Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân

Đặt vấn đề: Bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium (HoLEP) là phẫu thuật ít xâm hại trong điều trị

ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml, nhưng tại Việt Nam cho

đến nay chưa có báo cáo chi tiết về kết quả điều trị của phương pháp này.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP trong điều trị TSLT- TTL tại bệnh viện Bình Dân.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH), từ 1/1/2019 đến

31/7/2020tại bệnh viện Bình Dân.

Kết quả: có 63 TH thực hiện HoLEP.Tuổi trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất 53 tuổi, lớn nhất 84 tuổi. Thể

tích TTL đo được qua siêu âm trung bình là 91,16 ± 13,35 ml; nhỏ nhất 80ml, lớn nhất 135ml, trọng lượng mô

bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 12,5 gram. Thời gian phẫu thuật (PT) trung bình 105 ± 17,94 phút. Sự khác

biệt Hb và nồng độ Na+ trong máu trước và sau PT không đáng kể; Hb giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL; Na+

máu giảm trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời gian

nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. Thang điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) cải thiện sau 1,3,6

tháng lần lượt là:5,8; 4,8, 3,5. Điểm số chất lượng cuộc sống (QoL) trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt:

2,05; 1,69; 1,12. Lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là: 16,1, 17,4, 18,9

ml/giây. Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang (BQ) 14,2%, tất cả các TH này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium

thành công. Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy nhiên không có

TH nào cần truyền máu trong và sau mổ. Tỷ lệ biến chứng(BC) chung 12,7%, tuy nhiên không có biến chứng

nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít nghiêm trọng như tỷ

lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu đạo(NĐ) 9,5%, tiểu không kiểm

soát tạm thời 8%, nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%, hẹp cổ bàng quang 1,6%.

Kết luận: Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp TSLT-TTL có thể tích lớn là một phẫu thuật an toàn,

hiệu quả.

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân

Đánh giá kết quả sớm phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium tại Bệnh viện Bình Dân
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 207 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHƯƠNG PHÁP BÓC NHÂN TUYẾN TIỀN LIỆT 
BẰNG LASER HOLMIUM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN 
Phùng Thanh Vũ1, Ngô Xuân Thái2, Nguyễn Ngọc Châu1, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium (HoLEP) là phẫu thuật ít xâm hại trong điều trị 
ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml, nhưng tại Việt Nam cho 
đến nay chưa có báo cáo chi tiết về kết quả điều trị của phương pháp này. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP trong điều trị TSLT- TTL tại bệnh viện Bình Dân. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH), từ 1/1/2019 đến 
31/7/2020tại bệnh viện Bình Dân. 
Kết quả: có 63 TH thực hiện HoLEP.Tuổi trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất 53 tuổi, lớn nhất 84 tuổi. Thể 
tích TTL đo được qua siêu âm trung bình là 91,16 ± 13,35 ml; nhỏ nhất 80ml, lớn nhất 135ml, trọng lượng mô 
bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 12,5 gram. Thời gian phẫu thuật (PT) trung bình 105 ± 17,94 phút. Sự khác 
biệt Hb và nồng độ Na+ trong máu trước và sau PT không đáng kể; Hb giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL; Na+ 
máu giảm trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời gian 
nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. Thang điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) cải thiện sau 1,3,6 
tháng lần lượt là:5,8; 4,8, 3,5. Điểm số chất lượng cuộc sống (QoL) trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt: 
2,05; 1,69; 1,12. Lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) cải thiện sau 1,3,6 tháng lần lượt là: 16,1, 17,4, 18,9 
ml/giây. Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang (BQ) 14,2%, tất cả các TH này đều được tán sỏi bằng Laser Holmium 
thành công. Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy nhiên không có 
TH nào cần truyền máu trong và sau mổ. Tỷ lệ biến chứng(BC) chung 12,7%, tuy nhiên không có biến chứng 
nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít nghiêm trọng như tỷ 
lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu đạo(NĐ) 9,5%, tiểu không kiểm 
soát tạm thời 8%, nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%, hẹp cổ bàng quang 1,6%. 
Kết luận: Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp TSLT-TTL có thể tích lớn là một phẫu thuật an toàn, 
hiệu quả. 
Từ khóa: bóc nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium 
ABSTRACT 
EVALUATION EARLY OUTCOME OF HOLMIUM LASER ENUCLEATION OF THE PROSTATE 
AT BINH DAN HOSPITAL 
Phung Thanh Vu, Ngo Xuan Thai, Nguyen Ngoc Chau, Nguyen Phuc Cam Hoang 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 207 - 212 
Background: Holmium Laser enucleation of the prostate (HoLEP) is a minimally invasive surgical 
treatments for benign prostatic hyperplasia (BPH) greater than 80 ml. Up to now, there has been no detailed 
reports on the treatment results of this procedure in Viet Nam. 
Objective: Evaluate early outcomes of HoLEP in the treatment BPH at Binh Dan hospital. 
Methods: Case series, from 1 January 2019 to 31 July 2020, there were 63 cases performing HoLEP at Binh 
Dan Hospital. 
1Bệnh viện Bình Dân 2Bộ môn Tiết niệu hoc, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Phùng Thanh Vũ ĐT: 0918436470 Email:[email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 208 
Results: The mean age was 66.3 ± 7.4, the minimum 53 years and the maximum was 84 years. Mean 
ultrasound prostate volume was 91.16 ± 13.35 ml, the smallest 80ml and the largest 135ml, the average 
enucleated tissue was 70.2 ± 12.5 grams. Mean surgical time was 105 ± 17.94 minutes.The difference of Hb and 
Na + concentration in the preoprative and postoperative test were negligible. Mean Hb decrease was 1.6 ± 0.6 
g/dL, mean Na + blood decrease was 1.67 ± 0.9 mmol/L. Mean urethral catheterization time was 2.3 ± 0.9 days, 
mean hospital stay 3.6 ± 1.3 days. Mean International Prostate Symptom Score (IPSS) improved after 1,3,6 
months respectively were 5.8; 4.8; 3.5. Mean Quality of Life (QoL) improved after 1,3,6 months: 2.05, 1.69, 1.1. 
Mean Qmax (peak flow rate) improved after 1,3,6 months, respectively: 16.1; 17.4; 18.9 ml/sec. Bladder stones 
were present in 9 patients (14.2%), all of these cases were successful with Laser Holmium lithotripsy. There was 
neither cases with transurethral resection syndrome nor cases blood transfusion interoprative and postoprative. 
The overall complications rate was 12.7%, however, there were not serious complications such as rectal 
perforation, bladder perforation, there was no case that required resurgery. Some less serious complications such 
as: capsular perforation rate 6.3%, bladder neck contracture 1.6%, re-catheterization 9.5%. Transient urinary 
incontinence 8%, urinary tract infection 6.3%, bladder neck stenosis 1.6%. 
Conclusion: Holmium laser enucleation of the prostate is safe and efficient for treating benign prostatic 
hyperplasia with large volume. 
Key words: Holmium laser enucleation of the prostate 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trong nhiều thập niên trước đây, cắt đốt 
nội soi (CĐNS) bằng điện đơn cực qua ngả 
niệu đạo là tiêu chuẩn vàng và mổ mở bóc 
bướu là phẫu thuật(PT) tiêu chuẩn trong điều 
trị ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền 
liệt (TSLT-TTL) có thể tích lớn trên 80 ml. Mặt 
dù hiệu quả đạt được là rất lớn, tuy nhiên 
phương pháp này cũng bộc lộ nhiều yếu điểm 
như: tỷ lệ chảy máu, phải truyền máu cao 
7,5%, hội chứng cắt đốt nội soi 1-3%, thời gian 
đặt thông niệu đạo, thời gian nằm viện kéo dài 
và tỷ lệ tái phát bướu sau 5 năm 18%(1). 
Sự nỗ lực để hạn chế các biến chứng PT, 
nhiều kỹ thuật PT ít xâm hại đã được nghiên 
cứu ứng dụng, nổi bật lên là kỹ thuật bóc nhân 
TTL bằng Laser Holmium (HoLEP). Phương 
pháp này được chứng minh là có hiệu quả tương 
đương với mổ mở nhưng mức độ xâm hại ít 
hơn, ít biến chứng hơn, thời gian nằm viện ngắn 
hơn, thời gian đặt thông niệu đạo ngắn hơn(2). 
HoLEP qua ngả nội soi niệu đạo kết hợp với 
máy xay mô được Gilling PJ thực hiện lần đầu 
tiên vào năm 1998. Trải qua hai thập kỹ, kỹ thuật 
này ngày càng hoàn thiện và được áp dụng rộng 
rãi ở nhiều trung tâm niệu khoa trên thế giới. 
Theo khuyến cáo hướng dẫn điệu trị của hội 
niệu khoa Châu Âu, hội niệu khoa Hoa Kỳ, 
HoLEP là chọn lựa đầu tiên trong điều trị ngoại 
khoa TSLT-TTL thể tích lớn(3,4,5,6). 
Mặc dù có nhiều lợi điểm, nhưng hiện nay 
HoLEP vẫn chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt 
Nam. Năm 2019, tác giả Nguyễn Ngọc Châu, 
Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng đã báo cáo 25 trường 
hợp bóc nhân TTL có thể tích lớn bằng Laser 
Holmium đầu tiên tại bệnh viện Bình Dân, bước 
đầu cho kết quả rất khả quan(7) và hiện tại chưa 
có một báo cáo chi tiết nào khác về hiệu quả điều 
trị của phương pháp này. Vậy “Kết quả sớm 
phương pháp bóc nhân tuyến tiền liệt bằng 
Laser Holmiumtại bệnh viện Bình Dân như thế 
nào?” Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu HoLEP một cách tổng quan với số 
liệu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn nhằm 
vào các mục tiêu sau. 
Mục tiêu 
Đánh giá kết quả sớm phương pháp HoLEP 
trong điều trị TSLT-TTL tại bệnh viện Bình Dân. 
Đánh giá tính hiệu quả: Xác định sự thay đổi 
của điểm số IPSS, QoL, Qmax sau phẫu thuật 1 
tháng, 3 tháng, 6 tháng. 
Đánh giá tính an toàn: Xác định tỷ lệ biến 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 209 
chứng chảy máu trong và sau mổ, tỷ lệ số 
trường hợp mắc hội chứng CĐNS, tỷ lệ trường 
hợp tổn thương cổ bàng quang, tổn thương bàng 
quang, thủng vỏ tuyến tiền liệt, tiểu không kiểm 
soát, tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu. 
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả các bệnh nhân (BN) nam đến khám vì 
triệu chứng bế tắc đường tiểu dưới do TSLT-TTL 
có chỉ định can thiệp ngoại khoa được điều trị tại 
bệnh viện Bình Dân từ 1/1/2019 đến 31/7/2020. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Tất cả BN được chẩn đoán TSLT-TTL có chỉ 
định điều trị ngoại khoa và thể tích bướu TTL 
lớn hơn 80 mL và đồng ý phẫu thuật HoLEP. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Kết quả giải phẫu bệnh trước và sau PT là 
ung thư TTL. Bàng quang thần kinh, BN có TSLT-
TTL nhưng kèm theo hẹp niệu đạo (NĐ), di 
chứng chấn thương khung chậu và khớp háng. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường 
hợp (TH). 
Phương pháp thực hiện 
Tất cả BN được thăm khám lâm sàng, đánh 
giá IPSS, Qmax, QoL, làm các xét nghiệm 
chuyên biệt, các xét nghiệm chuẩn bị cho cuộc 
mổ, giải thích và cam kết đồng ý phẫu thuật. Ghi 
nhận các chỉ số Hb,Na+ trước và sau mổ, PSA, 
niệu dòng đồ, thể tích TTL, thời gian mổ, máu 
mất, truyền máu, thời gian nằm viện, thời gian 
đặt thông NĐ, các BC trong và sau PT, theo dõi 
sau PT 1,3,6 tháng. Đánh giá kết quả điều trị theo 
Homma Y(8). Đánh giá BC phẫu thuật TSLT-TTL 
theo Clavien – Dindo(9). 
Tiến hành 
Sau khi nội soi niệu đạo, BQ đánh giá và 
kiểm tra tất cả các thương tổn, bắt đầu xác định 
các điểm mốc: 5, 7, 12 giờ trong đó có 2 điểm 
ngay sau ụ núi. Tiến hành thực hiện 2 đường cắt 
tại vị trí 5 và 7 giờ từ cổ BQ đến trước ụ núi, 
chiều sâu đến lớp vỏ của nhân TTL. Bắt đầu tiến 
hành bóc nhân thùy giữa theo hướng từ ụ núi 
vào cổ BQ, vừa bóc nhân vừa cầm máu điểm. 
Tiếp tục thực hiện một đường cắt rạch tại vị trí 
12 giờ, bóc nhân thùy trái và thùy phải với cách 
thức tương tự, nhân bướu cuối cùng được xay 
và hút ra bằng máy xay mô; thu và cân bệnh 
phẩm, gởi bệnh phẩm phân tích giải phẫu bệnh 
(4). 
Dụng cụ 
Tên máy Cyber Ho, công suất: 100W- 5J, 
bước sóng 2140nm, hãng sản xuất Quanta 
System, xuất xứ Ý, năm sản xuất 2016, loại dây 
laser phát tia ở đầu tận, sử dụng được nhiều lần 
550 µ, tay cắt của máy Laser là loại có lổ để đưa 
dây tia vào; Chức năng cắt đốt, cầm máu, bóc 
hơi, tán sỏi; Máy xay mô: Hawk, xuất sứ: Trung 
Quốc 
Thu thập và xử lýsố liệu 
Thu thập theo bảng thu thập số liệu và xử lý 
bằng ứng dụng phần mềm thống kê số liệu SPSS 
phiên bản 20.0. 
Y đức 
Nghiên cứu (NC) đã được thông qua Hội 
đồng Y đức của bệnh viện (BV) Bình Dân số 
397/QĐ- BVBD. 
KẾT QUẢ 
Có 63 TH thoả tiêu chuẩn chọn mẫu. Tuổi 
trung bình là 66,3 ± 7,4, nhỏ nhất là 53 tuổi, lớn 
nhất là 84 tuổi. Thể tích TTL trung bình 91,16 ± 
13,35 ml; nhỏ nhất là 80ml, lớn nhất 135ml, trọng 
lượng mô bướu cắt được trung bình là 70,2 ± 
12,5 gram. Thời gian PT trung bình là 105 ± 17,94 
phút, sự khác biệt Hct, Hb và nồng độ Na+ trong 
máu trước và sau phẫu thuật không đáng kể; Hb 
giảm trung bình là 1,6 ± 0,6 g/dL, Na+ máu giảm 
trung bình là 1,67 ± 0,9 mmol/L. Thời gian đặt 
thông niệu đạo trung bình là 2,3 ± 0,9 ngày. Thời 
gian nằm viện trung bình 3,6 ± 1,3 ngày. 
- IPSS trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần 
lượt: 5,8; 4,8; 3,5(Hình 1). 
- QoL trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng lần 
lượt: 2,05; 1,69; 1,12. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 210 
- Qmax trung bình cải thiện sau 1,3,6 tháng 
lần lượt là: 16,1; 17,4; 18,9 ml/ giây. 
Hình 1: Sự cải thiện IPSS sau HoLEP 1 tháng, 3 
tháng, 6 tháng 
Hình 2: Sự thay đổi Qmax sau HoLEP 1 tháng, 3 
tháng, 6 tháng 
- Tỷ lệ kèm theo sỏi bàng quang 14,2%, tất cả 
các TH này đều được tán sỏi bằng Laser 
Holmium thành công với thời gian tán sỏi trung 
bình 9,7 ± 3,3 phút. 
- Không có TH nào xảy ra hội chứng cắt đốt 
nội soi, tỷ lệ chảy máu trong lúc mổ 11,1%, tuy 
nhiên không có TH nào cần truyền máu trong và 
sau mổ. Tỷ lệ BC chung 12,7%, tuy nhiên, không 
có BC nghiêm trọng như thủng trực tràng, thủng 
BQ; không có TH nào phải mổ lại. Một số BC ít 
nghiêm trọng như: tỷ lệ thủng vỏ TTL là 6,3%, tỷ 
lệ thủng cổ BQ 1,6%, bí tiểu sau rút thông niệu 
đạo 9,5%; tiểu không kiểm soát tạm thời 8%; 
nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6,3%; tỷ lệ hẹp cổ 
BQ 1,6%. 
BÀN LUẬN 
Xử trí sỏi bàng quang kèm theo trên bệnh nhân 
tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt 
Laser Holmium có bước sóng 2140 nm. Sự 
phát xạ của tia Laser theo cơ chế phát xung ngắt 
quãng, hấp thụ cao trong môi trường nước, khả 
năng xuyên mô khoảng 0,4 mm, năng lượng 
được phát ra ổn định phù hợp với tác dụng cắt 
đốt, bốc hơi và cầm máu mô. 
Ngoài ra, với chế độ phát xung ngắt quãng, 
tập trung năng lượng lớn, ổn định nên có tác 
dụng tán sỏi niệu hiệu quả, đặc biệt là sỏi bàng 
quang (BQ), một bệnh lý thường hay gặp trên 
những bệnh nhân TSLT-TTL, đây cũng là tính 
năng ưu việt chỉ có ở Laser Holmium. Trong NC 
của chúng tôi có 9 TH (14,2%) có sỏi BQ kèm 
theo được tán sỏi thành công bằng Laser 
Holmium mà không cần dùng thêm thiết bị tán 
sỏi nào khác. Nếu những TH này được bóc nhân 
bằng laser Thulium, Bipolar hay CĐNS thì bắt 
buộc phải dùng thêm một máy tán sỏi. Việc 
dùng Laser Holmium vừa bóc nhân TTL vừa tán 
sỏi BQ qua đó góp phần rút ngắn thời gian phẫu 
thuật. Thời gian tán sỏi trung bình là 9,67 ± 3,3 
phút, ngắn nhất 5 phút, lâu nhất 16 phút. Tỷ lệ 
có sỏi BQ kèm treo trên những bệnh nhân có 
TSLT-TTL cũng khá phổ biến. Theo tác giả 
Krambeck EA tỷ lệ có sỏi BQ kèm theo là 4,7%(10). 
Theo tác giả Shah HN có tỷ lệ sỏi BQ kèm theo là 
12,1%(11), tất cả các TH sỏi BQ này đều được tán 
sỏi bằng Laser Holmium thành công. 
Sinh thiết TTL có làm tăng tỷ lệ biến chứng 
trong mổ hay không? 
Để đánh giá sinh thiết TTL có làm tăng tỷ 
lệ BC trong mổ hay không chúng tôi phân 
thành 2 nhóm có sinh thiết và không sinh thiết 
TTL, phân tích cho thấy nhóm có sinh thiết 
TTL có tỷ lệ BC chung trong mổ 37,5% (3/8 
TH) cao hơn nhóm không sinh thiết có ý nghĩa 
thống kê (p <0,001). Đáng lưu ý, trong 4 TH 
sinh thiết 1-2 tuần trước HoLEP đều xảy ra BC, 
trong đó chủ yếu là chảy máu khó cầm, 3 TH 
chảy máu kèm theo thủng vỏ TTL, 1 TH chảy 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 211 
máu kèm thủng cổ BQ. Chúng tôi nhận thấy 
những trường hợp HoLEP sau sinh thiết 1-2 
tuần, trong lúc mổ thường chảy máu nhiều, 
khó cầm hơn những TH khác, giảm Hb trung 
bình những TH này 2,7g/dl, mặc dù vậy không 
có TH nào phải truyền máu trong mổ. Trong 
khi đó, có 4 TH sinh thiết trước PT hơn 1 tháng 
thì không xảy ra BC này, giảm Hb trung bình 
1,8g/dl, tỷ lệ này tương đương với nhóm 
không sinh thiết TTL (p <0,05). Hơn nữa, hiệu 
quả điều trị như cải thiện IPSS, QoL, Qmax 
giữa hai nhóm có và không sinh thiết TTL là 
tương đương nhau. Kết quả này cũng tương tự 
như nghiên cứu của Bell C (2019)(12). Vì vậy, 
sinh thiết TTL trước đó không nên được coi là 
một chống chỉ định đối với HoLEP 
Tính hiệu quả của HoLEP về cải thiện điểm số 
IPSS 
Trong mẫu NC của chúng tôi, điểm số IPSS 
trung bình trước mổ là 28,08 ± 3,2 điểm, trong đó 
thấp nhất là 20 điểm và cao nhất là 35 điểm. Tất 
cả 63 TH (100%) đều ở mức độ nặng (20 - 35 
điểm). Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 
tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 5,84 ± 1,48; 
4,47 ± 1,56 ; 3,52 ± 1,80. Điểm IPSS trước và sau 
PT khác nhau có ý nghĩa thống kê, cho thấy có 
sự cải thiện đáng kể điểm số IPSS sau PT (phép 
kiểm Paired Samples Test). Các triệu chứng 
đường tiết niệu dưới giảm đáng kể, cải thiện tốt 
so với trước mổ chiếm tỷ lệ 85,7%. Sau 3 tháng, 6 
tháng IPSS cải thiện tốt hơn là 94,8% và 98% 
(theo tiểu chuẩn của Homma Y)(8). Kết quả này 
tuy có thấp hơn một chút so với tác giả nước 
ngoài, có thể được giải thích do BN nhập viện 
đều có IPSS ở mức độ nặng. Theo tác giả 
Elmansy và cộng sự điểm IPSS trước mổ trung 
bình 22,4 ± 4,6. Điểm IPSS trung bình tái khám 
sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 9,3 ± 6,1; 
5,1 ± 3,9 ; 4,4 ± 4,8(13). Theo tác giả Gilling PJ (năm 
2000, 40TH), điểm IPSS trước mổ trung bình 24,2 
± 2,4. Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 
tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt là 8,6 ± 1,2; 4,8 ± 
0,8; 6,0 ± 1,0(14). Theo tác giả Naspro R(năm 2006, 
41TH) điểm IPSS trước mổ trung bình 20,1 ± 5,8. 
Điểm IPSS trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 
tháng, 6 tháng lần lượt là 6,9 ± 4,2; 3,9 ± 2,9; 8,4 ± 
5,9(15). 
Sự cải thiện điểm số QoL 
Trong NC của chúng tôi, điểm số QoL trung 
bình trước mổ là 5,06 ± 0,74 điểm, thấp nhất là 4 
điểm và cao nhất là 6 điểm. Trong đó mức độ 
không chịu được (5-6 điểm) có 48 TH chiếm 
76,2%, mức độ tạm được (3-4 điểm) chiếm 
23,8%. Điều này cho thấy chất lượng cuộc sống ở 
những bệnh nhân TSLT-TTL trong mẫu NC khá 
thấp. Sau phẫu thuật 1, 3, 6 tháng QoL đã cải 
thiện đáng kể lần lượt là 2,05 ± 0,49; 1,69 ± 0,6; 
1,17 ± 0,68. Kết quả này khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê (p <0,05) so với NC của các giả 
khác như Elmansy HM(năm 2012, 949 TH) điểm 
QoL trước mổ trung bình 4,2 ± 1,3. Điểm QoL 
trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 
tháng lần lượt là 2,4 ± 1,8; 1,8 ± 1,6; 1,6 ± 0,8(13). 
Theo tác giả Gilling PJ (năm 2000, 40TH) sự điểm 
QoL trước mổ trung bình 4,8 ± 1,1. Điểm QoL 
trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 
tháng lần lượt là 2,7 ± 0,4; 1,8 ± 0,4; 1,6 ± 0,3(14). 
Theo tác giả Naspro R (năm 2006, 41TH) điểm 
QoL trước mổ trung bình 4,07 ± 0,93. Điểm QoL 
trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 6 
tháng lần lượt là 1,4 ± 1,4; 1,0 ± 0,8; 1,7 ± 0,94(15). 
Sự cải thiện lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) 
Trong NC này, có 32 TH nhập viện vì bí tiểu 
tái phát nhiều lần và được đặt thông NĐ lưu để 
chuyển lưu nước tiểu tạm thời, 9 TH có sỏi BQ 
kèm theo, chúng tôi không đo niệu động đồ cho 
những TH này. Tiến hành đo niệu dòng đồ 22 
TH tiểu khó cho kết quả: lưu lượng dòng tiểu tối 
đa (Qmax) trung bình trước PT là 4,97 ± 1,89 ml/s ; 
thấp nhất là 2,34 mL/s và cao nhất là 10 
ml/s.Qmax sau mổ 1 tháng thấp nhất 12,5ml/s, 
cao nhất 20,4 ml/s, trung bình 16,09 ± 1,61ml/s, tỷ 
lệ không có bế tắc (Qmax >15 ml/giây) là 87,3% 
còn lại 12,7% còn bế tắc mức độ trung bình. Sau 
3 tháng, 6 tháng tỷ lệ Qmax trung bình là 17,41 ± 
2,03; 18,97 ± 2,56 Qmax về bình thường là 94,8% 
và 96,2% (theo Homma Y)(8). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 212 
Theo tác giả Elmansy HM (năm 2012, 
949TH), điểm trước mổ trung bình 8,0 ml/s, 
Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 
6 tháng lần lượt là 21,9 ml/s; 21,7 ml/s; 
24,9ml/s(13). Theo tác giả Gilling và cộng sự điểm 
Qmax trước mổ trung bình 8,28 ± 2,18 ml/s. 
Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 tháng, 
6 tháng lần lượt là 22,3 ± 2,3 ml/s; 22,4 ± 1,7 ml/s; 
21,3 ± 2,1 ml/s(14). Theo tác giả Naspro R điểm 
Qmax trước mổ trung bình 7,83 ± 3,42 ml/s. 
Điểm Qmax trung bình tái khám sau 1 tháng, 3 
tháng, 6 tháng lần lượt là 26,6± 8,7 ml/s; 22,2 ± 8,6 
ml/s; 22,3 ± 3,8 ml/s(15). 
KẾT LUẬN 
Phẫu thuật HoLEP cho những trường hợp 
TSLT-TTL có thể tích lớn là một PT an toàn, hiệu 
quả, BN trải qua HoLEP cho kết quả khả quan 
như không có TH mất máu phải truyền máu, cải 
thiện đáng kể IPSS, Qmax, QoL sau phẫu thuật 
theo dõi 1, 3, 6 tháng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Reich O, Gratzke C, Bachmann A, et al (2008). Morbidity, 
mortality and early outcome of transurethral resection of the 
prostate: a prospective multicenter evaluation of 10654 patient. J 
Urol, 180:246–249. 
2. Michalak J, Tzou D, Funk J, et al (2015). HoLEP: the gold 
standard for the surgical management of BPH in the 21(st) 
Century.Am J Clin Exp Urol, 1(3):36–42. 
3. Foster HE, Barry MJ, Dahm P, et al (2019). Surgical Management 
of Lower Urinary Tract Symptoms Attributed to Benign 
Prostatic Hyperplasia.AUA Guideline,200:612-619. 
4. Gilling PJ, Kennett K, Das AK, et al (1998). Holmium laser 
enucleation of the prostate (HoLEP) combined with 
transurethral tissue morcellation: an update on the early clinical 
experience.J Endourol, 12(5):457-459. 
5. Kevin T, Vary M (2010). American Urological Association 
Guideline: Management of Benign Prostatic Hyperplasia (BPH). 
American Urological Association, 62(2):1-496 
6. Rosette JD, Alivizatos G, Madersbacher S, et al, (2019). 
Guidelines on benign prostatic hyperplasia. European Association 
of Urology,40(3):256-263. 
7. Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2019). Bóc 
nhân tuyến tiền liệt bằng Laser Holmium trong điều trị tăng 
sinh lành tính tuyến tiền liệt thể tích lớn tại bệnh viện Bình Dân. 
Báo cáo Hội nghị Tiết niệu- Thận học toàn quốc, Hạ Long, 
Quảng Ninh, pp.110-115. 
8. Homma Y, Kawabe K, Tsukamoto T, et al (1996). Estimate 
criteria for efficacy of treatment in benign prostatic hyperplasia, 
J Urol, 3 (4):267-273 
9. Dindo D, Demartines N, Clavien P,et al (2004). Classification of 
surgical complications: a new proposal with evaluation in a 
cohort of 6336 patients and results of a survey.Ann Surg, 
240(2):205-213. 
10. Krambeck EA, Handa ES, Lingeman EJ, et al (2010). Experience 
with More Than 1000 Holmium Laser Prostate Enucleations for 
Benign Prostatic Hyperplasia.Journal of Urology, 183(3):1105-
1109. 
11. Shah HN, Mahajan AP (2007). Peri-operative complications of 
holmium laser enucleation of the prostate: experience in the first 
280 patients, and a review of literature.BJU International, 
100(1):94-101. 
12. Bell C, Sacha L (2019). Safety and efficacy of Holmium laser 
enucleation of the prostate (HoLEP) in patients with previous 
transperineal biopsy (TPB): outcomes from a dual-centre case 
control study".BMC Urology, 19 (97):1-7. 
13. Elmansy HM, Kotb A (2011). Holmium laser enucleation of the 
prostate: long-term durability of clinical outcomes and 
complication rates during 10 years of follow up. J Urol, 186:1972-
1976. 
14. Gilling PJ, Wilson LC (2011). Long-term results of a randomized 
trial comparing holmium laser enucleation of the prostate and 
transurethral resection of the prostate: results at 7 years.BJU Int, 
109:408-411. 
15. Naspro R, Suardi N, Salonia A, et al (2006). Holmium Laser 
Enucleation of the Prostate Versus Open Prostatectomy for 
Prostates >70 g: 24-Month Follow-up".Eur Urol, 50:563-568. 
Ngày nhận bài báo: 04/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_som_phuong_phap_boc_nhan_tuyen_tien_liet_ba.pdf