Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt thùy phổi với đường mở ngực xâm lấn tối thiểu tại Bệnh viện Việt Đức
Từ 6/2015 đến 11/2015 có 30 bệnh nhân
được phẫu thuật cắt thùy phổi qua đường mở ngực
ít xâm lấn. 22 nam/8 nữ, tuổi trung bình 48 (32-70
tuổi). Trong đó: 21 BN ung thư phổi, 2 BN phổi
biệt lập, 3 BN giãn phế quản, 1 BN u nấm phổi, 1
BN áp xe phổi, 2 BN kén khí phổi lớn. Không có tử
vong hay biến chứng lớn, thời gian phẫu thuật trung
bình 150 ± 30 (phút), số BN truyền máu trong mổ
3, thời gian rút dẫn lưu 4±1 ngày, thời gian nằm
viện 6±1 ngày. Đường mổ ngực ít xâm lấn là đường
mổ khả thi, hiệu quả, an toàn trong phẫu thuật cắt
thùy phổi, có thể khắc phục một số hạn chế của
đường mổ ngực sau bên kinh điển
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt thùy phổi với đường mở ngực xâm lấn tối thiểu tại Bệnh viện Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt thùy phổi với đường mở ngực xâm lấn tối thiểu tại Bệnh viện Việt Đức
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 30 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI VỚI ĐƢỜNG MỞ NGỰC XÂM LẤN TỐI THIỂU TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC Ngô Gia Khánh*, Đoàn Quốc Hưng*, Phạm Hữu Lư*, Nguyễn Hữu Ước* TÓM TẮT: Từ 6/2015 đến 11/2015 có 30 bệnh nhân đƣợc phẫu thuật cắt thùy phổi qua đƣờng mở ngực ít xâm lấn. 22 nam/8 nữ, tuổi trung bình 48 (32-70 tuổi). Trong đó: 21 BN ung thƣ phổi, 2 BN phổi biệt lập, 3 BN giãn phế quản, 1 BN u nấm phổi, 1 BN áp xe phổi, 2 BN kén khí phổi lớn. Không có tử vong hay biến chứng lớn, thời gian phẫu thuật trung bình 150 ± 30 (phút), số BN truyền máu trong mổ 3, thời gian rút dẫn lƣu 4±1 ngày, thời gian nằm viện 6±1 ngày. Đƣờng mổ ngực ít xâm lấn là đƣờng mổ khả thi, hiệu quả, an toàn trong phẫu thuật cắt thùy phổi, có thể khắc phục một số hạn chế của đƣờng mổ ngực sau bên kinh điển. Từ khóa: Mở ngực ít xâm lấn SUMMARY: Short term result of minimally invasive thoracotomy for lung lobectomy at Viet Duc hospital. From 1/2015 to 9/2015, 30 patients were operated with minimally invasive surgery. There were 22 males, 8 females, mean age was 48 years (range 32-70). Surgical indication was lung cancer 21, pulmonary sequestration 2, bronchiectasis 3, aspergillomas 1, lung abscess 1, primary pneumothorax 2. No mortality or major morbidity were recorded, operating time was 150±30 (minutes), intraoperative blood transfusion was in 3 patients, duration of chest tube drainage was 4±1 (days), length of hospital stay was 6±2 (days). We have demonstrated that the minimally invasive thoracotomy was feasible, safe, effective procedure for perfoming lobectomy, it restricted standard posterolateral disadvantages. Key words: Minimally invasive thoracotomy I. ĐẶT VẤN ĐỀ Phẫu thuật cắt thùy phổi là kỹ thuật kinh điển điều trị một số bệnh lý đƣờng hô hấp: ung thƣ phổi, giãn phế quản khu trú, kén khí lớn, áp xe phổi mãn tínhCắt thùy phổi với đƣờng mở ngực sau bên ngày càng ít đƣợc áp dụng do nhiều biến chứng (đau nhiều, thẩm mỹ, tăng nguy cơ nhiễm trùng, tổn thƣơng thần kinh) và dần đƣợc thay thế bằng các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu [2]. Phẫu thuật nội noi cắt thùy phổi có nhiều ƣu điểm, tuy nhiên do giá thành đắt nên hiện nay vẫn chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi. Phẫu thuật cắt thùy phổi với đƣờng mở ngực xâm lấn tối thiểu (là đƣờng mở ngực với chiều dài đƣờng rạch dƣới 8cm không cắt cơ [4]) giúp hạn chế các biến chứng của phẫu thuật mổ mở kinh điển mà không làm tăng chi phí phẫu thuật. Nghiên cứu này nhằm tổng kết kết quả bƣớc đầu áp dụng kỹ thuật này tại Bệnh viện Việt Đức* II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tƣợng: Mô tả cắt ngang hồ sơ các BN phẫu thuật cắt thùy phổi bằng đƣờng mở ngực xâm lấn tối thiểu tại Khoa Phẫu thuật Tim mạch Lồng ngực Bệnh viện Việt Đức từ tháng 6/2014 – 11/2015. 2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu. Mô tả các dấu hiệu lâm sàng, kỹ thuật mổ, kết quả sớm sau mổ bàn luận có so sánh với các tác giả khác. 2.3 Quy trình phẫu thuật - Chuẩn bị bệnh nhân: + Tƣ thế: Bệnh nhân nằm nghiêng 90°. Kê gối dƣới lƣng. Treo tay. * Khoa Phẫu thuật tim mạch và Kồng ngực Bệnh viện Việt Đức Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng Ngày nhận bài: 05/04/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/05/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Bùi Đức Phú ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI VỚI ĐƢỜNG MỞ NGỰC XÂM LẤN 31 + Vị trí kíp mổ: Phẫu thuật viên đứng phía trƣớc (phía bụng) BN. Phụ phẫu thuật đứng phía sau (phía lƣng) BN. Dụng cụ viên đứng cùng bên với phẫu thuật viên. - Gây mê: Gây mê toàn thân, nội khí quản thông khí chọn lọc một phổi - Kỹ thuật: Rạch da 6 - 8cm đƣờng ngực bên từ khoảng đƣờng nách trƣớc đến đƣờng nách sau khoảng khoang liên sƣờn IV, V. Cắt qua tổ chức dƣới da, lớp cân nông. Phẫu tích bó cơ lƣng rộng theo chiều dọc rồi kéo ra phía sau. Phẫu tích bó cuối cùng của cơ răng trƣớc rồi kéo ra trƣớc. Xác định khoang liên sƣờn: thông thƣờng nếu mổ cắt thùy trên thì vào qua khoang liên sƣờn IV, cắt thùy dƣới vào qua khoang liên sƣờn V. Cắt qua các cơ gian sƣờn để vào khoang màng phổi. Sử dụng 2 Finochietto: Finochietto thứ nhất làm rộng khoang liên sƣờn, Finochietto thứ 2 đặt vuông góc với Finochietto thứ nhất. Bộc lộ Tĩnh mạch, động mạch, phế quản rồi cắt nhƣ phẫu thuật kinh điển. Đóng vết mổ: tháo bỏ Finochietto, cầm máu mép vết mổ, không siết sƣờn, trả các cơ lƣng rộng và cơ răng trƣớc về vị trí cũ, khâu đóng vết mổ. Hình 1: Đặt các Finochietto, Hình 2: Thùy phổi, hạch sau khi cắt Hình 3: Độ dài đường rạch (7,5cm) Hình 4: Bệnh nhân 1 tháng sau mổ III. KẾT QUẢ: Từ 6/2015 – 11/2015 có 30 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu -Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu: Nam/Nữ: 22/8, Tuổi trung bình 48 (tuổi) -Đặc điểm giải phẫu bệnh: Adenocarcinoma của phổi 21, phổi biệt lập 2, Vách kén khí xơ hóa 2, Áp xe phổi 1, Giãn phế quản 3, U nấm Arpergilus 1 -Thời gian phẫu thuật trung bình 150 ± 30 (phút) -Không có tử vong trong và sau mổ -Không có nhiễm trùng vết mổ -Số bệnh nhân phải truyền máu trong mổ 5 (bệnh nhân) -Số lƣợng dẫn lƣu màng phổi trong ngày đầu tiên 180 ± 50 (ml) -Thời gian rút dẫn lƣu màng phổi 4 ± 1 (ngày) -Thời gian nằm viện 6 ± 2 (ngày) IV. BÀN LUẬN -Phẫu thuật mổ mở với đƣờng mở ngực sau 1 2 3 4 PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 32 bên là đƣờng mở ngực tiêu chuẩn đã đƣợc áp dụng rộng rãi. Đƣờng mổ này mang lại phẫu trƣờng rộng, có thể tiếp cận xử lý tất cả các tổn thƣơng của phổi trung thất. Tuy nhiên đƣờng mổ này gây tổn thƣơng cơ ngực do đó gây ra nhiều biến chứng sau mổ đáng kể là gây đau nhiều, giảm khả năng ho, giảm vận đông khớp vai, giảm chức năng phổi -Nhiều phƣơng pháp phẫu thuật nhằm hạn chế tối đa tổn thƣơng các cơ thành ngực đặc biệt là cơ lƣng rộng và cơ răng trƣớc đã đƣợc giới thiệu. Mở ngực đƣờng nách đƣợc mô tả bởi Baeza, Foster và đƣợc phổ biến bởi Ginsberg. Đƣờng mở ngực tách cơ đƣợc mô tả bởi Daniel M. Bethencourt và cộng sự vào năm 1988[1]. Nó đã đƣợc ủng hộ nhƣ một biện pháp giảm đau sau mổ, bảo tồn chức năng phổi và làm giảm các biến chứng sau phẫu thuật. Một lợi ích khác của đƣờng mổ này là trong những trƣờng hợp có biến chứng rò phế quản sau mổ. Cơ lƣng rộng và cơ răng trƣớc đƣợc dùng nhƣ một vật liệu để đóng lỗ rò, điều này là khó thực hiện đối với đƣờng mổ sau bên kinh điển[2]. Ngoài ra đƣờng mổ này cũng đảm bảo yếu tố thẩm mỹ khi gần nhƣ toàn bộ đƣờng rạch da đƣợc cánh tay che phủ. -Trong nghiên cứu của chúng tôi, với đƣờng rạch da tối thiểu không lớn hơn nhiều so với đƣờng rạch da để lấy bệnh phẩm trong phẫu thuật cắt thùy phổi có nội soi hỗ trợ (VATS) (khoảng 5cm) cho phép thực hiện kỹ thuật một cách thuận lợi mà không làm tăng nhiều thời gian phẫu thuật (150 ± 30 phút). So với đƣờng mở ngực kinh điển, đƣờng mở ngực không cắt cơ mất nhiều thời gian hơn để mở ngực ‘opening time‟ tuy nhiên thời gian đóng ngực „closing time‟ lại nhanh hơn do không phải thực hiện đƣờng khâu cân cơ thành ngực. Thời gian thực tế phẫu thuật (từ lúc đặt đến lúc rút Finochietto) phụ thuộc vào từng phẫu thuật viên, đối với phẫu thuật viên quen với trƣờng mổ nhỏ thì thời gian phẫu thuật cũng không lâu hơn so với đƣờng mổ kinh điển [2]. -Benedetti đánh giá tình trạng đau ngực 1 tháng sau phẫu thuật chỉ ra rằng tổn thƣơng thần kinh liên sƣờn là nguyên nhân dẫn đến đau kéo dài ở bệnh nhân sau mổ. Ông cũng nhận thấy rằng đƣờng mở ngực sau bên liên quan đến tổn thƣơng thần kinh liên sƣờn nhiều hơn là đƣờng mở ngực tách cơ. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nguyên nhân gây tổn thƣơng thần kinh liên sƣờn ở bệnh nhân sau mổ lồng ngực thƣờng do 2 lý do: Finochietto chèn vào bó mạch thần kinh liên sƣờn trong quá trình mổ và động tác siết sƣờn (khâu giữa xƣơng sƣờn trên và xƣơng sƣờn dƣới) với đƣờng mổ nhỏ banh sƣờn ở mức tối thiểu và không siết sƣờn sau mổ có thể là lý do đƣờng mổ không cắt cơ ít gây đau hơn [5]. -Akçali so sánh giữa hai kỹ thuật mở ngực kinh điển và mở ngực tách cơ nhận thấy: không có sự khác biệt về thời gian phẫu thuật, chức năng phổi, khả năng vận động khớp vai trong tuần đầu tiên sau mổ với đƣờng mở ngực không cắt cơ tốt hơn so với đƣờng mở ngực kinh điển [6]. -Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng, tuy thời gian rút dẫn lƣu màng phổi không có sự khác biệt, tuy nhiên số lƣợng dịch ra theo dẫn lƣu màng phổi trong ngày đầu tiên giảm hơn so với đƣờng mở ngực kinh điển 180±50 ml, có thể do không cắt ngang cơ nên hạn chế đƣợc chảy máu từ thành ngực. -Một ƣu điểm nữa là chúng tôi không ghi nhận trƣờng hợp nào bị nhiễm trùng vết mổ trong điều kiện chăm sóc, thay băng hàng ngày là không khác biệt. Với đƣờng mở ngực sau bên kinh điển, với việc cắt ngang các cơ thành ngực sau đó khâu đóng lại vết mổ không thể tránh khỏi việc thiểu dƣỡng và hoại tử một phần cơ ngực tại đƣờng mở, điều này dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. V. KẾT LUẬN Đƣờng mở ngực nhỏ không cắt cơ có thể thay thế đƣờng mở ngực sau bên kinh điển trong các phẫu thuật cắt thùy phổi trong một số bệnh lý không làm kéo dài thời gian phẫu thuật, mà lại có nhiều ƣu điểm hơn: ít đau hơn, phục hồi nhanh hơn, giảm tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ, có tính thẩm mỹ hơn. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI VỚI ĐƢỜNG MỞ NGỰC XÂM LẤN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Jesus Loscertales, Miguel Congregado, Sergio Moreno (2012), “Posterolateral thoracotomy without muscle division: a new approach to complex procedures”, Interact Cardiovasc Thorac Surg, Jan; 14(1): 2–4. 2.Athanassiadi K, Kakaris S, Theakos N, Skottis I (2007), “Muscle-sparing versus posterolateral thoracotomy: a prospective study”, Eur J Cardiothorac Surg, Mar;31(3) 3.Hazelrigg SR, Landreneau RJ, Boley TM, Priesmeyer M, Schmaltz RA (1991),“The effect of muscle-sparing versus standard posterolateral thoracotomy on pulmonary function, muscle strength, and postoperative pain”, J Thorac Cardiovasc Surg, Mar;101(3): 394-400. 4.Ufuk Çobanoğlu, Özcan Hız, Mehmet Melek, Yeşim Edirne (2011), “Is muscle-sparing thoracotomy advantageous?”, Türk Göğüs Kalp Damar Cer Derg; 19(1): 43-48 43 5.Mohamed A.F. Elshiekha, Tammy T.H. Lob, Alex R. Shipolinib and David J. McCormackb (2013), “Does muscle-sparing thoracotomy as opposed to posterolateral thoracotomy result in better recovery?”, Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery 16, 60–67. 6. Akçali Y, Demir H, Tezcan B (2003), “The effect of standard posterolateral versus muscle-sparing thoracotomy on multiple parameters”, The Annals of thoracic surgery, 76:4 Oct pg 1050-4.
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_som_phau_thuat_cat_thuy_phoi_voi_duong_mo_n.pdf

