Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng gân mác dài tại Bệnh viện Quân Y 121

Đặt vấn đề: phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước hiện nay vẫn là

phương pháp tối ưu nhất để điều trị đứt DCCT khớp gối, từ đó hạn chế các biến chứng

ảnh hưởng tới khớp gối.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng mảnh

ghép gân mác dài qua nội soi tại Bệnh viện Quân y 121.

Phương pháp nghiên cứu : tiến cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc.

pdf 10 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng gân mác dài tại Bệnh viện Quân Y 121", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng gân mác dài tại Bệnh viện Quân Y 121

Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng gân mác dài tại Bệnh viện Quân Y 121
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
23
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC 
KHỚP GỐI BẰNG GÂN MÁC DÀI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 121
Trần Trọng Nhân1, Phạm Hoàng Lai1, Nguyễn Tấn Phong1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước hiện nay vẫn là 
phương pháp tối ưu nhất để điều trị đứt DCCT khớp gối, từ đó hạn chế các biến chứng 
ảnh hưởng tới khớp gối. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng mảnh 
ghép gân mác dài qua nội soi tại Bệnh viện Quân y 121.
Phương pháp nghiên cứu : tiến cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc.
Kết quả: Nghiên cứu trên 61 bệnh nhân (từ 12/2014 – 03/2016) được phẫu thuật 
tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) bằng gân mác dài tại khoa Ngoại Chấn thương 
BVQY 121. Độ tuổi trung bình 31,8 ± 7,4 tuổi. Đứt DCCT đơn thuần 38 BN, rách sụn 
chêm kèm theo 23 BN. Thời gian theo dõi trung bình 10,8 tháng (3 – 18 tháng). Đánh 
giá theo thang điểm Lysholm sau phẫu thuật : rất tốt và tốt 93,44% (57/61 BN), trung 
bình 6,56% (4/61 BN).
Kết luận: gân mác dài có thể là nguồn mảnh ghép tự thân phù hợp cho phẫu 
thuật nội soi tái tạo DCCT; phương pháp này an toàn, hiệu quả cao, giúp BN phục hồi 
lại chức năng và độ vững khớp gối.
Từ khóa: tái tạo dây chằng chéo trước, gân mác dài.
EVALUATING THE RESULTS IN ARTHROSCOPIC ACL 
RECONSTRUCTION USING PERONEUS LONGUS (TENDON) 
AUTOGRAFT AT MILITARY HOSPITAL 121
SUMMARY
Background: arthroscopy reconstruct ACL remains the best method to treat 
1 Bệnh viện Quân y 121
Người phản hồi (Corresponding): Trần Trọng Nhân ([email protected])
Ngày nhận bài: 28/4/2020, ngày phản biện: 3/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
24
after ACL rupture, thereby greatly limitting complications affecting the knee joint. 
Objectives : to evaluate the results of anterior cruciate ligament (ACL) 
reconstruction using a peroneus longus tendon (PLT) autograft at 121 Military Hospital.
Patients and methods : Prospective study included 61 patients diagnosed ACL 
rupture, combination injured based on clinical signs and MRI images from Dec 2014 to 
Mar 2016.
Results : Most of patients were 20 – 50 years old (95,08%). Functional knee 
rating scale Lysholm : postoperative knee function 93,44% is good or very good; 6,56% 
is average.
Conclusion : Arthroscopic ACL reconstruction using peroneus longus tendon 
(PLT) autograft showed positive results, with very high proportion of good and very 
good outcomes, and trivial adverse effects.
Keywords : ACL reconstruction, peroneus longus
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi đứt dây chằng chéo trước 
(DCCT), phẫu thuật tái tạo lại dây chằng 
là cần thiết. Cho đến nay, mảnh ghép tự 
thân vẫn được xem là tốt nhất về phương 
diện hòa hợp mô, quá trình lành nhanh, 
không có lây nhiễm chéo và chi phí điều 
trị thấp[1][2][4][8].
Gân mác dài có khả năng trở 
thành nguồn cung cấp mảnh ghép với các 
ưu điểm như chiều dài và đường kính phù 
hợp; kỹ thuật lấy gân đơn giản; không làm 
đau vùng trước khớp gối nên có thể tập vận 
động, phục hồi chức năng khớp gối sớm, 
ít ảnh hưởng đến chức năng bàn chân, cổ 
chân[2][4].
Mục tiêu của nghiên cứu là: 
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, 
hình ảnh học của đứt DCCT khớp gối.
Đánh giá kết quả điều trị phẫu 
thuật tái tạo DCCT bằng mảnh ghép gân 
mác dài qua nội soi.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
61 bệnh nhân đứt dây chằng chéo 
trước khớp gối có hoặc không có rách sụn 
chêm kèm theo, được phẫu thuật tái tạo 
dây chằng chéo trước bằng gân mác dài 
tại Khoa Ngoại Chấn thương, Bệnh viện 
Quân y 121– QK9.
Thời gian từ tháng 12/2014 đến 
tháng 03/2016.
Không bệnh nhân nào là vận động 
viên chuyên nghiệp.
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
BN được chẩn đoán đứt dây chằng 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
25
chéo trước khớp gối có hoặc không có tổn 
thương sụn chêm kèm theo.
Tuổi ≥ 17.
BN được phẫu thuật tái tạo dây 
chằng chéo trước qua nội soi tại Khoa 
Ngoại Chấn thương, Bệnh viện Quân y 
121.
Nguyên nhân do tai nạn thể thao 
(TNTT), tai nạn giao thông( TNGT), tai 
nạn sinh hoạt (TNSH), và các nguyên nhân 
chấn thương khác.
Tiêu chuẩn loại trừ 
Có gãy lồi cầu xương đùi, gãy 
mâm chày.
Thoái hóa khớp gối độ 3, độ 4.
Tổn thương dây chằng bên, dây 
chằng chéo sau kèm theo.
Những BN mắc các bệnh lý nội 
khoa có chống chỉ định phẫu thuật.
Những BN không đồng ý tham gia 
nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu 
Tiến cứu mô tả cắt ngang, theo 
dõi dọc.
Cỡ mẫu và phương pháp 
chọn mẫu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức
n = Z2
1-α/2
.p(1-p)/d2
Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt 
Trung (2010), “Đánh giá kết quả bước đầu 
phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo 
trước khớp gối tại khoa chấn thương chỉnh 
hình bệnh viện Nhân dân Gia Định” ghi 
nhận tỷ lệ bệnh nhân được đánh giá kết 
quả rất tốt và tốt đạt 87,5% .
Từ đó tính ra cỡ mẫu n = 46,53 . 
Do đó chúng tôi chọn cỡ mẫu n > 46.
Phương pháp chọn mẫu : chọn 
mẫu thuận tiện.
Thực tế cỡ mẫu trong nghiên cứu 
là n = 61. 
2.3. Nội dung nghiên cứu
* Chẩn đoán đứt DCCT dựa vào 
các triệu chứng lâm sàng, đánh giá theo 
thang điểm Lysholm trước phẫu thuật; kết 
hợp với các nghiệm pháp lâm sàng dương 
tính như Test Lachman, Test ngăn kéo 
trước, Test Pivot shift.[9]
- Test Lachman: bệnh nhân nằm 
ngửa, thả lỏng toàn thân, gối gấp 300. 
Người khám một tay giữ xương chày với 
ngón cái đặt ở khe khớp, tay kia giữ lấy 
đùi bệnh nhân trên xương bánh chè vài 
cm. Tay giữ xương chày đẩy xương chày 
ra trước. Mức độ di lệch được so sánh với 
bên lành và chia ra:
Độ 1 (tốt): mâm chày di lệch ra 
trước < 3mm (âm tính).
Độ 2 (khá): mâm chày di lệch 
3-5mm.
Độ 3 (trung bình): mâm chày di 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
26
lệch 6-10mm.
Độ 4 (xấu): mâm chày di lệch trên 
10mm.
- Test ngăn kéo trước : người bệnh 
nằm ngửa, gối gấp 900, thả lỏng toàn thân. 
Người khám ngồi đè lên một phần bàn 
chân của người bệnh, hai bàn tay ôm lấy 
đầu trên xương chày, ngón trỏ kiểm tra các 
cơ Hamstring thả lỏng hay chưa, sau đó 
kéo mạnh đầu trên xương chày ra trước. 
Hai ngón cái đặt ở khe khớp để cảm nhận 
sự di lệch mâm chày ra trước. Mức độ di 
lệch ra trước của mâm chày được so sánh 
với gối bên lành và chia ra 4 mức độ tương 
tự test Lachman.
Độ 1 (tốt): mâm chày di lệch ra 
trước < 3mm (âm tính).
Độ 2 (khá): mâm chày di lệch 
3-5mm.
Độ 3 (trung bình): mâm chày di 
lệch 6-10mm.
Độ 4 (xấu): mâm chày di lệch trên 
10mm.
- Test Pivot Shift: người bệnh nằm 
ngửa, thả lỏng toàn thân, người khám đứng 
cùng bên. Một tay người khám giữ lấy bàn 
chân người bệnh xoay vào trong, tay kia 
đặt ở mặt ngoài gối đẩy gối vẹo ngoài, sau 
đó gấp gối từ từ. Mâm chày ngoài sẽ bán 
trật ra trước và trở lại vị trí bình thường khi 
gấp gối 300 cùng với sự va chạm hai đầu 
xương mà người bệnh cảm nhận được. Kết 
quả bao gồm 4 mức độ.
Độ 1: âm tính
Độ 2: trượt nhẹ
Độ 3: rõ sự va chạm của 2 đầu 
xương
Độ 4: rất rõ sự trật mâm chày, 
tiếng kêu rõ
* Hình ảnh MRI có tổn thương 
DCCT, rách sụn chêm.
Quá trình phẫu thuật
Vô cảm bằng gây tê tủy sống, 
bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp 900.
Dọn sạch 2 đầu dây chằng chéo 
trước bị đứt bằng lưỡi bào Shaver và dụng 
cụ cắt đốt nội soi Athrocare.
Xử trí các tổn thương phối hợp 
(cắt sụn chêm nếu có rách sụn chêm kèm 
theo bằng kìm cắt sụn chêm). Bơm rửa 
khớp gối.
Rạch da mặt sau ngoài cẳng chân, 
khoảng 2cm phía trên mắt cá ngoài. Gân 
mác dài nằm ngay dưới da. Dùng kéo bóc 
tách mô dưới da và rạch mở bao gân dọc 
theo trục xương mác khoảng 4cm. 
Cắt gân đoạn trên mắt cá ngoài 
khoảng 2cm. Khâu cột đầu gân để làm chỗ 
kéo gân. Bóc tách sau đó lấy gân bằng cách 
đưa dụng cụ lấy gân (tendon harvester) dọc 
theo trục xương mác và hướng về chỏm 
xương mác trong lúc vẫn kéo giữ đầu gân 
đã khâu cột làm đối trọng. Gân được chập 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
27
đôi, chuẩn bị làm mảnh ghép. 
Khoan đường hầm chày (từ ngoài 
vào – outside in) - đùi (từ trong ra – inside 
out) theo đường kính gân đã xác định.
Mảnh ghép được cố định vào lồi 
cầu ngoài xương đùi bằng vít treo XO-
button và cố định vào mâm chày bằng vít 
sinh học tự tiêu X-tralok khi mảnh ghép 
được kéo căng với lực 6kg trong tư thế gối 
gấp 300.
Kiểm tra độ vững của khớp gối 
bằng dấu hiệu Lachman.
Tháo ga – rô. Đặt dẫn lưu kín hút 
áp lực âm. Khâu đóng vết mổ.
Theo dõi đề phòng các biến chứng 
sớm sau phẫu thuật như viêm dò tại vị trí 
lấy gân, tụ máu khớp gối, nhiễm trùng 
khớp gối.
Hướng dẫn và giúp bệnh nhân tập 
vận động phục hồi chức năng sau phẫu 
thuật theo 5 giai đoạn của Prentice.
Theo dõi di chứng của vùng lấy 
mảnh ghép (nếu có) như đau, dị cảm vùng 
lấy gân, những ảnh hưởng đến chức năng 
cổ chân và bàn chân.
Đánh giá độ vững khớp gối bằng 
các nghiệm pháp lâm sàng như dấu hiệu 
Lachman, dấu hiệu ngăn kéo trước, dấu 
hiệu Pivot shift.
Đánh giá chức năng vận động 
khớp gối bằng thang điểm Lysholm sau 
phẫu thuật thời điểm 3,6,9,12 tháng. 
Rất tốt: Từ 95 - 100 điểm
Tốt : Từ 84 - 94 điểm
Trung bình: Từ 65 - 83 điểm
Xấu: Dưới 65 điểm
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm lâm sàng, hình 
ảnh học
 Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 
từ 20-50 tuổi (95,08%). BN nam (90,16%) 
cao hơn BN nữ (9,84%). Với nguyên nhân 
do TNTT chiếm vị trí hàng đầu 44,26% ; 
tiếp theo là TNGT 29,51%; TNSH 19,67%; 
TNLĐ 6,56%; TNLT 6,56%.
Những triệu chứng lâm sàng 
thường gặp là lỏng gối, sụm chân (93,44%); 
khó khăn khi lên xuống cầu thang (91,8%); 
đau khớp khi đi lại (44,26%).
Những nghiệm pháp lâm sàng rất 
có giá trị để chẩn đoán trước phẫu thuật 
gồm dấu hiệu Lachman, dấu hiệu ngăn kéo 
trước và dấu hiệu Pivot Shift với độ nhạy 
lần lượt là 100%; 95,08% và 88,52% 
MRI chẩn đoán đứt DCCT chính 
xác đến 100% so với khi nội soi vào khớp 
gối; rách sụn chêm ghi nhận 19 trường hợp 
(31,15%) trên MRI, khi nội soi vào khớp 
là 23 trường hợp (37,7%). Cho thấy MRI 
có độ nhạy và độ đặc hiệu cao; cho kết quả 
chính xác hơn trong chẩn đoán đứt DCCT 
so với rách sụn chêm.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
28
3.2. Đặc điểm lâm sàng mảnh ghép và di chứng sau lấy mảnh ghép 
3.2.1. Chiều dài mảnh ghép 
Bảng 3.1. Chiều dài mảnh ghép (n = 61)
Chiều dài 9cm 10cm 11cm 12 cm Tổng
Số lượng BN 7 26 23 5 61
Tỷ lệ % 11,48% 42,62% 37,7% 8,2% 100%
Sau khi lấy được gân mác dài, chúng tôi cắt lọc phần cơ bám vào gân, lấy bỏ 
đoạn gân không đạt tiêu chuẩn, chập đôi gân.
Chiều dài mảnh ghép gân mác dài lấy được trung bình là 10,46cm; trong đó 
mảnh ghép có chiều dài 10cm – 11cm chiếm tỷ lệ 80,32%.
3.2.2. Đường kính mảnh ghép
Bảng 3.2. Đường kính mảnh ghép (n = 61)
Đường kính 
(mm) 7.0 7.5 8.0 8.5 9.0 Tổng
BN 10 13 18 13 7 61
Tỷ lệ % 16,39% 21,31% 29,51% 21,31% 11,48% 100%
 Đường kính mảnh ghép được đo khi đã chập đôi gân và xác định đường kính 
đoạn lớn nhất.
Đường kính đo được trung bình là 7,95mm; trong đó tỷ lệ cao nhất là mảnh ghép 
có đường kính 8.0mm (29,51%), tiếp đến là mảnh ghép 7.5 mm (21,31%) và mảnh ghép 
8.5 mm (21,31%).
3.2.3. Di chứng sau lấy mảnh ghép 
Bảng 3.3. Di chứng sau lấy mảnh ghép (n = 61)
Di chứng sau lấy mảnh ghép Số lượng Tỷ lệ %
Đau vùng lấy gân 7 11,48%
Dị cảm da vùng lấy gân 0 0%
Ảnh hưởng vùng 
cổ chân và bàn chân 0 0%
Không di chứng 54 88,52%
Tổng 61 100%
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
29
Tất cả 61 bệnh nhân trong nhóm 
nghiên cứu đều được theo dõi di chứng sau 
phẫu thuật tại vùng lấy mảnh ghép, đau tại 
vùng lấy gân dai dẳng xuất hiện ở 7 bệnh 
nhân (11,48%) tuy nhiên giảm dần và hết 
hẳn sau 1-2 tháng sau phẫu thuật.
Không bệnh nhân nào xuất hiện dị 
cảm da vùng lấy gân, không ghi nhận bệnh 
nhân nào có ảnh hưởng về chức năng cổ 
chân – bàn chân bên lấy mảnh ghép sau 
phẫu thuật.
3.3. Đánh giá chức năng khớp gối sau phẫu thuật
Dấu hiệu Lachman
Bảng 3.4. Dấu hiệu Lachman trước và sau phẫu thuật (n = 61)
Lachman Độ 1 (tốt) Độ 2 (khá) Độ 3 (TB) Độ 4 (xấu) Tổng
Trước 
PT
BN 0 0 39 22 61
Tỷ lệ % 0% 0% 63,94% 36,08% 100%
Sau
PT
BN 45 13 3 0 61
Tỷ lệ % 73,77% 21,31% 4,92% 0% 100%
Dấu hiệu ngăn kéo trước
Bảng 3.5. Dấu hiệu ngăn kéo trước trước và sau phẫu thuật (n = 61)
Ngăn kéo trước Độ 1 (tốt) Độ 2 (khá) Độ 3 (TB) Độ 4 (xấu) Tổng
Trước 
PT
BN 3 5 31 22 61
Tỷ lệ % 4,92% 8,2% 50,82% 36,06% 100%
Sau
PT
BN 47 11 3 0 61
Tỷ lệ % 77,05% 18,03% 4,92% 0% 100%
Dấu hiệu Pivot Shift
Bảng 3.6. Dấu hiệu Pivot Shift trước và sau phẫu thuật (n = 61)
Pivot Shift Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4 Tổng
Trước
PT
BN 8 0 36 17 61
Tỷ lệ % 13,11% 0% 59,02% 27,87% 100%
Sau
PT
BN 56 5 0 0 61
Tỷ lệ % 91,8% 8,2% 0% 0% 100%
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
30
So với trước phẫu thuật, sau phẫu thuật nhóm BN nghiên cứu có các dấu hiệu 
Lachman, dấu hiệu Ngăn kéo trước và dấu hiệu Pivot Shift đều có sự cải thiện đáng kể.
Thang điểm Lysholm
Bảng 3.7. Điểm Lysholm sau phẫu thuật (n = 61)
 Điểm
 Lysholm 
Thời gian
Rất tốt Tốt Trung bình Xấu Tổng
3 tháng 3 3 1 0 7
6 tháng 10 4 1 0 15
9 tháng 4 2 0 0 6
12 tháng 4 2 1 0 7
> 12 tháng 20 5 1 0 26
Tổng 41 16 4 0 61
Tỷ lệ % 67,21% 26,23% 6,56% 0% 100%
Số lượng bệnh nhân đạt rất tốt là 
41 bệnh nhân (67,21%) và tốt là 16 bệnh 
nhân (26,23%), đạt trung bình là 4 bệnh 
nhân (6,56%), không có bệnh nhân nào đạt 
kết quả xấu (dưới 65 điểm).
Điểm Lysholm trung bình sau 
phẫu thuật của nhóm bệnh nhân nghiên 
cứu là 94,2 (cao nhất là 100 điểm thấp nhất 
là 70 điểm) so với điểm Lysholm trước 
phẫu thuật là 53,1 (cao nhất là 85 điểm, 
thấp nhất là 16 điểm). Sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê (p < 0,001).
3.4. Biến chứng
Ghi nhận biến chứng sớm tụ máu 
khớp gối ở 4 BN (6,56%) 
Biến chứng muộn có 3 BN (4,92%) 
đau khớp chè đùi khi vận động nặng.
4. BÀN LUẬN
4.1. Kết quả phẫu thuật
Dấu hiệu Lachman và dấu hiệu 
ngăn kéo trước là hai nghiệm pháp nhằm 
xác định độ di lệch của mâm chày ra trước 
so với lồi cầu đùi hay độ trượt mất vững 
của khớp gối. Có sự cải thiện rõ rệt trước 
và sau phẫu thuật của hai nghiệm pháp này 
với tỷ lệ vững khớp gối chung (tốt và khá) 
của dấu hiệu Lachman và dấu hiệu ngăn 
kéo trước là 95,08%.
Tỷ lệ vững gối sau phẫu thuật của 
nghiên cứu chúng tôi cao hơn hoặc thấp 
hơn các tác giả khác có thể là do tỷ lệ cắt 
sụn chêm rách khi tái tạo DCCT. Bởi khi 
sụn chêm rách bị cắt tỉa cũng góp phần gây 
mất vững gối sau phẫu thuật.[1][3][5] 
Có sự cải thiện đáng kể triệu 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
31
chứng trật xoay của khớp gối trước và sau 
phẫu thuật với dấu hiệu Pivot shift (-) ở 56 
BN (91,8%). 
Điểm Lysholm nhóm BN nghiên 
cứu có sự cải thiện rõ rệt với sau phẫu thuật 
là 94,2 (cao nhất là 100 điểm thấp nhất là 
70 điểm) so với điểm Lysholm trước phẫu 
thuật là 53,1 (cao nhất là 85 điểm, thấp 
nhất là 18 điểm). Sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê (p < 0,001). Trong đó, số lượng 
BN đạt rất tốt và tốt là 57 BN (chiếm tỷ lệ 
93,44%), đạt trung bình là 4 BN (chiếm tỷ 
lệ 6,56%), không có BN nào đạt kết quả 
xấu (dưới 65 điểm). Không có sự khác biệt 
đáng kể với kết quả các tác giả trong nước 
sử dụng gân bánh chè hay gân cơ thon – 
bán gân làm mảnh ghép.[1][5][6][7] 
4.2. Lựa chọn mảnh ghép
Trong tái tạo DCCT, lựa chọn 
mảnh ghép giữ một vai trò quan trọng. 
Mảnh ghép lý tưởng cần đạt được những 
yêu cầu như kích thước đủ dài, đủ lớn; 
khả năng chịu lực tốt; có thể hòa hợp mô 
nhanh; kỹ thuật lấy gân không quá phức 
tạp; di chứng hay ảnh hưởng chức năng 
vùng lấy mảnh ghép không đáng kể. Mảnh 
ghép tự thân vẫn được xem là ưu tiên lựa 
chọn hiện nay, phổ biến gồm gân xương 
bánh chè, gân cơ thon – bán gân, gân tứ 
đầu đùi, gân gót, hoặc kết hợp gân cơ thon 
– bán gân và gân mác dài làm mảnh ghép. 
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều lựa chọn vẫn 
chưa có sự đồng thuận cao rằng mảnh ghép 
nào là tối ưu nhất.[7][8]
Trong khi đó, yêu cầu về mảnh 
ghép ngày càng được đề cập nhiều, đáng 
chú ý nhất là tái tạo lại lần hai. Hay phẫu 
thuật phải tái tạo cùng lúc nhiều dây chằng, 
mảnh ghép khi lấy không sử dụng được 
(do không đảm bảo về kích thước hoặc lấy 
không trọn chiều dài).[8] 
Gân mác dài từ lâu đã được xem 
là một nguồn mảnh ghép tự thân có giá trị, 
được sử dụng để tái tạo dây chằng bên cổ 
chân. Gần đây, một số tác giả đã sử dụng 
gân mác dài làm mảnh ghép trong phẫu 
thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước, 
bước đầu đạt kết quả khả quan.[2][4][5][6]
Gân mác dài được cho có khả 
năng trở thành nguồn cung cấp mảnh ghép 
với các ưu điểm là chiều dài và đường kính 
đều lớn hơn, chịu lực tốt hơn gân cơ thon 
- bán gân; kỹ thuật lấy gân đơn giản vì gân 
mác dài không có các trẽ cân; cũng không 
làm đau vùng trước khớp gối như lấy gân 
bánh chè nên có thể tập vận động, phục 
hồi chức năng khớp gối sớm. Lấy gân mác 
dài làm mảnh ghép hầu như chỉ ảnh hưởng 
ít đến chức năng bàn chân, cổ chân trong 
thời gian ngắn.[2][4][6]
5. KẾT LUẬN
Phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT 
bằng mảnh ghép gân mác dài là phương 
pháp an toàn, hiệu quả cao giúp hồi phục 
lại chức năng và độ vững khớp gối.
Chúng tôi cho rằng gân mác dài 
có thể là nguồn mảnh ghép tự thân phù 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
32
hợp cho phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT. 
Nhưng chưa thể được coi là lựa chọn hàng 
đầu do còn một số tranh cãi về ảnh hưởng 
chức năng khớp cổ chân sau đó. Tuy nhiên, 
trong trường hợp chấn thương khớp gối 
nặng với tổn thương nhiều dây chằng cùng 
lúc hoặc chấn thương đứt lại dây chằng 
sau khi đã được phẫu thuật tái tạo thì gân 
mác dài là một lựa chọn vô cùng có giá trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Hoàng Anh (2009), 
Nghiên cứu điều trị đứt dây chằng chéo 
trước khớp gối bằng phẫu thuật nội soi sử 
dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon, Luận 
án tiến sĩ y học, Học viện Quân y.
2. Đỗ Phước Hùng (2008), 
“Gân cơ mác dài : một chọn lựa thay thế 
mảnh ghép trong tái tạo dây chằng chéo 
trước khớp gối”, Tạp chí y học thành phố 
Hồ Chí Minh, 12(1), tr. 1-4.
3. Trương Trí Hữu (2009), Tái 
tạo đứt dây chằng chéo trước kèm rách sụn 
chêm do chấn thương thể thao qua nội soi, 
Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y 
Dược Tp.Hồ Chí Minh.
4. Phạm Quang Vinh (2015), 
“Cơ sinh học và áp dụng lâm sàng gân mác 
dài tái tạo dây chằng chéo trước”, Tạp chí 
Y học thực hành, (12), tr. 59-62.
5. Angthong Chayanin 
(2015), “The Anterior Cruciate Ligament 
Reconstruction with the Peroneus Longus 
Tendon: A Biomechanical and Clinical 
Evaluation of the Donor Ankle Morbidity”, 
J Med Assoc Thai 2015, 98(6), pp. 555-
560.
6. Kerimoglu Servet, Aynaci 
Osman, Saracoğlu Metehan (2008), 
“Anterior cruciate ligament reconstruction 
with the peroneus longus tendon”, Acta 
Orthop Traumatol Turc, 42(1), pp. 38-43.
7. Liu Chung-Ting, Lu 
Yung-Chang, Huang Chang-Hung (2015), 
“Half peroneus longus tendon graft 
augmentation for unqualified hamstring 
tendon graft of anterior cruciate ligament 
reconstruction”, J Orthop Sci, 20, pp. 854-
860 .
8. Marx Robert G. (2014), Graft 
selection for revision ACL reconstruction, 
Revision ACL Reconstruction: Indications 
and Technique, Springer, pp. 75-86.
9. Slocum Donald B., James 
Stanley L., Larson Robert L., Singer 
Kenneth M. (1976), “Clinical Test for 
anterolateral Rotary Instability of Knee”, 
Clinical Orthopaedics and Relates 
Research, N 118, pp. 63-69.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_tai_tao_day_chang_cheo_truoc_khop_goi_bang.pdf