Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật bắc cầu động mạch ở bệnh nhân tổn thương 3 nhánh động mạch vành
Mở đầu và mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật bắc cầu động mạch ở bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành tại Viện Tim Thành Phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp: Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cho các bệnh nhân được chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch vành bao gồm: nhánh trái trước xuống, nhánh động mạch vành mũ và nhánh động mạch vành phải. Thời gian theo dõi là 30 ngày sau mổ.
Kết quả: từ 09/2001 đến 02/2006 có tất cả 143 trường hợp bệnh nhân có tổn thương ba nhánh động mạch vành đủ theo tiêu chuẩn chọn bệnh. Tuổi trung bình là 61.3 ±8.5 tuổi (nhỏ nhất 35, lớn nhất 81 tuổi). Số cầu nối trung bình / bệnh nhân = 3 cầu nối. Tử vong 30 ngày sau mổ là 2.1%(3 trường hợp). Nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện có ý nghĩa về phân suất tống máu sau mổ so với trước mổ, đặc biệt ở nhóm được thực hiện từ 3 cầu nối trở lên. Theo phân tích đơn biến, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân >71 tuổi, bệnh nhân có nhồi máu cơ tim trong vòng 7 ngày trước mổ và mổ khẩn hoặc bán khẩn làm tăng nguy cơ tử vong sau mổ.
Kết luận: Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành cho nhóm bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành có kết quả tốt với tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày thấp và cải thiện có ý nghĩa chức năng co bóp cơ tim sau mổ
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật bắc cầu động mạch ở bệnh nhân tổn thương 3 nhánh động mạch vành
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG 47 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG 3 NHÁNH ĐỘNG MẠCH VÀNH Nguyễn Văn Phan* TÓM TẮT: Mở đầu và mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật bắc cầu động mạch ở bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành tại Viện Tim Thành Phố Hồ Chí Minh. Phương pháp: Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cho các bệnh nhân được chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch vành bao gồm: nhánh trái trước xuống, nhánh động mạch vành mũ và nhánh động mạch vành phải. Thời gian theo dõi là 30 ngày sau mổ. Kết quả: từ 09/2001 đến 02/2006 có tất cả 143 trường hợp bệnh nhân có tổn thương ba nhánh động mạch vành đủ theo tiêu chuẩn chọn bệnh. Tuổi trung bình là 61.3 ±8.5 tuổi (nhỏ nhất 35, lớn nhất 81 tuổi). Số cầu nối trung bình / bệnh nhân = 3 cầu nối. Tử vong 30 ngày sau mổ là 2.1%(3 trường hợp). Nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện có ý nghĩa về phân suất tống máu sau mổ so với trước mổ, đặc biệt ở nhóm được thực hiện từ 3 cầu nối trở lên. Theo phân tích đơn biến, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân >71 tuổi, bệnh nhân có nhồi máu cơ tim trong vòng 7 ngày trước mổ và mổ khẩn hoặc bán khẩn làm tăng nguy cơ tử vong sau mổ. Kết luận: Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành cho nhóm bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành có kết quả tốt với tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày thấp và cải thiện có ý nghĩa chức năng co bóp cơ tim sau mổ. Từ Khóa: Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, tổn thương ba nhánh động mạch vành. ABSTRACT: Objectives: Evaluating the short-term outcome of CABG on patients with 3-vessel disease at The Heart Institute of Hồ Chí Minh city. Method and stastistics: in this study, we focus on the 30-day outcome of patients with 3-vessel disease who underwent CABG. Results: from 09/2001 to 02/2006, there were 143 patients with 3-vessel diseaes, mean age was 61.3 ±8.5 ages (min 35- max 81), mean number of graft/patient was 3. 30-day mortality was 2.1% (3 patients). The study showed that there was a significant increasing in post- operative EF in comparison to pre-operation, especiallly in those who had more than 2 grafts. According to univariate analysis, patients over 71 year-old, having acute MI during 7 days before surgery or undergoing emergency CABG inceased the risk of mortality. Conclusion: CABG for patients with 3-vessel disease at our institute had a good result with low 30- day mortality and improved significantly post- operative EF. Key words: CABG, 3-vessel diease. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh mạch vành hay bệnh tim thiếu máu cục bộ xảy ra khi cơ tim không được tưới máu đủ do động mạch vành. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra bệnh động mạch vành, nhưng xơ vữa gây hẹp động mạch là nguyên nhân chính của bệnh[1]. Điều trị bệnh mạch vành có thể bằng nội khoa, can thiệp ĐMV qua da và phẫu thuật. * Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành là một trong các phẫu thuật có ảnh hưởng lớn đối với nền Y học hiện đại [2]. Trong phẫu thuật mạch vành có rất nhiều vấn đề cần quan tâm như là kết quả phẫu thuật, tỷ lệ biến chứng sau mổ, thời gian nằm hồi sức, sự cải thiện về mức độ suy tim trước và sau mổ, chức năng tim hồi phục sau mổ như thế nào, tỉ lệ tử vong sau mổ và các yếu tố nào là nguy cơ đối với tử vong v.v Theo dõi y văn nước ngoài thấy có rất nhiều nghiên cứu bàn luận về các vấn đề này, tuy nhiên ở trong nước những nghiên cứu về phẫu thuật bắc cầu động mạch vành chưa được thực hiện nhiều. Chính vì vậy chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu vấn đề này. * Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh Người chịu trách nhiệm khoa học:TS Nguyễn Văn Phan Ngày nhận bài: 15/01/2014 - Ngày Cho Phép Đăng: 17/02/2014 Phản Biện Khoa học: GS.TS. Đặng Hanh Đệ PGS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 48 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật bắc cầu động mạch vành ở bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Tiêu chuẩn chọn bệnh: Tất cả các trường hợp bệnh nhân hẹp ba nhánh động mạch vành được phẫu thuật tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 09/2001 đến tháng 02/2006. Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhân đã được nong và có đặt giá đỡ trong lòng động mạch vành trước khi phẫu thuật. Các bệnh nhân có bệnh lý van tim kèm theo. Thời gian theo dõi bệnh nhân: trong vòng 30 ngày sau mổ. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Thiết kế nghiên cứu: Đoàn hệ hồi cứu. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cho các trường hợp được chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch vành bao gồm: nhánh trái trước xuống, nhánh động mạch vành mũ và nhánh động mạch vành phải. Để chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch vành chúng tôi dựa vào tiêu chuẩn vàng là chụp cản quang động mạch vành. Các tiêu chuẩn chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch vành mà chúng tôi áp dụng là [3,4,5]: • Chẩn đoán hẹp ba nhánh động mạch khi cả ba nhánh đều hẹp có ý nghĩa (trên hình ảnh học đường kính của lòng động mạch hẹp ≥ 70%). • Tiêu chuẩn tương đương: nếu bệnh nhân có hẹp thân chung của động mạch vành trái (hẹp có ý nghĩa khi đường kính hẹp≥ 50%) thì đươc xem như hẹp hai nhánh động mạch trái trước xuống và nhánh động mạch vành mũ của động mạch vành trái. Như vậy hẹp thân chung ≥ 50% và hẹp nhánh phải ≥ 70% thì được xem như hẹp ba nhánh động mạch vành. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Hồi cứu hồ sơ bệnh án từ tháng 09 năm 2001 đến tháng 02 năm 2006, chúng tôi ghi nhận có 143 trường hợp bệnh nhân có tổn thương ba nhánh động mạch vành đủ theo tiêu chuẩn chọn bệnh. Tuổi trung bình là 61.3 ± 8.5 tuổi (35- 81 tuổi). Tỉ lệ giữa bệnh nhân nam và nữ là 2,2/1 (98/45), nam có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nữ, p = 0,001. Đa số các bệnh nhân đều được mổ chương trình 138 trường hợp (96,5%) 02 trường hợp (1,4%)mổ khẩn vì NMCT cấp có choáng tim huyết động không ổn định và 03 trường hợp(2,1%) NMCT cấp nhưng can thiệp động mạch vành qua da thất bại. Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ trước mổ. Yếu tố nguy cơ Số trường hợp % Tăng huyết áp 107 74,8 Nhồi máu cơ tim cũ 53 37,1 Đái tháo đường 40 28 Rối loạn lipide máu 36 25,2 Thuốc lá 24 16,8 Tai biến mạch máu não 7 4,9 Nhồi máu cơ tim dưới 7 ngày 4 2,8 Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính 4 2,8 Suy thận mãn 3 2,1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG 49 Các bệnh nhân đa số có NYHA độ II trước mo(90 trường hợp (62.9%), độ I 26 trường hợp (18.2%), độ III 25 trường hợp (17.5%) và độ IV 2 trường hợp (1.4%). Tất cả các bệnh nhân có nhịp xoang. Điện tâm đồ Bình thường 80 trường hợp (55,9%), ĐTĐ có dấu nhồi máu cũ 30 trường hợp (20,9%), ĐTĐ có dấu thiếu máu cơ tim 30 trường hợp (20,9%), ĐTĐ có dấu hiệu NMCT cấp 3 trường hợp (2,3%). Tần suất bệnh nhân bị hẹp thân chung kèm theo là 56 trường hợp (39,2%), không hẹp = 87 trường hợp (60,8%). Thời gian chạy máy tim phổi trung bình là 154,5 ± 33,8 phút, Thời gian kẹp động mạch chủ trung bình là 95,6 ± 20,5 phút. Số cầu nối trung bình / bệnh nhân = 3,2 ± 0,7 cầu nối. Trung vị = 3 (2 – 5). Bảng 2: Các loại mạch máu được sử dụng: Loại mạch máu được sử dụng Số trường hợp sử dụng % Động mạch ngực trong trái 143 100% Tĩnh mạch hiển trong 137 95,8 % Động mạch quay 71 49,7% Các thủ thuật và điều trị khác Đặt bóng đối xung nội động mạch chủ 3(2.1%), Thẩm phân phúc mạc 4 (208%), Sử dụng thuốc vận mạch 33 (23.2%) Số trường hợp mổ lại là 12 trường hợp (8,4%). Trong đó: 9 (75%)trường hợp mổ lại do chảy máu. 3 (25%) trường hợp mổ lại do nhiễm trùng trung thất. Thời gian thở máy sau mổ trung bình là 11.9 ± 5.6 giơ. Thời gian nằm hồi sức trung bình là 1.76 ± 0.5 ngày.Thời gian nằm viện trung bình là 16.2± 6.2 ngày. Bảng 3: Các biến chứng sau mổ Biến chứng Số trường hợp % Rung nhĩ 15 10,5 Chảy máu sau mổ 9 6,3 Tràn máu màng phổi 8 5,6 Suy thận cấp 8 5,6 Nhồi máu cơ tim sau mổ 5 3,5 Nhiễm trùng vết mổ 4 2,8 Nhiễm trùng trung thất 3 2,1 Tràn dịch màng phổi 3 2,1 Trong thời gian sau hồi sức tất cả bệnh nhân hậu phẫu xa đều có nhịp xoang. Không có trường hợp nào đau ngực sau mổ trong thời gian hậu phẫu xa. Tử vong = 3 trường hợp (2,1 %) trong nghiên cứu của chúng tôi thấy có 2 trường hợp (1,4%) tử vong do tim và 1 trường hợp (0,7%) bệnh nhân bị suy đa cơ quan. Trong nghiên cứu của chúng tôi có sự tăng có ý nghĩa về phân suất tống máu trước mổ 57,9 ± 12,1và sau mổ 61,5 ± 11 với P < 0.001. So sánh Phân suất tống máu trung bình trong các nhóm được thực hiện số lượng cầu nối khác nhau: Nghiên cứu xác định không có sự cải thiện về phân suất tống máu nếu chỉ thực hiện 2 cầu nối. Bệnh nhân được thực hiện từ 3 cầu nối trở lên thì sự cải thiện về phân suất tống máu trước và sau mổ mới có ý nghĩa thống kê. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 50 Bảng 4: Sự thay đổi phân suất tống máu trung bình (EF %) ở các nhóm được thực hiện số lượng cầu nối khác nhau: Phân suất tống máu trung bình (EF %) Trước mổ Sau mổ P Nhóm chỉ thực hiện 2 cầu nối (N=19) 56,3 ± 11 57,9 ± 10,7 P = 0,45 Nhóm được thực hiện 3 cầu nối (N=75) 57,9 ± 11,6 60,6 ± 11,3 P = 0,042 Nhóm được thực hiện ≥ 4 cầu nối (N=46) 59,1 ± 13,1 62,8 ± 10,6 P = 0,035 Dùng phép kiểm T cho hai nhóm độc lập cho thấy nhóm tử vong có tuổi trung bình lớn hơn có ý nghĩa so với nhóm không tử vong, P < 0,05. Bảng 5. Tuổi trung bình trong hai nhóm tử vong và không tử vong n Trung bình ± ĐLC Nhóm tử vong 3 71 ± 3,4 (tuổi) Nhóm không tử vong 140 61,1 ± 8,5 (tuổi) P = 0,045 Phân tích thống kê cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa tiền căn nhồi máu cơ tim dưới 7 ngày và tử vong sau mổ với p = 0,002. Bệnh nhân có bị nhồi máu cơ tim trong vòng 7 ngày trước mổ có nguy cơ tử vong sau mổ cao Bảng 6. Mối liên quan giữa tiền căn nhồi máu cơ tim < 7 ngày và tử vong sau mổ. Tử vong Không có Tổng số Không 138 1 139 Nhồi máu cơ tim < 7 ngày Có 2 2 4 χ2 = 45,8 P = 0,002 OR =4,9 (2,2-7,7) Tổng số 152 4 143 Phân tích thống kê cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa loại phẫu thuật và tử vong, p < 0,001. Bệnh nhân mổ trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn có nguy cơ tử vong cao. Bảng 7. Mối liên quan giữa loại phẫu thuật và tử vong sau mổ Tử vong Không có Tổng số Chương trình 137 1 138 Loại phẫu thuật Mổ khẩn và bán khẩn 3 2 5 χ2= 36,2 P=0,003 OR = 4,5 (1,9-7,2) Tổng số 140 3 143 Tiểu đường làm tăng nguy cơ nhiễm trùng trung thất sau mổ, p = 0,02 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG 51 Bảng 8: Mối liên quan giữa tiền căn tiểu đường và nhiễm trùng trung thất. Nhiễm trùng trung thất Không có Tổng số Không 103 0 103 Tiểu đường Có 37 3 40 Tổng số 140 3 143 χ2= 7,8 P = 0,02 Nhóm suy thận cấp sau mổ có tuổi trung bình lớn hơn có ý nghĩa so với nhóm không có suy thận cấp, với p = 0,001. Bảng 9: So sánh tuổi trung bình trong hai nhóm có và không có suy thận sau mổ. n Trung bình ± ĐLC Suy thận cấp 8 71,2 ± 6,5(tuổi) Không suy thận cấp 135 60,7 ± 8,3(tuổi) P = 0,001 Phân tích thống kê cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa suy tim làm giảm cung lượng tim sau mổ và suy thận cấp. Bảng 10: Mối liên quan giữa suy tim sau mổ có cung lượng tim thấp và suy thận cấp. Suy thận cấp Không có Tổng số không 108 2 110 Suy tim làm giảm cung lượng tim có 27 6 33 Tổng số 135 8 143 χ2= 9,9 P = 0,001 Nhóm rung nhĩ có thời gian nằm hồi sức lâu hơn có ý nghĩa so với nhóm có nhịp xoang, P = 0,006 và có thời gian nằm viện lâu hơn có ý nghĩa so với nhóm có nhịp xoang, P < 0,001 Bảng 11: Mối liên quan giữa thời gian nằm hồi sức và rung nhĩ sau mổ. n Trung bình ± ĐLC Rung nhĩ 15 3,2 ± 2 (ngày) Nhịp xoang 128 1,6 ± 1(ngày) P = 0,006 Bảng 11: Mối liên quan giữa thời gian nằm viện và rung nhĩ sau mổ. n Trung bình ± ĐLC Rung nhĩ 15 21,7 ± 8,6 (ngày) Nhịp xoang 128 15,5 ± 5,6 (ngày) P < 0,001 PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 52 BÀN LUẬN Nghiên cứu gồm 143 trường hợp bệnh nhân mổ bắc cầu nối động mạch vành cho nhóm hẹp 3 nhánh động mạch vành có tuổi trung bình = 61,3 ± 8,5 tuổi (nhỏ nhất là 35 tuổi và lớn nhất là 81 tuổi). Nhóm bệnh nhân có tuổi trên 51 chiếm tỉ lệ là 88,1%. Khi so sánh độ tuổi trung bình trong các nghiên cứu khác, chúng tôi thấy tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối thấp hơn so với nghiên cứu của Gaudino M[6] và Mack MJ[7]. Tuổi trung bình của bệnh nhân cao rất phù hợp với quá trình tiến triển của bệnh xơ vữa động mạch vành và tuổi trung bình của bệnh nhân phẫu thuật mạch vành tại Việt Nam cũng cao gần tương đương với thế giới. Tỉ lệ giữa bệnh nhân nam và nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,2/1 (98/45), p = 0,001. Chúng tôi thấy giới nam có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nữ, tỉ lệ mắc bệnh của giới nam là 67%. Nghiên cứu của Mozes B[8] có tỉ lệ mắc bệnh của giới nam là 78,7%. Nghiên cứu của Tavilla G[9] có tỉ lệ nam giới mắc bệnh lên đến 95%. Điều này phù hợp với sinh lý bệnh của bệnh lý XVĐM, nam giới có nguy cơ mắc bệnh mạch vành rất cao. Vấn đề lựa chọn mạch máu làm cầu nối, việc nối động mạch ngực trong trái vào động mạch xuống trước trái kèm với các cầu nối bổ sung bằng tĩnh mạch hiển trong được xem là phương pháp bắc cầu nối kinh điển. Theo tác giả Abramov D[10] tỉ lệ sử dụng động mạch ngực trong trái là 84 -91,2 %. Theo khuyến cáo của Trường Môn Tim Mạch/ Hội Tim Mỹ 2004[5], động mạch ngực trong trái phải được sử dụng và ưu tiên tái tưới máu cho nhánh trái trước xuống. Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ sử dụng động mạch ngực trong là 100% và ưu tiên để nối vào động mạch xuống trước trái. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ sử dụng tĩnh mạch hiển trong là 95,8 % và tỉ lệ sử dụng động mạch quay là 49,7% để làm các cầu nối không có cuống từ động mạch chủ xuống các động mạch vành (bảng 3.4). Các loại mạch máu này là các mạch máu nông và dễ lấy. Tĩnh mạch hiển trong có nhược điểm lớn là tỉ lệ hẹp miệng nối cao, tỉ lệ tắc miệng nối sau 5 năm có thể lên đến 25- 30%[2,5]. Tĩnh mạch hiển trong không sử dụng được trong trường hợp bệnh lý như giãn tĩnh mạch nông và thuyên tắc tĩnh mạch chi dưới. Tuy nhiên trong thực hành lâm sàng, chúng tôi nhận thấy tĩnh mạch hiển trong là mạch máu lấy dễ và nhanh nhất vì vậy rất hữu ích trong những trường hợp cấp cứu. Giáo sư Alain Carpentier là người đầu tiên báo cáo (1973)sử dụng động mạch quay để làm cầu nối và được thực hiện sau đó bởi Acar[11]. Chúng tôi cũng sử dụng động mạch quay với tỉ lệ là 51,3%. Động mạch quay có nhược điểm là cũng bị XVĐM như các động mạch khác đặc biệt ở các bệnh nhân lớn tuổi. Theo chúng tôi siêu âm mạch máu để khảo sát động mạch quay và động mạch trụ tương ứng là rất quan trọng. Các nghiên cứu về khả năng bị tắc cầu nối sau mổ mạch vành cũng cho th ... o y văn thế giới. Tỉ lệ của chúng tôi khác biệt không có ý nghĩa so với nghiên cứu Gaudino M và Tavilla G, với p lần lượt là 0,37 và 0,5. Nhiễm trùng trung thất là biến chứng xuất hiện muộn sau mổ và là biến chứng cần phải mổ lại. Trong nghiên cứu này, chúng tôi có 3 trường hợp nhiễm trùng trung thất phải mổ lại, tỉ lệ là 2,1%. nghiên cứu của Tavilla G với 201 trường hợp mổ bắc cầu động mạch vành có tỉ lệ nhiễm trùng trung thất là 1,5% (3 trường hợp). Tỉ lệ này tương đương trong nghiên cứu của chúng tôi, p = 0,9.Nhiễn trùng trung thất trong các trường hợp này là do nhiễm trùng vết mổ lan rộng đến viêm mủ xương ức và lan đến trung thất. Tuy nhiên nhiễm trùng chỉ mới lan khu trú ngay sau xương ức và mặt trước tim.Các trường hợp này chúng tôi phải mổ lại rửa sạch vết mổ, xương ức và khoang màng ngoài tim; cắt bỏ mô viêm và xương chết và đặt dẫn lưu kín bằng redon với bình hút chân không từ 5 ống trở lên; kết hợp với điều trị kháng sinh phổ rộng và điều chỉnh theo kháng sinh đồ. Qua theo dõi tất cả các trường hợp đều lành tốt. Chúng tôi thấy rằng việc theo dõi chăm sóc vết mổ rất quan trọng không những giúp giảm tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ mà còn tránh được nhiễm trùng lan rộng. Trên thực hành lâm sàng chúng tôi nhận thấy khó để xác định được giai đoạn giữa viêm mủ xương ức và nhiễm trùng đã lan khu trú vào trung thất. Một số tác giả trên thế giới có nêu ra khái niệm nhiễm trùng xương ức sâu (deep sternal wound infection) theo chúng tôi là rất phù hợp trong các trường hợp này.Tuy nhiên để tránh nhiễm trùng lan rộng chúng tôi cho rằng theo dõi lâm sàng là rất quan trọng để phát hiện sớm các trường hợp nhiễm trùng vết mổ và viêm mủ xương ức.Theo Trường Môn Tim Mạch/Hội Tim Mỹ thì tỉ lệ của biến chứng nhiễm trùng trung thất sau khi mổ bắc cầu động mạch vành là từ 1- 4%. Biến chứng này có liên quan đến tiền căn tiểu đường đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân phải dùng insulin tiêm. Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi là: 2,1 % (3 trường hợp).Theo Trường Môn Tim Mạch/Hội Tim Mỹ 2004 thì nhóm bệnh nhân hẹp ba nhánh động mạch vành được xếp vào nhóm có nguy cơ tử vong cao[5]. Khảo sát y văn thế giới, theo phân tích của Nalsnyk L 2003 từ 176 nghiên cứu gồm 205.717 bệnh nhân, tỉ lệ tử vong trong 30 ngày sau phẫu thuật bắc cầu nối trung bình là 2,1 % dao động trong khoảng 0% đến 7.7 %[19]. Như vậy tỉ lệ tử vong của nhóm nghiên cứu này tương đối thấp. Trong các nghiên cứu về phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành trong nhóm hẹp ba nhánh động mạch vành có tỉ lệ tử vong như sau: Bảng 12: So sánh tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ. Tác giả Nghiên cứu Mẫu Tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày Gaudino M (2004,tại Ý)[6] 303 1 % (3 trường hợp)* Tavilla G (2004, tại Hà Lan) [9] 201 3 % (6 trường hợp)* Nalysnyk L (2003,tại Mỹ)[19] Tổng hợp 176 nghiên cứu 205717 2,1% (0 – 7,7%) Nghiên cứu của chúng tôi 143 2,1 % (3 trường hợp) PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 56 Ghi chú: * khác biệt không có ý nghĩa so với nghiên cứu của chúng tôi p>0,05 Như vậy tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày của chúng tôi cũng tương đối thấp và tương đương so với các nghiên cứu của Gaudino M và Tavilla G với giá trị p lần lượt là 0,6 và 0,8. Chúng tôi nghi nhận tử vong cũng xảy ra chủ yếu trong giai đoạn hậu phẫu sớm. Theo phân tích thống kê chúng tôi thấy trong nghiên cứu này tuổi trung bình của nhóm tử vong là 71 ± 3,4 tuổi, còn tuổi trung bình của nhóm không tử vong là 61,1 ± 8,5 tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,045 < 0,05, như vậy tuổi càng lớn thì nguy cơ tử vong càng cao (bảng 3.14). Trong các nghiên cứu của: Mozes B (1998, tại Israel, cỡ mẫu là 5100 trường hợp) khảo sát mối liên quan giữa tuổi và tử vong sau mổ tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ cao nếu bệnh nhân lớn hơn 60 tuổi và cao nhất nếu tuổi từ 75 tuổi trở lên [8]. Nghiên cứu của Michalopoulos A (1999, cỡ mẫu 2014 trường hợp) nghiên cứu các yếu tố nguy cơ đối với tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ cũng cho thấy là bệnh nhân nằm trong nhóm tuổi > 65 tuổi có nguy cơ tử vong rất cao[20]. Theo Trường Môn Tim Mạch/Hội Tim My thì tuổi có liên quan đến tử vong sau mổ, tuổi càng cao thì nguy cơ tử vong càng cao[5]. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với các tác giả trên, cho thấy người lớn tuổi nguy cơ tử vong sau mổ càng tăng. Trong nghiên cứu cho thấy. Trong 143 bệnh nhân thì có 5 bệnh nhân phải phẫu thuật trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn. Trong nhóm 5 bệnh nhân này thì có 2 trường hợp tử vong sau mổ (chiếm tỉ lệ là 66,7%). Trong khi đó, ở nhóm mổ chương trình (140 trường hợp) chỉ có một bệnh nhân tử vong(chiếm tỉ lệ 0,7%).Theo nghiên cứu của Mozes B (1998, tại Israel, cỡ mẫu là 5100 trường hợp) khảo sát mối liên quan giữa loại phẫu thuật và tử vong sau mổ cho kết quả như sau: nhóm bệnh nhân được mổ trong tình trạng bán khẩn nguy cơ tử vong cao hơn so với nhóm mổ chương trình với OR = 2,2 (1,6-3,2)và nhóm bệnh nhân mổ khẩn có nguy cơ tử vong cao nhất với OR = 11,15 (6,3-19,6). Theo Trường Môn Tim Mạch/Hội Tim Mỹ 2004, bệnh nhân được mổ trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn có nguy cơ tử vong cao. Nghiên cứu của Seccareccia F (tại Ý,2002) cũng cho thấy kết quả trên [21]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo kết quả thống kê có mối liên quan có ý nghĩa giữa loại phẫu thuật và tử vong sau mổ, với p= 0,003. Bệnh nhân phải mổ trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn có nguy cơ tử vong sau mổ cao, OR = 4,5 với độ tin cậy 95% (bảng 3.16).Theo kết quả phân tích các trường hợp mổ khẩn và bán khẩn trong nghiên cứu này: các trường hợp đều được chỉ định mổ do nhồi máu cơ tim cấp mà có sốc tim kèm theo hoặc can thiệp động mạch vành qua da thất bại. Trong nghiên cứu cho thấy. Trong 143 bệnh nhân thì có 4 bệnh nhân có tiền căn bị nhồi máu cơ tim trong vòng 7 ngày trước mổ. Trong nhóm 4 bệnh nhân này thì có 2 trường hợp tử vong sau mổ(chiếm tỉ lệ 50%). Trong khi đó, ở nhóm không bị nhồi máu cơ tim trước mổ (139 trường hợp) thì có một bệnh nhân tử vong(chiếm tỉ lệ 0,7). Theo kết quả thống kê có mối liên quan có ý nghĩa giữa tiền căn nhồi máu cơ tim < 7 ngày trước mổ với tử vong sau mổ với p = 0,002. Bệnh nhân có tiền căn nhồi máu cơ tim thì tăng nguy cơ tử vong sau mổ cao hơn những bệnh nhân không có tiền căn này, OR = 4,9 với độ tin cậy 95%. Theo nghiên cứu của Mozes B (1998) tại Israel, cỡ mẫu là 5100 trường hợp) khảo sát mối [8]liên quan giữa tiền căn nhồi máu cơ tim và tủ vong sau mổ thì cho thấy nhóm bệnh nhân có tiền căn này có nguy cơ tử vong rất cao với OR = 4 (2,5 – 6,6) tương tự với nghiên cứu của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy chính tình trạng nhồi máu cơ tim trước mổ làm cho tim trong tình trạng nguy hiểm thường buộc phải tiến hành phẫu thuật cấp cứu làm cho nguy cơ tử vong tăng cao. Qua các kết quả trên, đối với nhóm bệnh nhân mổ bắc cầu có tổn thương ba nhánh động mạch vành trong nghiên cứu này, chúng tôi bước đầu xác nhận được 3 yếu tố nguy cơ đối với tử vong trong vòng 30 ngày đó là: tuổi, tiền căn nhồi máu cơ tim < 7 ngày và phẫu thuật khẩn hoặc bán khẩn, Ý nghĩa như sau: Tuổi càng cao nguy cơ tử vong càng cao. Bệnh nhân có tiền căn nhồi máu cơ tim < 7 ngày nguy cơ tử vong càng cao. Bệnh nhân phải phẫu thuật trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn nguy cơ tử vong càng cao. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG 57 Theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận xét thấy rằng có sự tăng có ý nghĩa của phân suất tống máu sau mổ so với trước mổ. Xét giữa các nhóm EF sau mổ: số trường hợp có phân suất tống máu bình thường (EF > 60 %) hoặc giảm nhẹ (50 < EF ≤ 60 %) tăng cao hơn và số trường hợp có phân suất tống máu giảm vừa (35 <EF ≤ 50%) hoặc nặng (EF ≤ 35%) giảm đi có ý nghĩa thống kê với p<0,001(biểu đồ 3.9). Ngoài ra kết quả thống kê còn ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có sự tăng có ý nghĩa về phân suất tống máu trước và sau mổ ở nhóm bệnh nhân được thực hiện từ 3 cầu nối trở lên. Chúng tôi thấy rằng điều này là phù hợp bệnh nhân tổn thương trên cả ba nhánh động mạch vành, đây là bệnh lý nặng và lan tỏa do đó phẫu thuật nếu thực hiện tưới máu càng nhiều nơi càng phục hồi tưới máu được nhiều vùng của cơ tim, giảm đi sự rối loạn vận động của cơ tim và cuối cùng là tăng chức năng co bóp của cơ tim. Trong phẫu thuật đối với nhóm bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành chúng tôi luôn cố gắng thực hiện đủ số lượng các cầu nối để tưới máu lại cho toàn bộ các vùng sau hẹp, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi có 19 trường hợp (13,3 %) chỉ thực hiện được hai cầu nối. Số lượng cầu nối phụ thuộc rất nhiều vào việc đánh giá mạch vành trong lúc mổ. Mạch vành sau vị trí hẹp nếu có kích thước quá nhỏ hoặc tổn thương xơ vữa dài và lan rộng thì không thể thực hiện cầu nối được. Theo tác giả Bell MR [3] việc tái tưới máu lại cho toàn bộ hệ thống mạch vành luôn là mục tiêu mong muốn, tuy nhiên mục tiêu này không phải lúc nào cũng có thể đạt được. Theo tác giả này, việc tái tưới máu toàn bộ cho hệ thống động mạch vành có lợi ích nhất trong các trường hợp tổn thương ba nhánh động mạch vành và các trường hợp có chức năng thất trái kém. Tuy nhiên phân suất tống máu trong vòng 30 ngày sau mổ chưa cải thiện nhiều vì còn trong giai đoạn sớm. Quá trình hồi phục của cơ tim cho đến ổn định cần thời gian dài hơn. Vì vậy kết quả của chúng tôi mặc dù rất khả quan đối với kết quả phẫu thuật bắc cầu động mạch vành ở nhóm bệnh nhân tổn thương cả ba nhánh động mạch vành nhưng cần phải nghiên cứu kết quả ở các thời điểm xa hơn. KẾT LUẬN Đối với nhóm bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành có kết quả như sau: 1. Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành cho nhóm bệnh nhân tổn thương ba nhánh động mạch vành có kết quả tốt với tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày thấp và cải thiện có ý nghĩa chức năng co bóp cơ tim sau mổ. 2. Các yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ tử vong đối với nhóm nghiên cứu này là: • Tuổi cao. • Phẫu thuật trong tình trạng khẩn hoặc bán khẩn. • Tiền căn có nhồi máu cơ tim < 7 ngày trước mổ. 3. Nên thực hiện từ 3 cầu nối trở lên đối với nhóm bệnh nhân hẹp ba nhánh động mạch vành để chức năng tim được cải thiện tốt. Hạn chế của đề tài: Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ chưa tìm thấy hết được các biến chứng khác sau phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành (như tổn thương thần kinh, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng phổi, rối loạn đông máu), và cũng chưa tìm thấy được các mối liên quan có ý nghĩa giữa các yếu tố nguy cơ khác (như là giới tính, tiền căn tiểu đường, tiền căn suy thận, chức năng thất trái trước mổ) với tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Nguyễn Vinh, Suy động mạch vành mãn. Siêu âm tim và bệnh lý tim mạch tập II. Tái bản lần III. 2003, Nhà xuất bản Y học: TP. Hồ Chí Minh. tr. 216 – 224 2. Sellke FW, Mac Ruel, Surgical treatment of coronary artery disease and its complications, in Sabiston and Spencer. Surgery of the chest. 2005, Anne Lenehan philadelphia. p. 1459-1586 3. Bell MR, Gersh BJ, HV Schaff, DR Holmes, Jr, LD Fisher, EL Alderman (1992),"Effect of completeness of revascularization on long-term outcome of patients with three-vessel disease undergoing coronary artery bypass surgery. A report from the Coronary Artery Surgery Study (CASS) Registry."Circulation, (86), p.446-457. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 58 4. CASS (1983),"CASS Principal Investigators and Their Associates: Coronary Artery Surgery Study (CASS): a randomized trial of coronary artery bypass surgery; survival data. "Circulation, (68), p.939. 5. Eagle KA, Guyton RA, et al (2004),"ACC/AHA 2004 guideline for coronary artery bypass graft surgery",www.americanheart.org 6. Gaudino M, Alessandrini F, Glieca F, et al (2004),"Effect of surgical revascularization of a right coronary artery pibutary of an infarcted nonischemic territory on the outcome of patients with three-vessel disease: A prospective randomized pial",J Thorac Cardiovasc Surg, (127), p.435-439. 7. Mack MJ, Pfister A, Bachand D (2004),"Comparison of coronary bypass surgery with and without cardiopulmonary bypass in patients with multivessel disease",J Thorac Cardiovasc Surg, (127), p.167-173. 8. Mozes B, Olmer L, Noya Galai et al (1998),"A national study of postoperative mortality associated with coronary artery bypass grafting in Israel",Ann Thorac Surg, (66), p.1254-1262. 9. Tavilla G, Kappetein AP, Braun J, et al (2004),"Long-Term Follow-Up of Coronary Artery Bypass Grafting in Three-Vessel Disease Using Exclusively Pedicled Bilateral Internal Thoracic and Right Gaspoepiploic Arteries",Ann Thorac Surg, (77), p.794-799. 10. Abramov D, Tamariz MG, Fremes SE, et al (2000),"Trends in coronary artery bypass surgery results: a recent, 9-year study". Ann Thorac Surg, 70,p.84-90. 11. Waldhausen AJ, William SP, David B.Campbell, Coronay artery surgery, in surgery of the chest 1996, Mosby-year book.p. 555-577 12. Guru V, Fremes SE, Tu JT (2006),"How many arterial grafts are enough? A population - based study of midterm outcomes",J thorac Cardiovasc Surg, 131, p.1021-1028 13. Braunwald E (2001),"Heart Disease", 6 ed WB Saunders, p.1304. 14. Formica F, Ferro O, Pierpaolo G et al (2004),"Long-term follow-up of total arterial myocardial revascularization using exclusively pedicle bilateral internal thoracic artery and right gaspoepiploic artery",European Journal of Cardio-thoracic Surgery, (26), p.1141-1148 15. Bojar RM (2005),"Manual of perioperative care in adult cardiac surgery", 4 ed, Massachusetts,USA., Blackwell 16. Trần Quyết Tiến. Ghép mạch trong mổ bắc cầu động mạch vành tim. Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Lần Thứ 24.2007. Chuyên đề ngoại khoa, (11), tr.334-340 17. Nguyễn Thị Quý, Hoàng Anh Khôi và cs (09/2006)."Troponin I và troponin T trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim trong và sau mổ bắc cầu động mạch vành với tuần hoàn ngoài cơ thể". Thời sự Y học, 9, tr.3-8. 18. Botha P, Darbhamulla VN, Philip S. Lewis (2004),"Can cardiac troponins be used to diagnose a perioperative myocardial infarction post cardiac surgery?"Interact CardioVasc Thorac Surg (3), p.442-449. 19. Nalysnyk L, Fahrback K, Reynolds MV, et al (2003),"Adverse events in coronary bypass graft trials: a systemic review and analysis",Heart, 89, p.767-772. 20. Michalopoulos A, Tzelepis G, Urania D (1999),"Determinants of Hospital Mortality After Coronary Artery Bypass Grafting",Chest, (115), p.1598-1603 21. Seccareccia F, et al. (2006),"The Italian CABG Outcome Study: short-term outcomes in patients with coronary artery bypass graft surgery",European Journal of Cardio-Thoracic Surgery (29), p.56-64.
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_som_phau_thuat_bac_cau_dong_mach_o_benh_nha.pdf

