Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018

Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm 1: gồm

30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30

trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/

lần/ ngày. Kết quả sau 3 tháng phục hồi chức năng (PHCN), điểm GMFM trung bình trong

nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự thay đổi điểm

GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau: mốc ngồi bò – quỳ tăng nhiều nhất

với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm. Xét

về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng can thiệp PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong

đó hầu hết trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%. Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi, 86,7% trẻ cải thiện

nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can

thiệp 3 tháng. Nhóm trẻ < 4="" tuổi="" tiến="" bộ="" tốt="" hơn="" trẻ=""> 4 tuổi. Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần

cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh khác kèm theo

pdf 13 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018

Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG 
VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI 
TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG 
NĂM 2018
Nguyễn Thị Thanh Nhàn1, Dương Văn Tâm1
1 Bệnh viện Châm cứu trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Dương Văn Tâm. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 01/3/2018; Ngày phản biện khoa học: 15/3/2019; Ngày duyệt bài: 25/3/2019
TÓM TẮT
Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm 1: gồm 
30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30 
trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/ 
lần/ ngày. Kết quả sau 3 tháng phục hồi chức năng (PHCN), điểm GMFM trung bình trong 
nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự thay đổi điểm 
GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau: mốc ngồi bò – quỳ tăng nhiều nhất 
với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm. Xét 
về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng can thiệp PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong 
đó hầu hết trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%. Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi, 86,7% trẻ cải thiện 
nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can 
thiệp 3 tháng. Nhóm trẻ 4 tuổi. Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần 
cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh khác kèm theo.
Từ khóa: bại não, phục hồi chức năng, châm cứu
Abstract
EVALUATION OF CRUDE MOVEMENT REHABILITATION IN CHILDREN AGED 
2 - 6 YEARS OLD IN THE NATIONAL HOSPITAL OF ACUPUNCTURE IN 2018
The study used a randomized controlled clinical trial design. Group 1: 30 children are 
traditionally massaged and acupressured in 20 - 30 minutes everyday. Group 2: 30 children 
are massaged, acupressured and do movement exercises in 60 minutes everyday. Results of the 
study showed that after 3 months, the average GMFM score in the study group of cerebral palsy 
children in crude milestones increased by 31.4 points. The change in GMFM score among the 
children’s coarse milestones was different: the bull-knee molded score was 48.7 points, the lowest 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 25
NGHIÊN CỨU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bại não là một dạng đa tàn tật mãn tính, 
đa dạng về mặt bệnh học và là một trong 
những nguyên nhân chính gây tàn tật ở trẻ 
em [1]. Trên thế giới, năm 2002 số ca mắc bại 
não chiếm tỷ lệ 1,8 - 2,5/1000 trẻ sơ sinh sống 
[2]. Ở Việt Nam, theo thống kê của Bệnh 
viện Châm cứu TW, hàng năm có trên 3000 
lượt trẻ bị bại não và tự kỷ đến khám và điều 
trị. Trong những năm gần đây, số lượng trẻ 
bại não đến điều trị tại Bệnh viện Châm cứu 
TW có xu hướng ngày càng tăng. Năm 2016 
tổng số trẻ điều trị bại não điều trị là 1.743 
trẻ, chiếm 74,61% tổng số bệnh nhi nằm viện 
[3]. Phục hồi chức năng cho trẻ bại não bao 
gồm nhiều lĩnh vực, trong đó PHCN vận 
động đóng vai trò quan trọng đối với sự phát 
triển của trẻ bại não. Tại Bệnh viện Châm 
cứu TW, điều trị PHCN cho trẻ bại não ngoài 
điện châm, thủy châm, điều trị bằng tia hồng 
ngoại, cấy chỉ, ngôn ngữ trị liệu thì các bài 
tập vận động thụ động, các kỹ thuật tạo thuận 
kết hợp với xoa bóp bấm huyệt (XBBH), tập 
với dụng cụ đơn giản đã đem lại hiệu quả rất 
đáng ghi nhận. Với mong muốn nâng cao 
hiệu quả phục hồi vận động cho trẻ, giúp trẻ 
sớm hòa nhập với gia đình và xã hội, đề tài 
được tiến hành với mục tiêu: Đánh giá kết 
quả phục hồi chức năng vận động của trẻ bại 
não từ 2- 6 tuổi bằng xoa bóp bấm huyệt và 
tập vận động năm 2018.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 60 trẻ từ 2-6 
tuổi mắc bại não, được khám và điều trị nội 
trú bằng điện châm, thủy châm vitamin nhóm 
B và được chia thành hai nhóm ngẫu nhiên:
Nhóm 1: gồm 30 trẻ được XBBH cổ truyền 
đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày.
Nhóm 2: gồm 30 trẻ được XBBH bằng tay 
và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 
60 phút/ lần/ ngày.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Theo Y học hiện đại: bệnh nhi được chẩn 
đoán là bại não dựa theo định nghĩa về bại 
não của Viện Hàn lâm nghiên cứu (Hoa Kỳ, 
1985).
- Theo Y học cổ truyền: Bệnh nhi được 
khám theo tứ chẩn và bát cương, được xác 
định mắc chứng ngũ trì, ngũ nan với những 
triệu chứng: răng mọc chậm, ngồi không 
vững, chân tay co cứng, co vặn, cổ gáy, chân 
tay cử động chậm, khi đứng chân co rút, bước 
không thẳng, nói không rõ, phát dục chậm, 
tinh thần chậm chạp, lưỡi đỏ, mạch phù sác.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhi có liệt vận động nhưng do các 
nguyên nhân thực thể khác như bệnh thần 
kinh cơ, bệnh thoái hóa thần kinh
- Bệnh nhi không thuộc nhóm 2-6 tuổi.
- Bệnh nhi từ bỏ, không có điều kiện tham 
gia điều trị trong quá trình nghiên cứu hoặc 
không có sự đồng ý của người chăm sóc.
was the score change at roll over milestones 11.6 and walk milestones: 21,1 point. In terms of 
progression level, after 3 months, 100% of the children in the study group made progress, of 
which most of the children improved significantly (96.7%). In sit milestone, with cerebral palsy 
progressing the most at 86.7%, and none of them improved. 8.3% of children did not progress 
at walk milestone after 3 months. Children under 4 years of age progress better than those over 
4 years old. Children with simply cerebral palsy improve better than those with other illnesses.
Keywords: Cerebral palsy, functionality, acupressure
26 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO 
TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
- Trẻ bại não được xác định GMFCS mức 
độ I và V.
- Bệnh nhi quá yếu đang mắc các bệnh cấp 
tính như viêm phế quản phổi, hen phế quản... 
không thích hợp với việc điều trị bằng XBBH 
và tập vận động.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: khoa Bại não, khoa Nhi, khoa 
Điều trị liệt vận động - ngôn ngữ trẻ em, 
Bệnh viện Châm cứu Trung ương.
Thời gian: từ tháng 02 đến tháng 09 năm 
2018.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thử 
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
2.4. Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng 
phần mềm EpiData 3.1; phần mềm SPSS 20.0 
và các thuật toán thống kê y sinh học.
2.5. Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được triển khai khi được chấp 
thuận của Ban Giám đốc bệnh viện Châm cứu 
TW, bệnh nhi và người nhà bệnh nhi
- Nghiên cứu đảm bảo giữ bí mật thông tin 
của bệnh nhi và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong 60 bệnh nhi tham gia nghiên cứu
- Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu 
nằm ở nhóm tuổi từ 2-4 tuổi, chiếm 65% ở 
nhóm chứng và 73,3% ở nhóm nghiên cứu. 
Tuổi trung bình là 3,8 ± 1,3.
- Tỷ lệ mắc bại não ở trẻ trai cao hơn ở 
trẻ gái. Trong nhóm nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai 
chiếm 60%, trong nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai 
chiếm 66,7%.
- Phần lớn trẻ bại não trong nghiên cứu 
có tình trạng sinh bình thường, chiếm 56.7%. 
Bên cạnh đó vẫn có một số lượng lớn trẻ có 
các vấn đề khác nhau ở thời điểm ngay sau 
khi sinh (ngạt tím, ngạt trắng, sặc ối) chiếm 
43.3%.
- Trẻ bị đẻ thiếu tháng, nhẹ cân chiếm 
35%, bên cạnh đó, trẻ bị đẻ già tháng và trọng 
lượng khi sinh lớn hơn 4kg chiếm 25%.
- Nguyên nhân bại não do mắc các bệnh 
như nhiễm khuẩn thần kinh (viêm não, viêm 
màng não), động kinh, tim bẩm sinh, nhiễm 
khuẩn hô hấp nặng chiếm tỷ lệ 30%. Trẻ mắc 
bệnh bại não đơn thuần chiếm 70%.
3.1. Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFCS
Bảng 3.1. Sự cải thiện của trẻ bại não theo các mức độ GMFCS 
của nhóm chứng và nhóm nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu 
Nhóm chứng
pTrước PHCN Sau PHCN 1 tháng
Sau PHCN 3 
tháng
n % n % n %
GMFCS II
Nhóm chứng 2 6,6 3 10 5 16,7
<0,05
Nhóm NC 2 6,6 3 10 28 93,3
GMFCS III
Nhóm chứng 5 16,7 18 60 24 80
<0,05
Nhóm NC 2 6,6 27 90 2 6,7
GMFCS IV
Nhóm chứng 23 76,7 9 30 1 3,3
<0,05
Nhóm NC 26 87 0 0 0 0
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 27
NGHIÊN CỨU
Nhận xét: Nhóm chứng, trước khi PHCN 76,7% trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng 
chỉ còn 3,3%. Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN 3 tháng tăng lên 16,7%
Nhóm nghiên cứu, trước khi PHCN 86.8 % trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng không 
có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV. Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN 
3 tháng tăng lên 93.3%
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
3.2. Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFM
Bảng 3.2. Điểm GMFM trung bình tại các mốc vận động trước và 
sau PHCN của nhóm chứng 
Thời điểm
Trước 
PHCN (1)
Sau 01 
tháng 
PHCN (2)
Sau 03 
tháng 
PHCN (3)
X2-X1 X3-X1 p
X ± SD X ± SD X ± SD
Lẫy
Nhóm chứng 90,3±11,8 96,9±5,6 99,2±2,5 6,6 8,9 <0.05
Nhóm NC 87,8 ± 14,6 97,2±5,5 99,4±2,1 9,4 11,6
Ngồi
Nhóm chứng 40,3± 14,8 54,1±16,3 68,0±16,9 13,8 27,7 <0.05
Nhóm NC 51,1±19,6 74,1±15,6 96,0±19,1 23 44,9
Bò, quỳ
Nhóm chứng 31,8±11,1 47,2±13,6 64,1±16,2 15,4 32,3 <0.05
Nhóm NC 41,9±17,5 68,3±14,2 90,6±7,1 26,4 48,7
Đứng
Nhóm chứng 5,6±7,4 13,2±7,5 22,4±8,9 7,6 16,8 <0.05
Nhóm NC 5,9±6,21 18,3±9,6 36,9±13,1 12,4 31
Đi, nhảy
Nhóm chứng 2,9±3,9 5,6±2,2 12,4±6,5 2,7 9,5 <0.05
Nhóm NC 4,1±4,3 9,3±2,4 25,2±10,3 5,2 21,1
Tổng điểm 
GMFM
Nhóm chứng 34,2±7,7 42,6±7,0 53,2±8,5 8,4 19 <0.05
Nhóm NC 38,2±11,1 52,1±8,2 69,6±7,7 13,9 31,4
Nhận xét: Nhóm chứng, trẻ được PHCN tiến bộ nhất ở mốc bò, quỳ và ngồi. Điểm số GMFM 
trung bình của trẻ ở mốc lẫy trước và sau điều trị PHCN đều rất cao, điểm số giảm dần theo các 
mốc ngồi; bò, quỳ; thấp nhất là điểm GMFM trong mốc đi. Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa 
các mốc vận động ở các trước và sau điều trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
Nhóm nghiên cứu, điểm số GMFM trung bình của trẻ ở mốc lẫy, ngồi trước và sau PHCN 
đều rất cao, điểm số giảm dần theo các mốc phát triển vận động thô của trẻ, thấp nhất là điểm 
GMFM trong mốc đi. Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa các mốc vận động trước và sau điều 
trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05
28 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO 
TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
Bảng 3.3. So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và sau PHCN của nhóm chứng
Thời điểm
Điểm GMFM
Trước PHCN 
(1)
Sau 01 tháng PHCN 
(2)
Sau 03 tháng PHCN 
(3)
N % n % n %
≥ 75 điểm 0 0 0 0 0 0
50 – 74,9 0 0 5 16,7 20 66,7
25 – 49,9 27 90 25 83,3 10 33,3
< 25 điểm 3 10 0 0 0 0
Tổng 30 100 30 100 30 100
Nhận xét: Trong nhóm chứng, hầu hết bệnh nhân có điểm GMFM < 74,9. Trẻ bại não có điểm 
GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 0% lên 66,7%. Trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 
10% xuống 0%.
Bảng 3.4. So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và 
sau PHCN của nhóm nghiên cứu
Thời điểm
Điểm GMFM
Trước PHCN 
(1)
Sau 01 tháng PHCN 
(2)
Sau 03 tháng PHCN 
(3)
N % n % n %
≥ 75 điểm 0 0 0 0 4 13,4
50 – 74,9 4 13,4 18 60 25 83,3
25 – 49,9 25 83,3 12 40 1 3,3
< 25 điểm 1 3,3 0 0 0 0
Tổng 30 100 30 100 30 100
Nhận xét: Sau 3 tháng PHCN, tỷ lệ trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 3,3% xuống 
0%. Trẻ bại não có điểm GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 13,4% lên 83.3%. Trẻ bại não có điểm 
GMFM ≥ 75 điểm tăng từ 0% lên 13,4%.
Biểu đồ 3.1. Mức độ cải thiện về vận động thô của trẻ bại não 
sau PHCN của nhóm nghiên cứu
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 29
NGHIÊN CỨU
Nhận xét: Số trẻ tiến bộ sau PHCN chiếm tỷ lệ cao 96,7%. Trong đó, chủ yếu là cải thiện nhiều 
sau 3 tháng nghiên cứu, và cải thiện trung bình sau 1 tháng nghiên cứu. Số trẻ không cải thiện 
sau PHCN 1 tháng chỉ chiếm 3,3%, và không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng PHCN.
3.3. Sự cải thiện của trẻ bại não ở từng mốc vận động thô sau PHCN
Biểu đồ 3.2. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc lẫy sau 1 và 3 tháng PHCN
Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện nhiều từ 1 
tháng 15% lên 26,7% sau 3 tháng.
Bảng 3.5. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc ngồi trước và sau PHCN
Thời điểm
Điểm GMFM
Trước PHCN 
(1)
Sau 01 tháng PHCN 
(2)
Sau 03 tháng PHCN 
(3)
N % n % n %
≥ 75 điểm 3 5,0 19 31,7 44 73,3
50 – 74,9 21 35,0 29 48,3 11 18,3
25 – 49,9 30 50 10 16,7 5 8,3
< 25 điểm 6 10 2 3,3 0 0
Tổng 60 100 60 100 60 100
Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95%. 
Sau khi PHCN 3 tháng 73,3% bệnh nhân đều đạt mốc ngồi. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p< 0,05
Biểu đồ 3.3. Mức cải thiện GMFM của trẻ tại mốc ngồi sau 1 tháng và 3 tháng PHCN
30 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO 
TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện từ 1 tháng 
33,3% lên 86,7% sau 3 tháng. Số trẻ không cải thiện chiếm tỷ lệ thấp chỉ có 5% sau 1 tháng và 
không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng.
Bảng 3.6. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc bò và quỳ trước và sau PHCN
Thời điểm
Điểm GMFM
Trước PHCN 
(1)
Sau 01 tháng PHCN 
(2)
Sau 03 tháng PHCN 
(3)
N % n % n %
≥ 75 điểm 3 5 9 15 36 60
50 – 74,9 7 11,7 33 55 20 33,3
25 – 49,9 39 35 16 26,7 4 6,7
< 25 điểm 11 18,3 2 3,3 0 0
Tổng 60 100 60 100 60 100
Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95%. 
Sau khi PHCN 3 tháng 60 % bệnh nhân đều đạt mốc quỳ và bò. Sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê với p< 0,05
Biểu đồ 3.4. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc bò và quỳ
Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng có sự cải thiện nhiều nhất chiếm 86,7%. Tuy nhiên sau đó 
không cải thiện nhiều sau 3 tháng tiếp chỉ chiếm 46,7%. Bên cạnh đó tăng tỷ lệ trẻ cải thiện trung 
bình và ít. Không có trẻ nào không cải thiện sau 1 tháng và 3 tháng
Biểu đồ 3.5. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đứng
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 31
NGHIÊN CỨU
Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện từ 1 tháng 
5% lên 68,3% sau 3 tháng. Số trẻ không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 5%.
Biểu đồ 3.6. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đi, chạy
Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng, 68% trẻ không cải thiện ở mốc đi và chạy. Sau 3 tháng có sự cải 
thiện rõ rệt. Trong đó 31,7% cái thiện nhiều, 38,3% cải thiện trung bình, 21,7% cải thiện ít. Số trẻ 
không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 8,3%.
3.4. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo một số đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.7. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo tuổi bắt đầu điều trị
Tuổi bắt đầu 
điều trị
Nhóm chứng Nhóm nghiên cứu
Trước PHCN Sau 03 tháng Trước PHCN Sau 03 tháng
<04 tuổi 32,9 ± 7,4 53,6±5,7 31,2±7,0 75,6±6,3
≥04 tuổi 38,9 ± 2,8 49,9±6,9 46,1±9,3 64,3±6,6
p <0,05 <0,05
Nhận xét: Sự tiến bộ giữa 2 nhóm tuổi sau điều trị là khác nhau và có ý nghĩa thống kê với 
p< 0,05. Nhóm &l ... u là rất đa dạng phụ thuộc và mục đích 
của nghiên cứu và cách lựa chọn bệnh nhân 
nghiên cứu của từng tác giả.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc 
bại não ở trẻ trai cao hơn trẻ gái. Trong nhóm 
nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai chiếm 60%, trong 
nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai chiếm 66,7%. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết 
quả của các tác giả Trần Thị Thu Hà có tỷ lệ 
nam/nữ là 1,35/1 [9], nghiên cứu của Satnley 
có tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1 [2].
Bảng 3.9. Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não có bệnh kèm theo sau PHCN 1 tháng
Bệnh kèm theo
Cải thiện 
nhiều
Cải thiện 
trung bình Cải thiện ít
Không cải 
thiện P
n % n % n % n %
Bại não đơn thuần 1 1.7 24 40 15 25 2 3.3
<0,05Động kinh 0 0 8 13.3 5 8.3 1 1.7
Tim bẩm sinh 1 1.7 1 1.7 2 3.3 0 0
Nhận xét: Trẻ mắc bại não đơn thuần có mức độ cải thiện vận động thô tốt hơn, sau PHCN 
1 tháng trung bình là 40%, trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim 
bẩm sinh là 1,7%.
Biểu đồ 3.7. Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não 
có bệnh kèm theo sau PHCN 3 tháng
Nhận xét: Trẻ bại não được cải thiện nhiều sau 3 tháng PHCN. Mức độ vận động thô của trẻ 
bại não đơn thuần cải thiện nhiều chiếm 48,3%, trong khi đó ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; 
trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 5%.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 33
NGHIÊN CỨU
4.2. Sự cải thiện của trẻ bại não theo các 
mức độ GMFCS
Nếu như test Denver II vốn được sử dụng 
nhiều trong các nghiên cứu trước đây về bại 
não ở Việt Nam [9, 7], được thiết kế để sử 
dụng cho trẻ em độ tuổi sơ sinh đến 6 tuổi. 
Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp 
đánh giá sự phát triển tâm vận động để có 
thể phát hiện sớm các trạng thái chậm phát 
triển ở trẻ em trước tuổi đi học. Test Denver 
II cần được thực hiện bởi các cán bộ tâm lý có 
kinh nghiệm, cần các dụng cụ đánh giá kèm 
theo [4]. Như vậy test Denver II không được 
sử dụng đặc hiệu để đánh giá về sự phát triển 
vận động thô của trẻ bại não và khó sử dụng 
trong thực hành lâm sàng của bác sỹ phục hồi 
chức năng. GMFCS là một hệ thống phân loại 
tập trung vào những gì trẻ bại não có thể thực 
hiện gắn với những yếu tố môi trường sống, 
sinh hoạt. Với 5 mức độ phân biệt rõ ràng, dễ 
ứng dụng trên lâm sàng. GMFCS chia cụ thể 
theo các nhóm tuổi 0-2, 2-4, 4-6, 6-12, 12-18 
tuổi.
Trên thế giới, GMFCS áp dụng cho tất cả 
các thể bại não, được sử dụng rộng rãi trên 
lâm sàng, đó cũng là công cụ hữu ích cho các 
nhà nghiên cứu, dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn 
về điều trị bại não [5].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ bại 
não GMFCS ở mức độ IV chiếm tỷ lệ cao 
nhất, trong đó nhóm chứng có GMFCS IV 
chiếm 76,7%, nhóm nghiên cứu có GMFCS 
IV chiếm 86,8%. Sau PHCN 3 tháng không 
có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV ở nhóm 
nghiên cứu và còn 3,3% bệnh nhân ở nhóm 
chứng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác 
biệt với kết quả nghiên cứu của Chen YN và 
cộng sự với trẻ bại não GMFCS ở mức II cao 
nhất chiếm 36%, mức I chiếm 25%, mức V 
chiếm 16% [6]. Nghiên cứu của Smith DW và 
cộng sự GMFCS mức I cao nhất chiếm 48% 
[5].
4.3. Sự tiến bộ của trẻ ở tất cả các mốc vận 
động thô.
Sau 3 tháng can thiệp PHCN về vận động 
thô cho trẻ bại não tuổi từ 2-6 tuổi bằng các 
KTTTVĐ, sử dụng t - test để so sánh điểm 
GMFM trung bình trước và sau điều trị theo 
từng mốc vận động và theo tổng điểm GMFM, 
chúng tôi nhận thấy có sự tiến bộ rõ rệt về vận 
động thô sau điều trị so với trước điều trị với 
sự chênh lệch điểm số GMFM trung bình cho 
năm mốc vận động: lẫy, ngồi, bò - quỳ, đứng, 
đi - chạy - nhảy ở nhóm nghiên cứu là 31,4, ở 
nhóm chứng là 19.
Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy mốc 
vận động của trẻ trong nghiên cứu có tiến bộ 
nhất là ngồi, lẫy, bò-quỳ. Số trẻ có khả năng 
thực hiện được các mục trong mốc đứng và đi 
là rất ít và sự tiến bộ của trẻ trong hai mốc phát 
triển này cũng không nhiều. Chính vì vậy, sự 
chênh lệch điểm số sau điều trị của 2 mốc này 
là thấp nhất. Chỉ có thể giải thích điều này là 
do sự chậm trễ trong phát triển các mốc vận 
động thô ở trẻ bại não và sự phát triển sai lệch 
của các mẫu vận động bất thường tạo ra.
Đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau PHCN 
theo mức điểm GMFM trong các mốc vận 
động thô chúng tôi nhận thấy, sau can thiệp 
số trẻ có điểm số GMFM trên 75 điểm tăng 
từ 0% lên 4% ở nhóm nghiên cứu. Ở nhóm 
chứng ở cả trước và sau 3 tháng PHCN không 
có trẻ nào đạt trên mức 75 điểm. Như vậy, sau 
PHCN số trẻ tiến bộ chiếm tỷ lệ cao. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết 
quả nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thúy về 
tác dụng của điện châm điều trị trẻ bại não, 
sau điều trị 100% trẻ bại não có sự tiến bộ về 
vận động thô dựa theo đánh giá test Denver. 
Trong đó có tới 48% số trẻ thực hiện thêm 
được 6 đến 10 động tác, số còn lại cũng có 
34 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO 
TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
sự tiến bộ từ 2-3 động tác [3]; và cao hơn so 
với nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà về tác 
dụng của Cerebrolysin trên trẻ bại não, cho 
thấy sau 3 tháng can thiệp, số trẻ không tiến 
bộ là 11% [9]. Theo nghiên cứu của Russell, 
sau thời gian can thiệp PHCN 5,2 tháng, sự 
tiến bộ điểm số GMFM trung bình của các 
đối tượng nghiên cứu là 7,1 điểm [10]. Theo 
nghiên cứu của Mc Laughlin năm 1993 trong 
điều trị trẻ bại não thể co cứng bằng phẫu 
thuật cắt dây thần kinh tủy sống có chọn lọc, 
sau 6 tháng cho thấy điểm số GMFM trung 
bình tăng lên 11,7 điểm ở trẻ liệt cứng hai 
chân và tứ chi [10]. Nghiên cứu của Slawek J 
và Klimont L về vai trò của Botulinum toxin 
A trong cải thiện chức năng vận động thô ở 
mốc đứng và đi ở trẻ bại não cũng cho thấy, 
sau điều trị 3 tháng điểm số GMFM trung 
bình của trẻ tăng 7,7 điểm [11]. Như vậy sau 
PHCN cho trẻ bại não trong các nghiên cứu 
đều thấy có sự tiến bộ về vận động thô một 
cách đáng kể. Tuy nhiên, kết quả PHCN sau 
3 tháng bằng các KTTTVĐ cho thấy điểm 
số GMFM trung bình của trẻ trong nhóm 
nghiên cứu của chúng tôi tiến bộ hơn so 
với nghiên cứu của Russell và kết quả trong 
PHCN bằng tiêm Dysport tăng 7,7 điểm [10]. 
Sự khác nhau về mức độ tiến bộ này có thể do 
khác nhau về đối tượng nghiên cứu, phương 
pháp can thiệp và các yếu tố ảnh hưởng khác.
4.4. Sự tiến bộ của trẻ bại não trong từng 
mốc vận động thô
a. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc 
lẫy của trẻ
Trước can thiệp, số trẻ có điểm GMFM tại 
mốc lẫy dưới 75 điểm còn 6,7%. Sau PHCN, 
không còn trẻ nào có điểm < 75. Thay vào 
đó, điểm GMFM trên 75 điểm tăng từ 93,3% 
lên 100% sau 1 tháng PHCN. Đây là mốc vận 
động mà số trẻ đạt trên 75 điểm ở cả trước 
và sau PHCN nhiều nhất. Điều này là hiển 
nhiên vì đây là mốc vận động thấp nhất trong 
sự phát triển vận động thô của trẻ, các trẻ 
bình thường hay trẻ bại não đều trải qua quá 
trình phát triển vận động từ mức thấp đến 
mức cao hơn. Do vậy, số trẻ hình thành được 
các tiết mục trong mốc vận động này là nhiều 
nhất. Theo phân loại mức độ tiến bộ điểm số 
GMFM thì tại mốc lẫy, có 51,7% trẻ tiến bộ 
sau PHCN 3 tháng. Trong đó có 26,7% trẻ tiến 
bộ nhiều với sự thay đổi điểm số GMFM sau 
can thiệp là trên 20 điểm, số trẻ không có sự 
tiến bộ tại mốc lẫy (thay đổi điểm số GMFM 
dưới 5 điểm) là 48,3%. Biểu đồ 3.6 cho ta thấy 
số trẻ cải thiện trung bình và cải thiện nhiều 
sau 3 tháng nhiều hơn sau 1 tháng.
b. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc 
ngồi của trẻ
Trước điều trị, có 10% trẻ có mức điểm 
GMFM dưới 25 điểm, tuy nhiên sau điều trị 
1 tháng chỉ còn 3,3% và sau điều trị 3 tháng 
thì không còn trẻ nào có điểm GMFM dưới 
25 điểm. Như vậy, sau một đợt PHCN các trẻ 
bại não đã có sự thay đổi đáng kể về thực hiện 
các động tác vận động thô trong mốc ngồi. 
Cũng tại mốc vận động này, số trẻ có sự tiến 
bộ là nhiều nhất, trong đó chủ yếu là tiến bộ 
mức độ nhiều 33,3% sau 1 tháng và 86,7% sau 
3 tháng với sự chênh lệch điểm GMFM sau 
PHCN từ >20 điểm. Số trẻ không có sự tiến 
bộ sau can thiệp 1 tháng chỉ có 5%, và sau 3 
tháng không có trẻ nào không cải thiện. Đây 
cũng là mốc vận động có số lượng trẻ không 
tiến bộ chiếm tỷ lệ thấp nhất.
c. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc 
bò - quỳ của trẻ
Trước điều trị, số trẻ có điểm số GMFM tại 
mốc bò – quỳ dưới 75 điểm chiếm đa số với 
95%, sau can thiệp PHCN 1 tháng tỷ lệ này 
giảm xuống còn 85% và sau 3 tháng chỉ còn 
40%. Trong khi đó số trẻ có mức điểm trên 
75 điểm tăng lên nhiều sau 3 tháng là 60%, 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 35
NGHIÊN CỨU
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. 
Sự tiến bộ của trẻ tại mốc bò – quỳ là thấp 
hơn so với mốc lẫy và ngồi. Tất cả trẻ tham 
gia trong nghiên cứu đều tiến bộ sau PHCN 1 
tháng và 3 tháng, không có trẻ nào không tiến 
bộ. Mức độ tiến bộ sau 3 tháng ở mức nhiều, 
trung bình và ít là tương đương nhau.
d. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc 
đứng của trẻ
Trước can thiệp, không có trẻ nào có điểm 
số GMFM trên 50 điểm. Sau can thiệp 3 tháng 
tăng lên 6,7%. Cũng tại mốc vận động này, 
hầu hết trẻ đều tiến bộ trên 20 điểm chiếm 
68,3%, từ 10-20 điểm là 25%. Chỉ có 5% trẻ 
không có sự tiến bộ.
e. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc 
đi của trẻ
Trước và sau khi PHCN 3 tháng không có 
trẻ nào có điểm GMFM >50 điểm. Tuy nhiên, 
vì sự tiến bộ tại mốc vận động này là rất ít 
nên sự khác biệt trước và sau PHCN không 
có ý nghĩa thống kê với p >0,05. Sau 1 tháng 
PHCN, số trẻ không có sự tiến bộ tại mốc đi là 
nhiều nhất với 68%. Số trẻ tiến bộ sau PHCN 
1 tháng chỉ có 32%. Tuy nhiên sau 3 tháng, trẻ 
chủ yếu ở mức tiến bộ nhiều (31,7%) và trung 
bình (38,3%).
Như vậy, xem xét sự tiến bộ của trẻ bại não 
trong từng mốc vận động thô sau can thiệp 
PHCN bằng các kỹ thuật tạo thuận vận động 
chúng tôi nhận thấy sự tiến bộ nhiều nhất 
diễn ra tại mốc ngồi và mốc lẫy, chậm nhất là 
tiến bộ tại mốc đi. Theo kết quả nghiên cứu 
của Russell về sự tiến bộ của trẻ bại não thì 
nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi có 
tiềm năng phát triển vận động thô chủ yếu ở 
mốc lẫy và mốc ngồi hơn là mốc đứng và mốc 
đi, chính vì vậy có sự khác nhau về mức tiến 
bộ về điểm số GMFM giữa các mốc vận động 
thô sau can thiệp PHCN.
4.5. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ 
bại não theo một số đặc điểm lâm sàng
a. Sự tiến bộ vận động sau PHCN theo 
nhóm tuổi bắt đầu điều trị
Sự khác biệt về tiến bộ sau điều trị giữa hai 
nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê. Nhóm tuổi 
<4 tuổi cho kết quả điều trị tốt hơn về điểm số 
tiến bộ là 20,7 điểm ở nhóm chứng và 44,4 điểm 
ở nhóm nghiên cứu, trong khi sự tiến bộ của 
trẻ > 4 tuổi là 11 điểm ở nhóm chứng và 18,2 
ở nhóm nghiên cứu. Điều này là lẽ tự nhiên, 
độ tuổi càng thấp sẽ tiến bộ nhanh hơn nhóm 
lớn tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù 
hợp với nghiên cứu của Marjolijn Katelaar và 
cộng sự về hiệu quả của chương trình phục 
hồi chức năng về vận động cho trẻ bại não cho 
thấy nhóm trẻ từ 2-4 tuổi tiến bộ hơn nhóm 
trẻ > 4 tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
trái ngược với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị 
Thanh Thuý cho thấy sự khác biệt về tiến bộ 
sau điều trị giữa các nhóm tuổi là không có ý 
nghĩa thống kê, tác giả này cũng khẳng định 
tác dụng của mãng điện châm là như nhau trên 
các đối tượng được nghiên cứu [3]. Tuy nhiên 
theo quan điểm của chúng tôi thì vẫn nên điều 
trị cho trẻ càng sớm càng tốt để tránh các biến 
chứng thứ phát và sự phát triển sai lệch của trẻ 
xảy ra khi can thiệp quá muộn sẽ gây khó khăn 
cho sự phục hồi các chức năng của trẻ.
b. Sự tiến bộ vận động sau PHCN với các 
bệnh kèm theo
Trẻ mắc bại não đơn thuần có mức độ 
cải thiện vận động thô tốt hơn. Sau PHCN 1 
tháng mức độ vận động thô của trẻ bại não 
đơn thuần cải thiện trung bình là 40%, trong 
khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ 
bại não mắc tim bẩm sinh 1,7%. Sau 3 tháng 
PHCN mức độ vận động thô của trẻ bại não 
đơn thuần cải thiện nhiều hơn chiếm 48,3%, 
trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; 
trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 5%.
36 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO 
TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
IV. KẾT LUẬN
Sau 3 tháng PHCN, điểm GMFM trung 
bình trong nhóm nghiên cứu của trẻ bại não 
tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự 
thay đổi điểm GMFM giữa các mốc vận động 
thô của trẻ cũng khác nhau.mốc ngồi, bò - 
quỳ tăng nhiều nhất với 48,7 điểm, thấp nhất 
là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và 
mốc đi 21,1 điểm.
Xét về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng PHCN 
ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong 
đó trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%.
Sự tiến bộ trong từng mốc vận động thô 
của trẻ, sau 3 tháng PHCN tại mốc lẫy có 
51,7% trẻ tiến bộ và 48,3% trẻ không tiến bộ. 
Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi có 86,7% trẻ 
cải thiện nhiều, và không có trẻ nào không cải 
thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến 
bộ sau can thiệp 3 tháng.
- Nhóm trẻ < 4 tuổi tiến bộ tốt hơn trẻ 
> 4 tuổi
- Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần cải thiện 
tốt hơn những trẻ có bệnh kèm theo khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Trần Trọng Hải (2005). Phát hiện sớm, can thiệp sớm một số dạng tàn tật ở trẻ em 
Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, ed, 41-64.
2. Blair E et al Stanley F.J (2000). ”How common are cerebral palsies, Cerebral palsies: 
Epidemiology and Causal Pathways”, Mac keith Press, 22-39.
3. Bùi Thị Thanh Thuý (2003). Nghiên cứu tác dụng của mãng điện châm điều liệt vận 
động ở trẻ bại não do một số nguyên nhân trong khi sinh, Luận văn Thạc sỹ Y học, 
Trường Đại học Y Hà Nội.
4. Ninh Thị Ứng (2010). Lâm sàng bệnh thần kinh trẻ em, Nhà xuất bản Y học, ed, 94-
108.
5. Gorter JW Smiths DW (2010). ”Relationship between gross motor capacity and daily 
- life mobility in children with cerebral palsy”, Dev Med Child Neurol, 156-161.
6. Liao SF Chen YN (2012). ”The effect of long - term conventional physical therapy and 
independent predictive factors analysis in children with cerebral”, Dev Neurorehabil, 
876-884.
7. Nguyễn Thị Ngọc Linh (2012). Đánh giá kết quả PHCN vận động thô trẻ bại não co 
cứng kết hợp châm cứu và xoa bóp bấm huyệt, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, 
Trường Đại học Y Hà Nội.
8. Palisano RJ Kolobe TH (1998). Comparision of two outcome measures for infants 
with cerebral palsy and infants with motor delays, Hahnemann University, USA.
9. Trần Thị Thu Hà (2002). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và nhu cầu 
phục hồi chức năng ở trẻ bại não, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
10. Russell D.L et al (2000). Gross motor function measurement manual, Me Master 
University.
11. Klimont L Slawek J (2010). Functional improvement in cerebral palsy patient treated 
with botulinum toxin A injections, Department of Neurosurgery Medical University.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 37

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phuc_hoi_chuc_nang_van_dong_tho_o_tre_bai_n.pdf