Đánh giá kết quả sử dụng vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng sinh non tại Bệnh viện Trung ương Huế

Tổng quan: Sinh non là nguyên nhân chính gây tử vong sơ sinh và

thương tật ở trẻ đẻ non còn sống. Chiều dài cổ tử cung ngắn liên quan

chặt chẽ với tỉ lệ sinh non và sinh cực non. Các can thiệp là cần thiết để dự

phòng đẻ non ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao. Dụng cụ tử cung được

nhiều nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng chứng minh là có hiệu

quả. Mục tiêu của nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của dụng cụ nâng cổ

tử cung trong việc dự phòng sinh non ở các thai phụ có cổ tử cung ngắn.

Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu mô tả. Các sản phụ song thai hoặc đơn

thai có tiền sử đẻ non/ sẩy thai muộn được siêu âm đo độ dài cổ tử cung

ở tuổi thai 18-22 tuần. Nếu cổ tử cung ngắn dưới 25 mm được tư vấn đặt

dụng cụ nâng cổ tử cung. Theo dõi thai kỳ cho đến khi em bé sinh ra đời.

Kết cục chính gồm tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần. Kết cục phụ gồm tỉ lệ trẻ đẻ

non dưới 28 tuần, dưới 37 tuần, tỉ lệ tử vong sơ sinh, tỉ lệ trẻ nhẹ cân dưới

2500 gr. So sánh kết cục thai kỳ giữa nhóm thai kỳ đơn thai và đa thai.

Kết quả: Có 26 phụ nữ , trong đó có 13 thai kỳ đơn thai và 13 thai kỳ

song thai được đưa vào nghiên cứu. Tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần là 4%, tỉ lệ

tử vong sơ sinh là 5,3%, tỉ lệ trẻ rất nhẹ cân (<1500 gr)="" là="" 5,3%.="" tuổi="">

lúc sinh của nhóm song thai là 36,6 ± 2,7 tuần, thấp hơn có ý nghĩa so với

nhóm đơn thai có tiền sử đẻ non với tuổi thai trung bình là 38,8 ± 0,9, với p

<0,05. cân="" nặng="" trung="" bình="" của="" trẻ="" sinh="" ra="" là="" 2715,79="" ±="" 500,01="" gr,="" ở="">

song thai là 2526,92 ± 474,60 gr, thấp hơn rất nhiều so với nhóm đơn thai

là 3125,00 ± 249,09 gr. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<>

Kết luận: Dụng cụ nâng vòng tử cung là một biện pháp an toàn, đáng

tin cậy, giá cả phải chăng và có thể thay thế các thủ thuật khác trong

việc dự phòng đẻ non ở nhóm đối tượng lựa chọn kỹ.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả sử dụng vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng sinh non tại Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả sử dụng vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng sinh non tại Bệnh viện Trung ương Huế

Đánh giá kết quả sử dụng vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng sinh non tại Bệnh viện Trung ương Huế
PHAN CẢNH QUANG THÔNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, LÊ SỸ PHƯƠNG, CAO THỊ THÙY NHUNG, ĐINH THỊ PHƯƠNG MINH
48
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Phan Cảnh Quang Thông, Lê Viết Nguyên Sa, Lê Sỹ Phương, Cao Thị Thùy Nhung, Đinh Thị Phương Minh 
Bệnh viện Trung ương Huế
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỬ DỤNG
VÒNG NÂNG CỔ TỬ CUNG TRONG DỰ PHÒNG SINH NON
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Cảnh Quang Thông, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Tổng quan: Sinh non là nguyên nhân chính gây tử vong sơ sinh và 
thương tật ở trẻ đẻ non còn sống. Chiều dài cổ tử cung ngắn liên quan 
chặt chẽ với tỉ lệ sinh non và sinh cực non. Các can thiệp là cần thiết để dự 
phòng đẻ non ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao. Dụng cụ tử cung được 
nhiều nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng chứng minh là có hiệu 
quả. Mục tiêu của nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của dụng cụ nâng cổ 
tử cung trong việc dự phòng sinh non ở các thai phụ có cổ tử cung ngắn. 
Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu mô tả. Các sản phụ song thai hoặc đơn 
thai có tiền sử đẻ non/ sẩy thai muộn được siêu âm đo độ dài cổ tử cung 
ở tuổi thai 18-22 tuần. Nếu cổ tử cung ngắn dưới 25 mm được tư vấn đặt 
dụng cụ nâng cổ tử cung. Theo dõi thai kỳ cho đến khi em bé sinh ra đời. 
Kết cục chính gồm tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần. Kết cục phụ gồm tỉ lệ trẻ đẻ 
non dưới 28 tuần, dưới 37 tuần, tỉ lệ tử vong sơ sinh, tỉ lệ trẻ nhẹ cân dưới 
2500 gr. So sánh kết cục thai kỳ giữa nhóm thai kỳ đơn thai và đa thai. 
Kết quả: Có 26 phụ nữ , trong đó có 13 thai kỳ đơn thai và 13 thai kỳ 
song thai được đưa vào nghiên cứu. Tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần là 4%, tỉ lệ 
tử vong sơ sinh là 5,3%, tỉ lệ trẻ rất nhẹ cân (<1500 gr) là 5,3%. Tuổi thai 
lúc sinh của nhóm song thai là 36,6 ± 2,7 tuần, thấp hơn có ý nghĩa so với 
nhóm đơn thai có tiền sử đẻ non với tuổi thai trung bình là 38,8 ± 0,9, với p 
<0,05. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra là 2715,79 ± 500,01 gr, ở nhóm 
song thai là 2526,92 ± 474,60 gr, thấp hơn rất nhiều so với nhóm đơn thai 
là 3125,00 ± 249,09 gr. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. 
Kết luận: Dụng cụ nâng vòng tử cung là một biện pháp an toàn, đáng 
tin cậy, giá cả phải chăng và có thể thay thế các thủ thuật khác trong 
việc dự phòng đẻ non ở nhóm đối tượng lựa chọn kỹ.
Abstract 
EVALUATING EFFECT OF CERVICAL PESSARY 
FOR PREVENTING PRETERM BIRTH AT HUE 
CETRAL HOSPITAL
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 48 - 53, 2017
49
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Background: Preterm birth is the leading cause of neonatal death and handicap in survivors. A short 
cervix is associated with early and very early preterm birth. Interventions to prevent preterm birth are 
needed in this high-risk population. Some RCTs showed that cervical pessary would be reduce preterm 
birth. The objective of this study was to evaluate effect of cervical pessary for preventing preterm birth. 
Study design: a prospective descriptive study. Women with singleton or twin pregnancies who have 
antecedents of preterm birth or/and late miscarriage were undergoing transvaginal ultrasonographic 
Cervical length at 18-22 weeks of gestation. Women with CL ≤ 25 mm were given the option of 
placement of the cervical pessary. These pregnancies were followed up until delivery. Primary 
outcome was spontaneous birth <34 weeks. Secondary outcomes included the rate of preterm birth 
<28 weeks, <37 weeks, neonatal death, percentage of birthweight <1500gr. 
Results: A total of 26 women, in which 13 had singleton and 13 had twin pregnancies were taken 
part in the study. The rate of birth at <34 weeks was 4%, the rate of birthweight <1500gr was 5.3%. 
Mean of gestational age at delivery and mean birthweight in twin pregnancies group was significantly 
lower than which one in singleton pregnancies, respectively 36.6 ± 2.7 weekes vs 38.8 ± 0.9; and 
2715.79 ± 500,01 gr vs 2526.92 ± 474.60 gr, p <0.05. 
Conclusion: The pessary is an affordable, is a safe and may be a reliable alternative for prevention 
spontaneous preterm birth in a high risk population.
1. Giới thiệu
Sinh non chịu trách nhiệm cho hơn 70% trường 
hợp tử vong sơ sinh và trẻ nhỏ [1]. Thêm vào đó, 
so sánh với những trẻ sơ sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh 
đẻ non có nguy cơ tổn thương não bộ cao gấp 10 
lần [2]. Sinh đôi chiếm tỉ lệ 1,5% các thai kỳ, chiếm 
25% các trường hợp đẻ non [1]. Tỉ lệ song thai gia 
tăng theo thời gian, từ 1,98% trong những năm 
1980 đến 3,31% vào năm 2012 [3]. Một nguyên 
nhân làm gia tăng tỉ lệ song thai là sự phát triển 
của lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. 
Nguy cơ gia tăng tỉ lệ các biến chứng xấu trên 
các thai kỳ song thai thường liên quan đến sinh 
non, tỉ lệ sinh non ở nhóm song thai này cao gấp 
5-6 lần so với các thai kỳ bình thường [4]. Ngoài 
ra, có mối liên hệ chặt chẽ giữa chiều dài cổ tử 
cung ngắn (< 25mm) với sinh non và sinh cực non 
ở những thai kỳ song thai. 15% phụ nữ song thai 
có cổ tử cung ≤ 25mm [5], [6]. Đo lường chiều dài 
cổ tử cung trở thành phương pháp được chọn lựa 
để sàng lọc nguy cơ sinh non <24 tuần mà không 
có triệu chứng trên cả nhóm phụ nữ mang song thai 
hoặc đơn thai, dựa trên các nghiên cứu phân tích 
tổng hợp và các bài tổng quan hệ thống [7]. 
Các lựa chọn hiện nay trong quản lý bệnh nhân 
có cổ tử cung ngắn bao gồm: progesterone vi hạt 
đặt âm đạo, khâu eo cổ tử cung và đặt dụng cụ 
nâng cổ tử cung [8]. Một tổng quan hệ thống và 
phân tích tổng hợp chỉ ra rằng progesterone vi hạt 
đặt âm đạo làm giảm tỉ lệ đẻ non không có ý nghĩa 
thống kê ở các thai kỳ song thai tới 30%, tuy nhiên, 
giảm tỉ lệ bệnh tật sơ sinh ở trẻ được quan sát [9]. 
Khâu eo cổ tử cung được báo cáo làm tăng tỉ lệ kết 
cục xấu ở các thai kỳ song thai [10]. Dụng cụ nâng 
cổ tử cung để hỗ trợ cổ tử cung trên những phụ nữ 
có thai với cổ tử cung ngắn được giới thiệu lần đầu 
vào những năm 1960. Phương pháp này dùng một 
vòng bằng silicon đi qua đường âm đạo áp vào 
cổ tử cung để hỗ trợ cổ tử cung và thay đổi hướng 
của cổ tử cung hướng nhiều về phía xương cùng 
do đó sẽ làm giảm áp lực trực tiếp từ tử cung và 
các thành phần của nó lên kênh cổ tử cung [11]. 2 
nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 
đối tượng các thai kỳ đơn thai có chiều dài cổ tử 
PHAN CẢNH QUANG THÔNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, LÊ SỸ PHƯƠNG, CAO THỊ THÙY NHUNG, ĐINH THỊ PHƯƠNG MINH
50
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
cung ngắn cho kết quả ngược lại về hiệu quả của 
dụng cụ nâng cổ tử cung trên tỉ lệ sinh non tự nhiên 
dưới 34 tuần. Trong một nghiên cứu, dụng cụ này 
làm giảm tỉ lệ sinh non từ 27 còn 6% [12], nhưng ở 
một nghiên cứu thứ hai trên 108 thai kỳ thì không 
có khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm có và không 
có sử dụng dụng cụ nâng vòng tử cung (5,5 vs 
9,4%) [13]. Một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên 
có đối chứng trên 813 thai kỳ đa thai không được 
lựa chọn trước cho thấy rằng dụng cụ nâng cổ tử 
cung không làm giảm có ý nghĩa tỉ lệ trẻ sinh non 
dưới 32 tuần (12 so với 10%). Tuy nhiên, một phân 
tích dưới nhóm trên 133 bệnh nhân có cổ tử cung 
ngắn dưới 38 mm trong cùng nghiên cứu này khi 
sử dụng dụng cụ nâng cổ tử cung thì làm giảm tỉ lệ 
sinh non dưới 32 tuần (29% vs 14%) [14].
Hiện nay ở Việt Nam còn rất ít nghiên cứu thực 
hiện về dụng cụ nâng cổ tử cung trên đối tượng phụ 
nữ có thai có chiều dài cổ tử cung ngắn. Mục đích 
của nghiên cứu của chúng tôi là để đánh giá hiệu 
quả của dụng cụ nâng cổ tử cung trong dự phòng 
đẻ non ở các thai kỳ song thai hoặc đơn thai có tiền 
sử đẻ non hoặc sẩy thai muộn có cổ tử cung ngắn 
ở quý 2 thai kỳ.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu thực hiện tại khoa Hỗ 
trợ sinh sản- Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 
06/2015 đến 07/2017. Các sản phụ mang song 
thai hoặc đơn thai có tiền sử đẻ non hoặc sẩy thai 
muộn có kèm theo chiều dài cổ tử cung ngắn vào thời 
điểm 18-22 tuần khi siêu âm đầu dò âm đạo được 
đưa vào nhóm nghiên cứu. Chiều dài cổ tử cung 
được đo theo tiêu chuẩn của FMF (Fetal Medecine 
Foundation) [15]. Mặc dù có sự biến thiên lớn của 
tuổi thai tại thời điểm đo cổ tử cung, điểm cắt của 
chiều dài cổ tử cung, và định nghĩa đẻ non tùy theo 
mỗi quốc gia, đo chiều dài cổ tử cung ngắn tại thời 
điểm quý II thai kỳ là một yếu tố tiên lượng mạnh về 
khả năng đẻ non ở những phụ nữ đa thai [16]. Các 
sản phụ có chiều dài cổ tử cung ngắn hơn 25 mm 
được tư vấn đặt dụng cụ nâng cổ tử cung. 
Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các bất thường thai 
nhi nặng, các cơn co tử cung đau và thường xuyên, 
chảy máu âm đạo hoạt động, vỡ ối, rau tiền đạo 
và tiền sử sinh thiết hoặc khâu eo cổ tử cung tại 
chỗ. Tuổi thai được xác định dựa theo ngày đầu kỳ 
kinh cuối và khẳng định lại bằng siêu âm đo chiều 
dài đầu mông ở quý I thai kỳ.
Khi xác định bệnh nhân có dấu hiệu cổ tử cung 
ngắn trên siêu âm, bệnh nhân được tư vấn đặt 
dụng cụ nâng cổ tử cung. Trong trường hợp bệnh 
nhân đồng ý, khám phụ khoa được thực hiện để 
loại trừ nhiễm trùng cổ tử cung, âm đạo. Đặt mỏ 
vịt để xem cổ tử cung có mở hoặc nhìn thấy màng 
ối. Dụng cụ tử cung được đặt khi xác định bệnh 
nhân không có nhiễm khuẩn. Kiểm tra vị trí dụng 
cụ tử cung bằng siêu âm và đo lại chiều dài cổ 
tử cung. Kháng sinh dự phòng được sử dụng sau 
thủ thuật.
Theo dõi thai kỳ mỗi 1 tháng sau thủ thuật 
cho đến khi sinh. Siêu âm sản khoa theo dõi thai 
kèm theo siêu âm đầu dò âm đạo đo chiều dài 
cổ tử cung.
Dụng cụ nâng cổ tử cung được tháo ra khi thai 
kỳ được 37 tuần. Chỉ định tháo dụng cụ nâng cổ 
tử cung trước 37 tuần bao gồm: chảy máu âm đạo 
hoạt động, sinh non khó tránh với cơn go tử cung 
tồn tại dai dẳng (>5 cơn go trên 30 phút không cắt 
được bằng thuốc giảm go), hoặc bệnh nhân thấy 
khó chịu quá mức với dụng cụ tử cung không chịu 
đựng được.
Kết cục chính bao gồm trẻ đẻ non trước 34 tuần. 
Các kết cục phụ gồm: cân nặng lúc sinh, tỉ lệ bệnh 
tật (suy hô hấp, bệnh lý mắt trẻ đẻ non, cần chăm 
sóc sơ sinh đặc biệt), đẻ non trước 28 tuần, đẻ non 
trước 37 tuần, vỡ ối non trước 34 tuần, nhập viện 
vì dọa đẻ non trước 34 tuần. 
Xử lý số liệu bằng SPSS 15.0. So sánh các giá 
trị trung bình bằng t test. Kết quả có ý nghĩa thống 
kê nếu p <0.05.
3. Kết quả
Trong 2 năm, chúng tôi ghi nhận được 13 
trường hợp song thai và 13 trường hợp đơn thai có 
tiền sử đẻ non và hoặc sẩy thai muộn có cổ tử cung 
ngắn dưới 25 mm. Đặc điểm bệnh nhân và kết cục 
thai kỳ thể thiện ở bảng 1. Tuổi trung bình chung 
của bệnh nhân là 30,5 ± 5,4 tuổi. Chiều dài cổ tử 
cung trung bình là 22,6 ± 2,5 mm. Tuổi thai trung 
bình thực hiện thủ thuật là 19,5 ± 1,4 tuần.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 48 - 53, 2017
51
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tuổi bệnh nhân 30,5 ± 5,4
Tiền sử sản khoa
Lần đầu mang thai 38,4 %
Đã mang thai trước đó
Đẻ non trước 34 tuần
Đẻ non từ 34-36 tuần
Đẻ đủ tháng
61,6%
34,6%
7,7%
15,4%
Lần mang thai này
Tự nhiên
Kích thích buồng trứng nhẹ
IVF
42,3%
3,8%
53,9%
Tiền sử phẫu thuật CTC 0
Tuổi thai lúc thực hiện thủ thuật 19,5 ± 1,4
Chiều dài cổ tử cung (mm) 22,6 ± 2,5
Tuổi thai lúc sinh (tuần) 37,2 ± 3,2
Tỉ lệ đẻ non trước 34 tuần 4%
Tỉ lệ đẻ non trước 28 tuần 4%
Tỉ lệ đẻ non trước 37 tuần 12%
Tỉ lệ thai lưu 3,8%
Cân nặng trẻ sơ sinh (gram) 2715,79 ± 500,01
Tỉ lệ trẻ sinh ra nhẹ cân < 2500 gr 13,2%
Tỉ lệ trẻ sinh ra nhẹ cân <1500 gr 5,3%
Tỉ lê tử vong sơ sinh 5,3%
Tỉ lệ tháo dụng cụ tử cung trước 37 tuần 15,4%
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân nhóm nghiên cứu và kết cục thai kỳKết cục chính tỉ lệ đẻ non trước 34 tuần là 4%, 
trước 28 tuần là 4%, trước 37 tuần là 12%.
Tuổi thai lúc sinh trung bình là 37,2 tuần. 
Trong nghiên cứu này, có 3 trường hợp chiếm tỉ lệ 
11,5% cần nhập viện vì dọa sinh non cần điều trị 
với Atosiban. Trong đó có 1 trường hợp thất bại và 
sinh non ở thời điểm 28 tuần. Hai trường hợp còn 
lại cắt được cơn go và sau đó sinh đủ tháng.
Trong 26 trường hợp thực hiện đặt dụng cụ 
nâng cổ tử cung, có 1 trường hợp thai lưu và một 
trường hợp đẻ non do vỡ ối lúc 28 tuần, em bé sau 
đó suy hô hấp nặng và tử vong. 
Tỉ lệ tháo dụng cụ nâng cổ tử cung trước 37 
tuần là 15,4%, nguyên nhân do ối vỡ sớm, chuyển 
dạ sinh non và thai lưu. Còn lại các bệnh nhân 
được hỏi dung nạp tốt với dụng cụ cổ tử cung.
Đặc điểm bệnh nhân và kết cục thai kỳ của 
nhóm A (đơn thai) và nhóm B (song thai) được thể 
hiện ở bảng 2.
Tuổi thai lúc sinh của nhóm song thai là 36,6 ± 
2,7 tuần, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm đơn thai 
có tiền sử đẻ non với tuổi thai trung bình là 38,8 ± 
0,9, với p <0,05.
Tỉ lệ trẻ sinh ra nhẹ cân (<2500gr) là 13,2%, 
chỉ xảy ra ở nhóm trẻ sơ sinh song thai. Trong đó 
có một cặp song thai đẻ cực non ở 28 tuần có 
cân nặng dưới 1500gr chiếm 5,3%. Cân nặng 
trung bình của trẻ sinh ra là 2715,79 ± 500,01 gr, 
ở nhóm song thai là 2526,92 ± 474,60 gr, thấp 
hơn rất nhiều so với nhóm đơn thai là 3125,00 ± 
249,09 gr. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
với p<0,05. Các trẻ nhẹ cân này được chuyển qua 
đơn vị chăm sóc sơ sinh đặc biệt, theo dõi và không 
có biến chứng nặng gì sau đó.
4. Bàn luận
Trong một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm 
ngẫu nhiên có nhóm chứng gần đây thực hiện 
trên 2287 phụ nữ mang song thai trong vòng 
hơn 3 năm (từ tháng 01/2011 đến 07/2014) tại 
Tây Ban Nha, Goya và cộng sự đã ghi nhận có 
137 phụ nữ trong số đó có chiều dài cổ tử cung 
ngắn dưới 25 mm khi siêu âm đầu dò âm đạo. 
Tuổi trung bình của sản phụ là 35,6 tuổi, chiều 
dài cổ tử cung trung bình là 19.4 mm, tuổi thai 
thực hiện thủ thuật trung bình theo nghiên cứu 
Đặc điểm Nhóm A (n=12) Nhóm B (n=13) P
Tuổi mẹ 30,2 ± 6,1 30,8 ± 5,1 >0,05
Tuổi thai lúc thực hiện thủ thuật (tuần) 19,6 ± 1,7 19,5 ± 1,1 >0,05
Chiều dài cổ tử cung (mm) 22,18 ± 3,39 22,89 ± 1,37 >0,05
Tuổi thai lúc sinh (tuần) 38,8 ± 0,9 36,6 ± 2,7 <0,05
Cân nặng trẻ sơ sinh (gram) 3125,00 ± 249,09 2526,92 ± 474,60 <0,05
Bảng 2. Đặc điểm bệnh nhân và kết cục thai kỳ của nhóm A (đơn thai) và nhóm B (song thai) 
này là 22,5 tuần [8]. Tuổi mẹ lớn hơn nghiên 
cứu của chúng tôi có ý nghĩa thống kê, trong khi 
đó chiều dài trung bình cổ tử cung thì khá tương 
đồng. Tuổi thai thực hiện thủ thuật nhóm nghiên 
cứu chúng tôi thấp hơn do chúng tôi hẹn bệnh 
nhân siêu âm cổ tử cung khá sớm, quanh khoảng 
18-20 tuần.
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tỉ lệ đẻ non 
trước 34 tuần là 7.6%, thấp hơn nhiều so với 
nghiên cứu của tác giả Goya và cộng sự là 16.2% 
[8], của tác giả Kypros là 13.6% [1]. Tỉ lệ đẻ cực 
non trước 28 tuần là 4% so với 5,9% theo nghiên 
cứu của tác giả Goya và 3,2% so với nghiên cứu 
của tác giả Kypros. Có 12% sản phụ chuyển dạ 
sinh trước 37 tuần, tỉ lệ này là 69,1% theo tác giả 
Goya [8]. Nguyên nhân có thể giải thích do cỡ 
mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn rất nhỏ (n=26). 
Cần một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để so 
sánh tỉ lệ này ở Việt Nam so với các nghiên cứu 
quy mô của thế giới. 
PHAN CẢNH QUANG THÔNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, LÊ SỸ PHƯƠNG, CAO THỊ THÙY NHUNG, ĐINH THỊ PHƯƠNG MINH
52
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tỉ lệ trẻ sinh ra nhẹ cân (<2500gr) là 13,15% 
, dưới 1500 gram là 5.2% chỉ xảy ra ở nhóm trẻ 
sơ sinh song thai, thấp hơn nhiều so với nghiên 
cứu của tác giả Goya lần lượt là 34.6% và 9,5%; 
của tác giả Kypros là 67,2% và 3.4% [1], [8]. Tỉ 
lệ thai chết trong tử cung là 2.5%, tử vong chu sinh 
là 5.2% cao hơn nghiên cứu của tác giả Kypros 
là 1,2% thai lưu và 2,2% tử vong chu sinh [1]. 
Hạn chế về cỡ mẫu của chúng tôi làm giảm giá 
trị của nghiên cứu này cũng như khó so sánh với 
các nghiên cứu khác. Mặc khác, nghiên cứu của 
tác giả Kypros thực hiện cho tất cả những sản 
phụ mang song chung thai nói có kèm theo hoặc 
không kèm theo cổ tử cung ngắn cũng dẫn đến sự 
khác biệt về tiên lượng đẻ non trong nhóm nghiên 
cứu này [1].
Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng 
dường như trong nhóm đơn thai có tiền sử đẻ non, 
sẩy thai muộn kèm theo cổ tử cung ngắn, hiệu quả 
của dụng cụ nâng cổ tử cung trong việc dự phòng 
sinh non tốt hơn ở hầu hết cả kết cục chính và phụ: 
tỉ lệ thai sinh đủ tháng, tuổi thai trung bình lúc sinh 
đều cao hơn có ý nghĩa và tỉ lệ trẻ nhẹ cân thấp 
hơn so với nhóm song thai. Tuy nhiên do cỡ mẫu 
còn quá nhỏ nên chưa thể kết luận, cần một nghiên 
cứu được thiết kế chặt chẽ, cỡ mẫu lớn để xác minh 
nhận xét trên.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm 
lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng, đa trung 
tâm, được thực hiện, trên nhóm bệnh nhân đa thai 
và nhóm bệnh nhân đơn thai có cổ tử cung ngắn, 
song tính hiệu quả của dụng cụ tử cung trong việc 
dự phòng đẻ non vẫn còn nhiều tranh cãi. Hai 
nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng 
lớn nhất hiện nay của tác giả Goya và tác giả 
Kypros trên đối tượng song thai như đã kể ở trên 
đưa ra kết quả hoàn toàn trái ngược. Goya kết 
luận rằng dụng cụ nâng vòng tử cung làm giảm 
thiểu tỉ lệ đẻ non tự nhiên (6% so với 27%, RR 0,18 
95% CI 0,08-0,37) cũng như giảm các biến chứng 
trầm trọng của kết cục trẻ sơ sinh (3% so với 16%, 
RR 0,14 95%CI 0.04-0.39). Ngược lại, tác giả 
Kypros lại báo cáo rằng dụng cụ tử cung sử dụng 
hệ thống ở các phụ nữ mang song thai không làm 
giảm tỉ lệ đẻ non tự nhiên (13.6% so với 12,9% 
RR 1.054 95%CI 0,787-1,413), tử vong chu sinh 
(2,5% so với 2,7% R
R 0,908 95%CI 0,553-1,491), cũng như bệnh 
lý sơ sinh nặng (10% so với 9,2%, RR 1,094 95% 
CI 0,851-1,407) [1], [8].
Để tìm ra câu trả lời cho tranh cãi trên, năm 
2017, Xin Hang Jin và cộng sự đã thực hiện một 
nghiên cứu phân tích tổng hợp bao gồm các nghiên 
cứu xuất bản cho đến tháng 11/2016 liên quan 
đến dụng cụ nâng cổ tử cung và dự phòng đẻ non 
[17]. Kết quả thu được 3 nghiên cứu thử nghiệm 
lâm sàng có nhóm chứng có giá trị, khá tương 
đồng về tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại 
trừ, kết cục chính, phụ. Tổng cỡ mẫu của nghiên 
cứu meta-analysis gồm 1412 phụ nữ từ tổng của 
3 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng 
đa trung tâm nói trên với tuổi mẹ của 3 nghiên cứu 
này khá tương đồng. Tác giả Jin ghi nhận được kết 
quả dụng cụ nâng cổ tử cung không có tác dụng 
có ý nghĩa trong việc dự phòng đẻ non trên nhóm 
phụ nữ đơn thai có cổ tử cung ngắn ≤ 25mm so với 
nhóm chứng. Về kết cục phụ, nghiên cứu phân tích 
tổng hợp này cũng chỉ ra rằng không có khác biệt 
có ý nghĩa giữa nhóm phụ nữ có đặt dụng cụ nâng 
cổ tử cung so với nhóm chứng về tỉ lệ sinh non dưới 
34 tuần, dưới 30 tuần, dưới 28 tuần; cũng như các 
biến chứng trẻ sơ sinh như suy hô hấp nặng, hoại 
tử ruột, chảy máu trong tâm thất, nhiễm trùng sơ 
sinh sớm, bệnh lý mắt trẻ đẻ non, thai chết lưu, tỉ 
lệ tử vong sơ sinh, tỉ lệ tử vong chu sinh. Tuy nhiên, 
bài phân tích tổng hợp này vẫn còn nhiều hạn chế. 
Việc để nhãn mở của các nghiên cứu thử nghiệm 
lâm sàng nói trên có nguy cơ làm thiên lệch tính 
mù của nghiên cứu của các người tham gia, nhân 
viên tham gia nghiên cứu cũng như việc đánh giá 
kết quả. Điều này cũng làm cản trở tính pháp lý 
của nghiên cứu về dụng cụ nâng vòng tử cung. 
Do sự không thống nhất và khan hiếm của các thử 
nghiệm lâm sàng, Jin và cộng sự không thể khảo 
sát tác động của tuổi mẹ, chủng tộc, tiền sử sản phụ 
khoa, BMI, và chiều dài cổ tử cung lên trên các kết 
quả. Thêm vào đó, không có thử nghiệm lâm sàng 
nào có khả năng đánh giá hiệu quả điều trị của 
dụng cụ nâng cổ tử cung. Cuối cùng, kết luận của 
nhóm nghiên cứu vẫn là, mặc dù nghiên cứu phân 
tích tổng hợp chỉ ra rằng dụng cụ nâng cổ tử cung 
không làm giảm nguy cơ đẻ non ở phụ nữ đơn thai 
có cổ tử cung ngắn, chúng ta không thể khẳng định 
hoặc bác bỏ kết luận này, để trả lời cần những thử 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 48 - 53, 2017
53
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng quy 
mô lớn được thực hiện trong tương lai [17].
5. Kết luận
Dụng cụ nâng vòng tử cung là một biện pháp 
an toàn, đáng tin cậy, giá cả phải chăng và có 
thể thay thế các thủ thuật khác trong việc dự 
phòng đẻ non ở nhóm đối tượng lựa chọn kỹ 
như song thai hoặc đơn thai có tiền sử đẻ non 
có kèm chiều dài cổ tử cung ngắn trên siêu âm 
ở quý 2 thai kỳ. 
Tài liệu tham khảo
1. Kypros H. Nicholaides, Argyro Syngelaki, Liona C. Poon et al 2016, 
Cervical pessary placement for prevention of preterm birth in unselected 
twin pregnancies: a randomized controlled trial, American Journal of 
Obstetrics & Gynecology; 214:3:e1-9.
2. Kodjebacheva GD, Sabo T, Influence of premature birth on the health 
conditions, receipt of special education and sport participation of children 
aged 6-17 years in USA, J Public health (Oxf) 2015.
3. Hamilton BE, Martin JA, Ventura SJ, Births: preliminary data for 2012, 
Natl Vital Stat Rep 2013;62:1-20.
4. Iams JD, Romero R, Culhane JF et al, 2008, Primary, secondary and 
tertiary interventions to reduce the morbidity and mortality of preterm birth, 
Lancet 2008;371:164-75.
5. To MS, Skentou CA, Royston P et al, 2006, Prediction of patient-specific 
risk of early preterm delivery using maternal history and sonographic, 
measurement of cervical length: a population-based prospective study, 
Ultrasound Obstet Gynecol 2006;27:362-7.
6. To MS, Fonseca EB, Molina FS et al 2006, Maternal characteristics 
amd cervical length in prediction of spontaneous early preterm delivery in 
twins, Ams J Obstet Gynecol 2006;194:1360-5.
7. Conde-Agudelo A, Romero R, Hassan SS, 2010, Transvaginal 
sonographic cervical length for the prediction of spontaneous preterm birth 
in twin pregnancies: a systematic review and meta-analysis, Am J Obstet 
Gynecol 2010;203:128,e1-12.
8. Goya Maria, De la Calle Maria, Pratcorona Laia et al 2016, Cervical 
pessary to prevent preterm birth in women with twin gestation and 
sonographic short cervix: a multicenter randomized controlled trial 
(PECEP-Twins), Am J Obstet Gynelcol 2016:145-152.
9. Alfirvic Z, Owen J, Carreras Moratonas E et al 2013, Vaginal 
progesterone, cerclage or cervical pessary for preventing preterm birth in 
asymptomatic singleton pregnant women with a history of preterm birth and 
a sonographic short cervix, Ultrasound Obstet Gynecol 2013;41; 146-51.
10. Saccone G, Rust O, Althuisius S, Roman A et al 2015, Cerclage 
short cervix in twin pregnancies: systematic review and meta-analysis of 
randomized trials using individual patient-level data, Acta Obstet Gynecol 
Scand 2015;94;352-8.
11. Arabin B, Halbesma JR, Vork F et al 2003, Is treatment with vaginal 
pessaries an option in patients with a sonogaphically detected short 
cervix?, J Pertinat Med 2003;31:122-33.
12. Goya M, Pratcorona L, Merce C et al 2012, Cervical pessary in 
pregnant women with a short cervix (PECEP): an open-label randomized 
controlled trial, Lancet 2012; 379;1800-6.
13. Hui Y, Chor CM, Lau TK et al 2013, Cerclage pessary for preventing 
preterm birth in women with a singleton pregnancy and a short cervix at 20 
to 24 weeks: a randomized controlled trial, Am J Perinatol 2013;30:283-8.
14. Liem S, Schuit E, Hegeman M et al 2013, Cervical pessaries 
for prevention of preterm birth in women in a multiple pregnancy 
(ProTWIN): a multicenter, open-label randomized controlled trial, Lancet 
2013;382:1341-9.
15. Honest H, Forbes CA, Duree KH et al 2009, Screening to prevent 
spontaneous preterm birth: systematic review of accuracy and 
effectiveness literature with economic modeling. Health Technol Assess 
2009;13:1-627.
16. Lim AC, Hegeman MA, Huis In Y Veld MA et al 2011, Cervial length 
measurement for the prediction of preterm birth in multiple pregnancies: 
a systematic review and bivaritate meta-analysis, Ultrasound Obstet 
Gynecol 2011;38:10-7.
17. Jin XH et al (2017), Cervical Pessary for Prevention of Preterm Birth: 
A meta-analysis, Sci Rep 7, 42560;doi:10.1038/srep42560.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_su_dung_vong_nang_co_tu_cung_trong_du_phong.pdf