cũng như bệnh tắt nghẽn mạch máu phổi so với 
phẫu thuât thông nối chủ-phổi [12,17]. Theo tác giả 
Hawkins tỉ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân được phẫu 
thuật Fontan mà không làm phẫu thuật Glenn theo hai 
hướng trước đó (10%), cao hơn những trường mà 
bệnh nhân hợp được làm phẫu Glenn theo hai hướng 
trước đó (4.8%) [11]. 
Chắc chắn không có sự thống nhất về các tiêu 
chuẩn cho phẫu thuật Glenn theo hai hướng, hầu hết 
các tác giả cho rằng: áp lực trung bình động mạch 
phổi nên < 18mmHg, lý tưởng < 15mmHg với kháng 
lực mạch máu phổi < 2 đơn vị Wood [12,17]. Mặc dù 
có một số hướng dẫn chung về đường kính động mạch 
phổi có thể chấp nhận cho phẫu thuật Glenn theo hai 
hướng [14,18], tuy nhiên các biến dạng động mạch 
phổi như: thiểu sản động mạch phổi, gián đoạn động 
mạch phổi, hẹp phần xa động mạch phổi vẫn còn là 
yếu tố nguy cơ cho kết quả phẫu thuật sau này. Phẫu 
thuật Glenn theo hai hướng có thể thực hiện ở tuổi rất 
nhỏ và cho tỉ lệ tử vong thấp [15]. Theo tác giả Gross 
và cộng sự, những bệnh nhân được phẫu thuật khi đã 
lớn hơn 3,9 tuổi và diện tích da bề mặt cơ thể lớn hơn 
0.65 m2 thì có sự gia tăng đáng kể tình trạng thiếu oxy 
máu nặng, điều này được cho là do khi cơ thể lớn hơn, 
lưu lượng máu ở phần trên so với phần dưới cơ thể 
giảm đáng kể so với lúc nhỏ [10]. Tuy nhiên, hầu hết 
các tác giả cho rằng phẫu thuật Glenn theo hai hướng 
nên thực hiện ở giai đoạn từ 3-6 tháng tuổi để đạt 
được lợi ích tối đa [12, 17, 16]. Phẫu thuật Glenn theo 
hai hướng làm cải thiện độ bão hoà oxy máu và làm 
giảm dung tích hồng cầu đáng kể sau phẫu thuật [11, 
6, 17], cải thiện độ bão hoà oxy máu do lưu lượng 
máu lên phổi hiệu quả, mặt khác khi dung tích hồng 
cầu giảm sẽ làm độ nhớt của máu giảm, góp phần làm 
tăng lưu lượng máu lên phổi [17]. 
Mặc dù phẫu thuật Glenn theo hai hướng đã được 
sử dụng rộng rãi cho bệnh không lổ van ba lá cũng 
như các bệnh tim bẩm sinh có tâm thất chung, tuy 
nhiên có một số vấn đề liên quan đến kết quả lâu dài 
của phẫu thuật như: tím ngày càng tăng, độ bão hoà 
oxy máu càng giảm, sự hình thành các tuần hoàn bàng 
hệ chủ-phổi, tuần hoàn bàng hệ tĩnh mach hệ thống-
tĩnh mạch phổi, dò động - tĩnh mạch trong phổi và sự 
thay đổi kích thước động mạch phổi sau phẫu thuật. 
Một số tác giả cho rằng các vấn đề này có thể giảm 
hoặc loại bỏ bằng cách để lại nguồn máu từ tâm thất 
lên động mạch phổi nhằm tăng lưu lượng và thể tích 
máu lên phổi, tạo dòng máu có mạch đập và máu từ 
tĩnh mạch gan được đưa lên cả hai phổi [5,7,19]. Một 
số tác giả khác cho rằng có xu hướng cải thiện sự sống 
còn khi các nguồn máu phụ được loại bỏ, trong khi 
các bệnh nhân có nguồn máu phụ lên phổi sẽ có nguy 
cơ, tràn dịch màng phổi, thời gian nằm viện kéo dài, 
áp lực động mạch phổi sau phẫu thuật cao và tràn dịch 
dưỡng trấp phát triển muộn [13]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các trường 
hợp có nguồn máu từ tâm thất lên động mạch phổi 
(nếu có) đều được để lại nhưng có kiểm soát (áp lực 
trung bình động mạch phổi sau phẫu thuật không lớn 
hơn 16 mmHg [7]), các nguồn máu lên phổi khác (ống 
động mạch, tuần hoàn bàng hệ, thong nối chủ-phổi) 
được loại bỏ với mục đích không làm tăng tải thể tích 
thất trái, cải thiện chức năng cơ tim, giảm độ hở van 
nhĩ thất [8]. Áp lực trung bình động mạch phổi sau 
phẫu thuật 14.01 ± 2.31 mmHg, áp lưc này là lý tưởng 
sau phẫu thuật Glenn theo hai hướng. Tuy nhiên 
chúng tôi có 2 trường hợp áp lực > 18 mmHg, cả 2 
trường hợp này chúng tôi tiến hành xiết thân động 
mạch phổi sau đó.Theo bảng 3 và bảng 4, ta thấy độ 
bão hoà oxy máu cải thiện đáng kể sau phẫu thuật 
(p<0.001) và dung tích hồng cầu cũng giảm đáng kể 
sau phẫu thuật (p<0.001). Tuy nhiên sau quá trình 
theo dõi, độ bão hoà oxy có xu hướng giảm và dung 
tích hồng cầu ngày càng tăng (p<0.001). Trong tổng 
số 58 trường hợp nghiên cứu, chúng tôi có 12 trường 
hợp biến chứng sớm sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ 20.9% 
(bảng 2) , một số trường hợp có nhiều hơn một biến 
chứng. Theo tác giả Chang [8], tỉ lệ các biến chứng 
sau phẫu thuật như hội chứng tĩnh mạch chủ trên, hội 
chứng cung lượng tim thấp, rối loạn nhịp chiếm tỉ lệ 
cao, trong khi đó theo nghiên cứu của chúng tôi và 
một số tác giả [7,11] thì tỉ lệ các biến chứng này rất 
thấp. Tỉ lệ chảy máu phải cầm lại trong nghiên cứu 
của chúng tôi 6.9%, tỉ lệ này tương đương với tác giả 
Xie Bin [19] 6%. Nhìn chung trong nghiên cứu của 
chúng tôi tỉ lệ các biến chứng sau phẫu thuật tương 
đương hoặc thấp hơn các tác giả khác và theo một số 
tác giả [9,13] các biến chứng này không làm kéo dài 
thời gian thở máy cũng như thời gian nằm hồi sức. 
Kết quả trung hạn của chúng tôi nhìn chung không 
có trường hợp nào tử vong, không có trường hợp nào 
hẹp miệng nối qua đánh giá bằng siêu âm tim, không 
có trường hợp nào rối loạn nhịp tim trên điện tâm đồ. 
Có 7 trường hợp được làm phẫu thuật Fontan 
(12.28%), các bệnh nhân này đều có lâm sàng tím 
ngày càng tăng, độ bão hoà oxy máu thấp và dung tích 
hồng cầu cao. Thời gian từ lúc phẫu thuật Glenn theo 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 10 
hai hướng đến lúc phẫu thuật Fontan trung bình 62.85 
tháng (36- 82 tháng). Có 2 trường hợp được làm phẫu 
Fontan lúc 36 tháng sau phẫu thuật Glenn theo hai 
hướng, cả 2 trường hợp này đều được chẩn đoán trước 
phẫu thuật là loại Ia (không có nguồn máu từ tâm thất 
lên động mạch phổi). Có 2 trường hợp được chẩn 
đoán có tuần hoàn bàng hệ chủ-phổi, cần phải đóng 
bằng thông tim trước khi làm phẫu thuật Fontan. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có một trường 
hơp tử vong sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ 1.72%, tỉ lệ này 
tương đương với tác giả Xie Bin 1.8% [19] và thấp 
hơn một số tác giả Reddy 4.8% [16], Hawkins 5.3% 
[11], Berdat 5.7% [5]. Trường hợp tử vong này không 
liên quan đến kỹ thuật mổ, bệnh nhân sau phẫu thuật 
được rút nội khí quản và chuyển ra khoa điều trị, sau 
đó chuyển vào hồi sức do viêm phổi, và tử vong ngày 
hậu phẫu thứ 16 với chẩn đoán viêm phổi không đáp 
ứng với điều trị kháng sinh phổ rộng. 
5. KẾT LUẬN 
Nghiên cứu 58 trường hợp bệnh không lổ van ba lá 
đã được làm phẫu thuật Glenn theo hai hướng tại bệnh 
viện tim Tâm Đức và Viện Tim TP.HCM từ tháng 
3/2006 đến tháng 3/2014, chúng tôi rút ra kết luận: phẫu 
thuật Glenn theo hai hướng là một phẫu thuật tạm thời 
được lựu chọn tốt cho bệnh không lổ van ba lá với kết 
quả phẫu thuật sớm và trung hạn tốt. Phẫu thuật này làm 
giảm triệu chứng, cải thiện độ bão hoà oxy máu, cải 
thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỉ lệ tử vong khi 
phẫu thuật Fontan. Ngoài ra, với các bệnh nhân có 
nguồn máu từ tâm thất lên động mạch phổi thì tình trạng 
tím tăng chậm hơn, độ bão hoà oxy máu giảm chậm hơn, 
nên thời gian từ phẫu thuật Glenn theo hai hướng đến 
phẫu thuật Fontan kéo dài hơn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ngô Quốc Hùng (2012), "Đánh giá kết qua phẫu thuật 
nối tĩnh mạch chủ trên vào động mạch phổi tại viện 
tim TPHCM từ 01/2004 đến 12/2010" Luận văn thạc 
sĩ y học, TP.HCM 
2. Phạm Nguyễn Vinh (2003), “Không lỗ van ba lá”, 
siêu âm tim và bệnh lý tim mạch, NXB y học, tập 1, 
tr.205-214. 
3. Phan Kim Phương, Nguyễn Minh Trí Viên, Đặng 
Hữu Danh, Phan Ngọc Truyền (2010), "Phẫu thuật 
nối tĩnh mạch chủ trên - động mạch phổi thông ra hai 
hướng tại Viện tim TP HCM: Có gì mới?",Tạp Chí Y 
Học, tại trang web: 
4. Azzolina G, Eufrate S, Pensa P (1972), "Tricuspid 
atresia: Experience in surgical management with a 
modified cavopulmonary anastomosis", Thorax, 27, pp. 
111-115. 
5. Berdat et al (2005), " Additional pulmonary blood 
flow has no adverse effect on outcome after 
bidirectional cavopulmonary anastomosis", Ann 
Thorac Surg, 79, pp.29–37 
6. Bridges ND, Jonas RA, Mayer JE, Flanagan MF, 
Keane JF, Castan ̃ eda AR (1990), "Bidirectional 
cavopulmonary anastomosis as interim palliation for 
high-risk Fontan candidates. Early results", 
Circulation, 82 (Suppl 4), pp.170–176. 
7. Caspi J et al (2003), "Effects of controlled antegrade 
pulmonary blood flow on cardiac function after 
Bidirectional cavopulmonary anastomosis", Ann 
Thorac Surg, 76, pp. 1917-1921. 
8. Chang AC et al (1993), "Early bidirectional 
cavopulmonary shunt in young infants: 
Postoperative course and early results". 
Circulation, 88, pp. II149-158. 
9. Frommelt M, Frommelt PC, Berger S, et al (1995), 
"Does an additional source of pulmonary blood flow 
alter outcome after a bidirectional cavopulmonary 
shunt?", Circulation, 192, (Suppl 2), pp. 240– 244. 
10. Gross GJ, Jonas RJ, (1994), "Maturational and 
hemodynamic factors predic- tive of increased 
cyanosis following bidirectional cavopul- monary 
anastomosis", Am J Cardiol, 74, pp.705–709. 
11. Hawkins JA et al (1993), "Mid-term results after 
bidirectional cavopulmonary shunts", Ann Thorac 
Surg, 56, pp. 833-837. 
12. Kirklin J.W, Barrat- Boyes B.G (2003), “Tricuspid 
Atresia and Management of Single-Ventricle 
Physiology”, Cardiac Surgery, Churchill Livingstong, 
3rd edition, volume 2, (27), pp. 1113- 1176. 
13. Mainwaring et al (1999), "Effect of Accessory 
Pulmonary Blood Flow on Survival After the 
Bidirectional Glenn Procedure", Circulation, 100 
[suppl II], pp. II-151–II-156. 
14. Pridjian AK, Mendelsohn AM, Lupinetti FM, et al 
(1993), "Usefulness of the bidirectional Glenn 
procedure as staged recon- struction for the functional 
single ventricle", Am J Cardiol, 71, pp. 959– 962. 
15. Reddy VM et al (1995), "Primary bidirectional 
superior cavopulmonary shunt in infants between 1 
and 4 months of age", Ann Thorac Surg, 59, pp. 
1120-1126. 
16. Reddy et al (1997), "Outcomes After Bidirectional 
Cavopulmonary Shunt in Infants less than 6 months 
old”, JACC Vol. 29, No. 6, pp. 1365–7130. 
17. Robert MF et al (1998), "The physiology of the 
Bidirectional Cavopulmonary Connection", Ann 
Thorac Surg, vol.66, pp. 664-667. 
18. S.Subramanian et al (1965), "Palliative surgery in 
tricuspid atresia", Circulation, Volume XXXII. 
19. Xie B (2001), "Bidirectional Glenn shunt: 170 cases", 
Asian Cardiovasc Thorac Ann, vol. 9, pp. 196-199. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_trung_han_phau_thuat_glenn_theo_hai_huong_t.pdf