Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân
Đặt vấn đề: Bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium (HoLEP) là phẫu thuật ít xâm hại trong điều trị
ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml, nhưng tại Việt Nam cho
đến nay chưa có báo cáo chi tiết về kết quả điều trị của phương pháp này.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP trong điều trị TSLT- TTL tại bệnh viện Bình Dân.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH), từ 1/1/2019 đến
31/7/2020tại bệnh viện Bình Dân.
Kết quả: có 63 TH thực hiện HoLEP.Tuổi trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất 53 tuổi, lớn nhất 84 tuổi. Thể
tích TTL đo được qua siêu âm trung bình là 91,16 ± 13,35 ml; nhỏ nhất 80ml, lớn nhất 135ml, trọng lượng mô
bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 12,5 gram. Thời gian phẫu thuật (PT) trung bình 105 ± 17,94 phút. Sự khác
biệt Hb và nồng độ Na+ trong máu trước và sau PT không đáng kể; Hb giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL; Na+
máu giảm trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời gian
nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. Thang điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) cải thiện sau 1,3,6
tháng lần lượt là:5,8; 4,8, 3,5. Điểm số chất lượng cuộc sống (QoL) trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt:
2,05; 1,69; 1,12. Lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là: 16,1, 17,4, 18,9
ml/giây. Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang (BQ) 14,2%, tất cả các TH này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium
thành công. Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy nhiên không có
TH nào cần truyền máu trong và sau mổ. Tỷ lệ biến chứng(BC) chung 12,7%, tuy nhiên không có biến chứng
nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít nghiêm trọng như tỷ
lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu đạo(NĐ) 9,5%, tiểu không kiểm
soát tạm thời 8%, nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%, hẹp cổ bàng quang 1,6%.
Kết luận: Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp TSLT-TTL có thể tích lớn là một phẫu thuật an toàn,
hiệu quả.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 207 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHƯƠNG PHÁP BÓC NHÂN TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG LASER HOLMIUM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN Phùng Thanh Vũ1, Ngô Xuân Thái2, Nguyễn Ngọc Châu1, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium (HoLEP) là phẫu thuật ít xâm hại trong điều trị ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml, nhưng tại Việt Nam cho đến nay chưa có báo cáo chi tiết về kết quả điều trị của phương pháp này. Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP trong điều trị TSLT- TTL tại bệnh viện Bình Dân. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH), từ 1/1/2019 đến 31/7/2020tại bệnh viện Bình Dân. Kết quả: có 63 TH thực hiện HoLEP.Tuổi trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất 53 tuổi, lớn nhất 84 tuổi. Thể tích TTL đo được qua siêu âm trung bình là 91,16 ± 13,35 ml; nhỏ nhất 80ml, lớn nhất 135ml, trọng lượng mô bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 12,5 gram. Thời gian phẫu thuật (PT) trung bình 105 ± 17,94 phút. Sự khác biệt Hb và nồng độ Na+ trong máu trước và sau PT không đáng kể; Hb giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL; Na+ máu giảm trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời gian nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. Thang điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là:5,8; 4,8, 3,5. Điểm số chất lượng cuộc sống (QoL) trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt: 2,05; 1,69; 1,12. Lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là: 16,1, 17,4, 18,9 ml/giây. Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang (BQ) 14,2%, tất cả các TH này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium thành công. Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy nhiên không có TH nào cần truyền máu trong và sau mổ. Tỷ lệ biến chứng(BC) chung 12,7%, tuy nhiên không có biến chứng nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít nghiêm trọng như tỷ lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu đạo(NĐ) 9,5%, tiểu không kiểm soát tạm thời 8%, nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%, hẹp cổ bàng quang 1,6%. Kết luận: Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp TSLT-TTL có thể tích lớn là một phẫu thuật an toàn, hiệu quả. Từ khóa: bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium ABSTRACT EVALUATION EARLY OUTCOME OF HOLMIUM LASER ENUCLEATION OF THE PROSTATE AT BINH DAN HOSPITAL Phung Thanh Vu, Ngo Xuan Thai, Nguyen Ngoc Chau, Nguyen Phuc Cam Hoang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 207 - 212 Background: Holmium Laser enucleation of the prostate (HoLEP) is a minimally invasive surgical treatments for benign prostatic hyperplasia (BPH) greater than 80 ml. Up to now, there has been no detailed reports on the treatment results of this procedure in Viet Nam. Objective: Evaluate early outcomes of HoLEP in the treatment BPH at Binh Dan hospital. Methods: Case series, from 1 January 2019 to 31 July 2020, there were 63 cases performing HoLEP at Binh Dan Hospital. 1Bệnh viện Bình Dân 2Bộ môn Tiết niệu hoc, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Phùng Thanh Vũ ĐT: 0918436470 Email:[email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 208 Results: The mean age was 66.3 ± 7.4, the minimum 53 years and the maximum was 84 years. Mean ultrasound prostate volume was 91.16 ± 13.35 ml, the smallest 80ml and the largest 135ml, the average enucleated tissue was 70.2 ± 12.5 grams. Mean surgical time was 105 ± 17.94 minutes.The difference of Hb and Na + concentration in the preoprative and postoperative test were negligible. Mean Hb decrease was 1.6 ± 0.6 g/dL, mean Na + blood decrease was 1.67 ± 0.9 mmol/L. Mean urethral catheterization time was 2.3 ± 0.9 days, mean hospital stay 3.6 ± 1.3 days. Mean International Prostate Symptom Score (IPSS) improved after 1,3,6 months respectively were 5.8; 4.8; 3.5. Mean Quality of Life (QoL) improved after 1,3,6 months: 2.05, 1.69, 1.1. Mean Qmax (peak flow rate) improved after 1,3,6 months, respectively: 16.1; 17.4; 18.9 ml/sec. Bladder stones were present in 9 patients (14.2%), all of these cases were successful with Laser Holmium lithotripsy. There was neither cases with transurethral resection syndrome nor cases blood transfusion interoprative and postoprative. The overall complications rate was 12.7%, however, there were not serious complications such as rectal perforation, bladder perforation, there was no case that required resurgery. Some less serious complications such as: capsular perforation rate 6.3%, bladder neck contracture 1.6%, re-catheterization 9.5%. Transient urinary incontinence 8%, urinary tract infection 6.3%, bladder neck stenosis 1.6%. Conclusion: Holmium laser enucleation of the prostate is safe and efficient for treating benign prostatic hyperplasia with large volume. Key words: Holmium laser enucleation of the prostate ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nhiều thập niên trước đây, cắt đốt nội soi (CĐNS) bằng điện đơn cực qua ngả niệu đạo là tiêu chuẩn vàng và mổ mở bóc bướu là phẫu thuật(PT) tiêu chuẩn trong điều trị ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml. Mặt dù hiệu quả đạt được là rất lớn, tuy nhiên phương pháp này cũng bộc lộ nhiều yếu điểm như: tỷ lệ chảy máu, phải truyền máu cao 7,5%, hội chứng cắt đốt nội soi 1-3%, thời gian đặt thông niệu đạo, thời gian nằm viện kéo dài và tỷ lệ tái phát bướu sau 5 năm 18%(1). Sự nỗ lực để hạn chế các biến chứng PT, nhiều kỹ thuật PT ít xâm hại đã được nghiên cứu ứng dụng, nổi bật lên là kỹ thuật bóc nhân TTL bằng Laser Holmium (HoLEP). Phương pháp này được chứng minh là có hiệu quả tương đương với mổ mở nhưng mức độ xâm hại ít hơn, ít biến chứng hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, thời gian đặt thông niệu đạo ngắn hơn(2). HoLEP qua ngả nội soi niệu đạo kết hợp với máy xay mô được Gilling PJ thực hiện lần đầu tiên vào năm 1998. Trải qua hai thập kỹ, kỹ thuật này ngày càng hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi ở nhiều trung tâm niệu khoa trên thế giới. Theo khuyến cáo hướng dẫn điệu trị của hội niệu khoa Châu Âu, hội niệu khoa Hoa Kỳ, HoLEP là chọn lựa đầu tiên trong điều trị ngoại khoa TSLT-TTL thể tích lớn(3,4,5,6). Mặc dù có nhiều lợi điểm, nhưng hiện nay HoLEP vẫn chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Năm 2019, tác giả Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng đã báo cáo 25 trường hợp bóc nhân TTL có thể tích lớn bằng Laser Holmium đầu tiên tại bệnh viện Bình Dân, bước đầu cho kết quả rất khả quan(7) và hiện tại chưa có một báo cáo chi tiết nào khác về hiệu quả điều trị của phương pháp này. Vậy “Kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmiumtại bệnh viện Bình Dân như thế nào?” Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu HoLEP một cách tổng quan với số liệu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn nhằm vào các mục tiêu sau. Mục tiêu Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP trong điều trị TSLT-TTL tại bệnh viện Bình Dân. Đánh giá tính hiệu quả: Xác định sự thay đổi của điểm số IPSS, QoL, Qmax sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. Đánh giá tính an toàn: Xác định tỷ lệ biến Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 209 chứng chảy máu trong và sau mổ, tỷ lệ số trường hợp mắc hội chứng CĐNS, tỷ lệ trường hợp tổn thương cổ bàng quang, tổn thương bàng quang, thủng vỏ tuyến tiền liệt, tiểu không kiểm soát, tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu. ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU Đối tượng nghiên cứu Tất cả các bệnh nhân (BN) nam đến khám vì triệu chứng bế tắc đường tiểu dưới do TSLT-TTL có chỉ định can thiệp ngoại khoa được điều trị tại bệnh viện Bình Dân từ 1/1/2019 đến 31/7/2020. Tiêu chuẩn chọn bệnh Tất cả BN được chẩn đoán TSLT-TTL có chỉ định điều trị ngoại khoa và thể tích bướu TTL lớn hơn 80 mL và đồng ý phẫu thuật HoLEP. Tiêu chuẩn loại trừ Kết quả giải phẫu bệnh trước và sau PT là ung thư TTL. Bàng quang thần kinh, BN có TSLT- TTL nhưng kèm theo hẹp niệu đạo (NĐ), di chứng chấn thương khung chậu và khớp háng. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH). Phương pháp thực hiện Tất cả BN được thăm khám lâm sàng, đánh giá IPSS, Qmax, QoL, làm các xét nghiệm chuyên biệt, các xét nghiệm chuẩn bị cho cuộc mổ, giải thích và cam kết đồng ý phẫu thuật. Ghi nhận các chỉ số Hb,Na+ trước và sau mổ, PSA, niệu dòng đồ, thể tích TTL, thời gian mổ, máu mất, truyền máu, thời gian nằm viện, thời gian đặt thông NĐ, các BC trong và sau PT, theo dõi sau PT 1,3,6 tháng. Đánh giá kết quả điều trị theo Homma Y(8). Đánh giá BC phẫu thuật TSLT-TTL theo Clavien – Dindo(9). Tiến hành Sau khi nội soi niệu đạo, BQ đánh giá và kiểm tra tất cả các thương tổn, bắt đầu xác định các điểm mốc: 5, 7, 12 giờ trong đó có 2 điểm ngay sau ụ núi. Tiến hành thực hiện 2 đường cắt tại vị trí 5 và 7 giờ từ cổ BQ đến trước ụ núi, chiều sâu đến lớp vỏ của nhân TTL. Bắt đầu tiến hành bóc nhân thùy giữa theo hướng từ ụ núi vào cổ BQ, vừa bóc nhân vừa cầm máu điểm. Tiếp tục thực hiện một đường cắt rạch tại vị trí 12 giờ, bóc nhân thùy trái và thùy phải với cách thức tương tự, nhân bướu cuối cùng được xay và hút ra bằng máy xay mô; thu và cân bệnh phẩm, gởi bệnh phẩm phân tích giải phẫu bệnh (4). Dụng cụ Tên máy Cyber Ho, công suất: 100W- 5J, bước sóng 2140nm, hãng sản xuất Quanta System, xuất xứ Ý, năm sản xuất 2016, loại dây laser phát tia ở đầu tận, sử dụng được nhiều lần 550 µ, tay cắt của máy Laser là loại có lổ để đưa dây tia vào; Chức năng cắt đốt, cầm máu, bóc hơi, tán sỏi; Máy xay mô: Hawk, xuất sứ: Trung Quốc Thu thập và xử lýsố liệu Thu thập theo bảng thu thập số liệu và xử lý bằng ứng dụng phần mềm thống kê số liệu SPSS phiên bản 20.0. Y đức Nghiên cứu (NC) đã được thông qua Hội đồng Y đức của bệnh viện (BV) Bình Dân số 397/QĐ- BVBD. KẾT QUẢ Có 63 TH thoả tiêu chuẩn chọn mẫu. Tuổi trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất là 53 tuổi, lớn nhất là 84 tuổi. Thể tích TTL trung bình 91,16 ± 13,35 ml; nhỏ nhất là 80ml, lớn nhất 135ml, trọng lượng mô bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 12,5 gram. Thời gian PT trung bình là 105 ± 17,94 phút, sự khác biệt Hct, Hb và nồng độ Na+ trong máu trước và sau phẫu thuật không đáng kể; Hb giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL, Na+ máu giảm trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời gian nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. - IPSS trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt: 5,8; 4,8; 3,5(Hình 1). - QoL trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt: 2,05; 1,69; 1,12. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 210 - Qmax trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là: 16,1; 17,4; 18,9 ml/ giây. Hình 1: Sự cải thiện IPSS sau HoLEP 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng Hình 2: Sự thay đổi Qmax sau HoLEP 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng - Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang 14,2%, tất cả các TH này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium thành công với thời gian tán sỏi trung bình 9,7 ± 3,3 phút. - Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt nội soi, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy nhiên không có TH nào cần truyền máu trong và sau mổ. Tỷ lệ BC chung 12,7%, tuy nhiên, không có BC nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít nghiêm trọng như: tỷ lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu đạo 9,5%; tiểu không kiểm soát tạm thời 8%; nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%; tỷ lệ hẹp cổ BQ 1,6%. BÀN LUẬN Xử trí sỏi bàng quang kèm theo trên bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt Laser Holmium có bước sóng 2140 nm. Sự phát xạ của tia Laser theo cơ chế phát xung ngắt quãng, hấp thụ cao trong môi trường nước, khả năng xuyên mô khoảng 0,4 mm, năng lượng được phát ra ổn định phù hợp với tác dụng cắt đốt, bốc hơi và cầm máu mô. Ngoài ra, với chế độ phát xung ngắt quãng, tập trung năng lượng lớn, ổn định nên có tác dụng tán sỏi niệu hiệu quả, đặc biệt là sỏi bàng quang (BQ), một bệnh lý thường hay gặp trên những bệnh nhân TSLT-TTL, đây cũng là tính năng ưu việt chỉ có ở Laser Holmium. Trong NC của chúng tôi có 9 TH (14,2%) có sỏi BQ kèm theo được tán sỏi thành công bằng Laser Holmium mà không cần dùng thêm thiết bị tán sỏi nào khác. Nếu những TH này được bóc nhân bằng laser Thulium, Bipolar hay CĐNS thì bắt buộc phải dùng thêm một máy tán sỏi. Việc dùng Laser Holmium vừa bóc nhân TTL vừa tán sỏi BQ qua đó góp phần rút ngắn thời gian phẫu thuật. Thời gian tán sỏi trung bình là 9,67 ± 3,3 phút, ngắn nhất 5 phút, lâu nhất 16 phút. Tỷ lệ có sỏi BQ kèm treo trên những bệnh nhân có TSLT-TTL cũng khá phổ biến. Theo tác giả Krambeck EA tỷ lệ có sỏi BQ kèm theo là 4,7%(10). Theo tác giả Shah HN có tỷ lệ sỏi BQ kèm theo là 12,1%(11), tất cả các TH sỏi BQ này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium thành công. Sinh thiết TTL có làm tăng tỷ lệ biến chứng trong mổ hay không? Để đánh giá sinh thiết TTL có làm tăng tỷ lệ BC trong mổ hay không chúng tôi phân thành 2 nhóm có sinh thiết và không sinh thiết TTL, phân tích cho thấy nhóm có sinh thiết TTL có tỷ lệ BC chung trong mổ 37,5% (3/8 TH) cao hơn nhóm không sinh thiết có ý nghĩa thống kê (p <0,001). Đáng lưu ý, trong 4 TH sinh thiết 1-2 tuần trước HoLEP đều xảy ra BC, trong đó chủ yếu là chảy máu khó cầm, 3 TH chảy máu kèm theo thủng vỏ TTL, 1 TH chảy Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 211 máu kèm thủng cổ BQ. Chúng tôi nhận thấy những trường hợp HoLEP sau sinh thiết 1-2 tuần, trong lúc mổ thường chảy máu nhiều, khó cầm hơn những TH khác, giảm Hb trung bình những TH này 2,7g/dl, mặc dù vậy không có TH nào phải truyền máu trong mổ. Trong khi đó, có 4 TH sinh thiết trước PT hơn 1 tháng thì không xảy ra BC này, giảm Hb trung bình 1,8g/dl, tỷ lệ này tương đương với nhóm không sinh thiết TTL (p <0,05). Hơn nữa, hiệu quả điều trị như cải thiện IPSS, QoL, Qmax giữa hai nhóm có và không sinh thiết TTL là tương đương nhau. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Bell C (2019)(12). Vì vậy, sinh thiết TTL trước đó không nên được coi là một chống chỉ định đối với HoLEP Tính hiệu quả của HoLEP về cải thiện điểm số IPSS Trong mẫu NC của chúng tôi, điểm số IPSS trung bình trước mổ là 28,08 ± 3,2 điểm, trong đó thấp nhất là 20 điểm và cao nhất là 35 điểm. Tất cả 63 TH (100%) đều ở mức độ nặng (20 - 35 điểm). Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 5,84 ± 1,48; 4,47 ± 1,56 ; 3,52 ± 1,80. Điểm IPSS trước và sau PT khác nhau có ý nghĩa thống kê, cho thấy có sự cải thiện đáng kể điểm số IPSS sau PT (phép kiểm Paired Samples Test). Các triệu chứng đường tiết niệu dưới giảm đáng kể, cải thiện tốt so với trước mổ chiếm tỷ lệ 85,7%. Sau 3 tháng, 6 tháng IPSS cải thiện tốt hơn là 94,8% và 98% (theo tiểu chuẩn của Homma Y)(8). Kết quả này tuy có thấp hơn một chút so với tác giả nước ngoài, có thể được giải thích do BN nhập viện đều có IPSS ở mức độ nặng. Theo tác giả Elmansy và cộng sự điểm IPSS trước mổ trung bình 22,4 ± 4,6. Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 9,3 ± 6,1; 5,1 ± 3,9 ; 4,4 ± 4,8(13). Theo tác giả Gilling PJ (năm 2000, 40TH), điểm IPSS trước mổ trung bình 24,2 ± 2,4. Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 8,6 ± 1,2; 4,8 ± 0,8; 6,0 ± 1,0(14). Theo tác giả Naspro R(năm 2006, 41TH) điểm IPSS trước mổ trung bình 20,1 ± 5,8. Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 6,9 ± 4,2; 3,9 ± 2,9; 8,4 ± 5,9(15). Sự cải thiện điểm số QoL Trong NC của chúng tôi, điểm số QoL trung bình trước mổ là 5,06 ± 0,74 điểm, thấp nhất là 4 điểm và cao nhất là 6 điểm. Trong đó mức độ không chịu được (5-6 điểm) có 48 TH chiếm 76,2%, mức độ tạm được (3-4 điểm) chiếm 23,8%. Điều này cho thấy chất lượng cuộc sống ở những bệnh nhân TSLT-TTL trong mẫu NC khá thấp. Sau phẫu thuật 1, 3, 6 tháng QoL đã cải thiện đáng kể lần lượt là 2,05 ± 0,49; 1,69 ± 0,6; 1,17 ± 0,68. Kết quả này khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p <0,05) so với NC của các giả khác như Elmansy HM(năm 2012, 949 TH) điểm QoL trước mổ trung bình 4,2 ± 1,3. Điểm QoL trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 2,4 ± 1,8; 1,8 ± 1,6; 1,6 ± 0,8(13). Theo tác giả Gilling PJ (năm 2000, 40TH) sự điểm QoL trước mổ trung bình 4,8 ± 1,1. Điểm QoL trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 2,7 ± 0,4; 1,8 ± 0,4; 1,6 ± 0,3(14). Theo tác giả Naspro R (năm 2006, 41TH) điểm QoL trước mổ trung bình 4,07 ± 0,93. Điểm QoL trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 1,4 ± 1,4; 1,0 ± 0,8; 1,7 ± 0,94(15). Sự cải thiện lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) Trong NC này, có 32 TH nhập viện vì bí tiểu tái phát nhiều lần và được đặt thông NĐ lưu để chuyển lưu nước tiểu tạm thời, 9 TH có sỏi BQ kèm theo, chúng tôi không đo niệu động đồ cho những TH này. Tiến hành đo niệu dòng đồ 22 TH tiểu khó cho kết quả: lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) trung bình trước PT là 4,97 ± 1,89 ml/s ; thấp nhất là 2,34 mL/s và cao nhất là 10 ml/s.Qmax sau mổ 1 tháng thấp nhất 12,5ml/s, cao nhất 20,4 ml/s, trung bình 16,09 ± 1,61ml/s, tỷ lệ không có bế tắc (Qmax >15 ml/giây) là 87,3% còn lại 12,7% còn bế tắc mức độ trung bình. Sau 3 tháng, 6 tháng tỷ lệ Qmax trung bình là 17,41 ± 2,03; 18,97 ± 2,56 Qmax về bình thường là 94,8% và 96,2% (theo Homma Y)(8). Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 212 Theo tác giả Elmansy HM (năm 2012, 949TH), điểm trước mổ trung bình 8,0 ml/s, Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 21,9 ml/s; 21,7 ml/s; 24,9ml/s(13). Theo tác giả Gilling và cộng sự điểm Qmax trước mổ trung bình 8,28 ± 2,18 ml/s. Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 22,3 ± 2,3 ml/s; 22,4 ± 1,7 ml/s; 21,3 ± 2,1 ml/s(14). Theo tác giả Naspro R điểm Qmax trước mổ trung bình 7,83 ± 3,42 ml/s. Điểm Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 26,6± 8,7 ml/s; 22,2 ± 8,6 ml/s; 22,3 ± 3,8 ml/s(15). KẾT LUẬN Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp TSLT-TTL có thể tích lớn là một PT an toàn, hiệu quả, BN trải qua HoLEP cho kết quả khả quan như không có TH mất máu phải truyền máu, cải thiện đáng kể IPSS, Qmax, QoL sau phẫu thuật theo dõi 1, 3, 6 tháng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Reich O, Gratzke C, Bachmann A, et al (2008). Morbidity, mortality and early outcome of transurethral resection of the prostate: a prospective multicenter evaluation of 10654 patient. J Urol, 180:246–249. 2. Michalak J, Tzou D, Funk J, et al (2015). HoLEP: the gold standard for the surgical management of BPH in the 21(st) Century.Am J Clin Exp Urol, 1(3):36–42. 3. Foster HE, Barry MJ, Dahm P, et al (2019). Surgical Management of Lower Urinary Tract Symptoms Attributed to Benign Prostatic Hyperplasia.AUA Guideline,200:612-619. 4. Gilling PJ, Kennett K, Das AK, et al (1998). Holmium laser enucleation of the prostate (HoLEP) combined with transurethral tissue morcellation: an update on the early clinical experience.J Endourol, 12(5):457-459. 5. Kevin T, Vary M (2010). American Urological Association Guideline: Management of Benign Prostatic Hyperplasia (BPH). American Urological Association, 62(2):1-496 6. Rosette JD, Alivizatos G, Madersbacher S, et al, (2019). Guidelines on benign prostatic hyperplasia. European Association of Urology,40(3):256-263. 7. Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2019). Bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt thể tích lớn tại bệnh viện Bình Dân. Báo cáo Hội nghị Tiết niệu- Thận học toàn quốc, Hạ Long, Quảng Ninh, pp.110-115. 8. Homma Y, Kawabe K, Tsukamoto T, et al (1996). Estimate criteria for efficacy of treatment in benign prostatic hyperplasia, J Urol, 3 (4):267-273 9. Dindo D, Demartines N, Clavien P,et al (2004). Classification of surgical complications: a new proposal with evaluation in a cohort of 6336 patients and results of a survey.Ann Surg, 240(2):205-213. 10. Krambeck EA, Handa ES, Lingeman EJ, et al (2010). Experience with More Than 1000 Holmium Laser Prostate Enucleations for Benign Prostatic Hyperplasia.Journal of Urology, 183(3):1105- 1109. 11. Shah HN, Mahajan AP (2007). Peri-operative complications of holmium laser enucleation of the prostate: experience in the first 280 patients, and a review of literature.BJU International, 100(1):94-101. 12. Bell C, Sacha L (2019). Safety and efficacy of Holmium laser enucleation of the prostate (HoLEP) in patients with previous transperineal biopsy (TPB): outcomes from a dual-centre case control study".BMC Urology, 19 (97):1-7. 13. Elmansy HM, Kotb A (2011). Holmium laser enucleation of the prostate: long-term durability of clinical outcomes and complication rates during 10 years of follow up. J Urol, 186:1972- 1976. 14. Gilling PJ, Wilson LC (2011). Long-term results of a randomized trial comparing holmium laser enucleation of the prostate and transurethral resection of the prostate: results at 7 years.BJU Int, 109:408-411. 15. Naspro R, Suardi N, Salonia A, et al (2006). Holmium Laser Enucleation of the Prostate Versus Open Prostatectomy for Prostates >70 g: 24-Month Follow-up".Eur Urol, 50:563-568. Ngày nhận bài báo: 04/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_som_phuong_phap_boc_nhan_tuyen_tien_liet_ba.pdf

