Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018
Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm 1: gồm
30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30
trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/
lần/ ngày. Kết quả sau 3 tháng phục hồi chức năng (PHCN), điểm GMFM trung bình trong
nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự thay đổi điểm
GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau: mốc ngồi bò – quỳ tăng nhiều nhất
với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm. Xét
về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng can thiệp PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong
đó hầu hết trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%. Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi, 86,7% trẻ cải thiện
nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can
thiệp 3 tháng. Nhóm trẻ < 4="" tuổi="" tiến="" bộ="" tốt="" hơn="" trẻ=""> 4 tuổi. Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần
cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh khác kèm theo
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương năm 2018
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 Nguyễn Thị Thanh Nhàn1, Dương Văn Tâm1 1 Bệnh viện Châm cứu trung ương Chịu trách nhiệm chính: Dương Văn Tâm. Email: [email protected] Ngày nhận bài: 01/3/2018; Ngày phản biện khoa học: 15/3/2019; Ngày duyệt bài: 25/3/2019 TÓM TẮT Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm 1: gồm 30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/ lần/ ngày. Kết quả sau 3 tháng phục hồi chức năng (PHCN), điểm GMFM trung bình trong nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự thay đổi điểm GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau: mốc ngồi bò – quỳ tăng nhiều nhất với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm. Xét về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng can thiệp PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong đó hầu hết trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%. Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi, 86,7% trẻ cải thiện nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can thiệp 3 tháng. Nhóm trẻ 4 tuổi. Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh khác kèm theo. Từ khóa: bại não, phục hồi chức năng, châm cứu Abstract EVALUATION OF CRUDE MOVEMENT REHABILITATION IN CHILDREN AGED 2 - 6 YEARS OLD IN THE NATIONAL HOSPITAL OF ACUPUNCTURE IN 2018 The study used a randomized controlled clinical trial design. Group 1: 30 children are traditionally massaged and acupressured in 20 - 30 minutes everyday. Group 2: 30 children are massaged, acupressured and do movement exercises in 60 minutes everyday. Results of the study showed that after 3 months, the average GMFM score in the study group of cerebral palsy children in crude milestones increased by 31.4 points. The change in GMFM score among the children’s coarse milestones was different: the bull-knee molded score was 48.7 points, the lowest TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 25 NGHIÊN CỨU I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bại não là một dạng đa tàn tật mãn tính, đa dạng về mặt bệnh học và là một trong những nguyên nhân chính gây tàn tật ở trẻ em [1]. Trên thế giới, năm 2002 số ca mắc bại não chiếm tỷ lệ 1,8 - 2,5/1000 trẻ sơ sinh sống [2]. Ở Việt Nam, theo thống kê của Bệnh viện Châm cứu TW, hàng năm có trên 3000 lượt trẻ bị bại não và tự kỷ đến khám và điều trị. Trong những năm gần đây, số lượng trẻ bại não đến điều trị tại Bệnh viện Châm cứu TW có xu hướng ngày càng tăng. Năm 2016 tổng số trẻ điều trị bại não điều trị là 1.743 trẻ, chiếm 74,61% tổng số bệnh nhi nằm viện [3]. Phục hồi chức năng cho trẻ bại não bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó PHCN vận động đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ bại não. Tại Bệnh viện Châm cứu TW, điều trị PHCN cho trẻ bại não ngoài điện châm, thủy châm, điều trị bằng tia hồng ngoại, cấy chỉ, ngôn ngữ trị liệu thì các bài tập vận động thụ động, các kỹ thuật tạo thuận kết hợp với xoa bóp bấm huyệt (XBBH), tập với dụng cụ đơn giản đã đem lại hiệu quả rất đáng ghi nhận. Với mong muốn nâng cao hiệu quả phục hồi vận động cho trẻ, giúp trẻ sớm hòa nhập với gia đình và xã hội, đề tài được tiến hành với mục tiêu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não từ 2- 6 tuổi bằng xoa bóp bấm huyệt và tập vận động năm 2018. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: 60 trẻ từ 2-6 tuổi mắc bại não, được khám và điều trị nội trú bằng điện châm, thủy châm vitamin nhóm B và được chia thành hai nhóm ngẫu nhiên: Nhóm 1: gồm 30 trẻ được XBBH cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30 trẻ được XBBH bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/ lần/ ngày. 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn - Theo Y học hiện đại: bệnh nhi được chẩn đoán là bại não dựa theo định nghĩa về bại não của Viện Hàn lâm nghiên cứu (Hoa Kỳ, 1985). - Theo Y học cổ truyền: Bệnh nhi được khám theo tứ chẩn và bát cương, được xác định mắc chứng ngũ trì, ngũ nan với những triệu chứng: răng mọc chậm, ngồi không vững, chân tay co cứng, co vặn, cổ gáy, chân tay cử động chậm, khi đứng chân co rút, bước không thẳng, nói không rõ, phát dục chậm, tinh thần chậm chạp, lưỡi đỏ, mạch phù sác. 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ - Bệnh nhi có liệt vận động nhưng do các nguyên nhân thực thể khác như bệnh thần kinh cơ, bệnh thoái hóa thần kinh - Bệnh nhi không thuộc nhóm 2-6 tuổi. - Bệnh nhi từ bỏ, không có điều kiện tham gia điều trị trong quá trình nghiên cứu hoặc không có sự đồng ý của người chăm sóc. was the score change at roll over milestones 11.6 and walk milestones: 21,1 point. In terms of progression level, after 3 months, 100% of the children in the study group made progress, of which most of the children improved significantly (96.7%). In sit milestone, with cerebral palsy progressing the most at 86.7%, and none of them improved. 8.3% of children did not progress at walk milestone after 3 months. Children under 4 years of age progress better than those over 4 years old. Children with simply cerebral palsy improve better than those with other illnesses. Keywords: Cerebral palsy, functionality, acupressure 26 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 - Trẻ bại não được xác định GMFCS mức độ I và V. - Bệnh nhi quá yếu đang mắc các bệnh cấp tính như viêm phế quản phổi, hen phế quản... không thích hợp với việc điều trị bằng XBBH và tập vận động. 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm: khoa Bại não, khoa Nhi, khoa Điều trị liệt vận động - ngôn ngữ trẻ em, Bệnh viện Châm cứu Trung ương. Thời gian: từ tháng 02 đến tháng 09 năm 2018. 2.3. Phương pháp nghiên cứu 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. 2.4. Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm EpiData 3.1; phần mềm SPSS 20.0 và các thuật toán thống kê y sinh học. 2.5. Đạo đức nghiên cứu - Nghiên cứu được triển khai khi được chấp thuận của Ban Giám đốc bệnh viện Châm cứu TW, bệnh nhi và người nhà bệnh nhi - Nghiên cứu đảm bảo giữ bí mật thông tin của bệnh nhi và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trong 60 bệnh nhi tham gia nghiên cứu - Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu nằm ở nhóm tuổi từ 2-4 tuổi, chiếm 65% ở nhóm chứng và 73,3% ở nhóm nghiên cứu. Tuổi trung bình là 3,8 ± 1,3. - Tỷ lệ mắc bại não ở trẻ trai cao hơn ở trẻ gái. Trong nhóm nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai chiếm 60%, trong nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai chiếm 66,7%. - Phần lớn trẻ bại não trong nghiên cứu có tình trạng sinh bình thường, chiếm 56.7%. Bên cạnh đó vẫn có một số lượng lớn trẻ có các vấn đề khác nhau ở thời điểm ngay sau khi sinh (ngạt tím, ngạt trắng, sặc ối) chiếm 43.3%. - Trẻ bị đẻ thiếu tháng, nhẹ cân chiếm 35%, bên cạnh đó, trẻ bị đẻ già tháng và trọng lượng khi sinh lớn hơn 4kg chiếm 25%. - Nguyên nhân bại não do mắc các bệnh như nhiễm khuẩn thần kinh (viêm não, viêm màng não), động kinh, tim bẩm sinh, nhiễm khuẩn hô hấp nặng chiếm tỷ lệ 30%. Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần chiếm 70%. 3.1. Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFCS Bảng 3.1. Sự cải thiện của trẻ bại não theo các mức độ GMFCS của nhóm chứng và nhóm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng pTrước PHCN Sau PHCN 1 tháng Sau PHCN 3 tháng n % n % n % GMFCS II Nhóm chứng 2 6,6 3 10 5 16,7 <0,05 Nhóm NC 2 6,6 3 10 28 93,3 GMFCS III Nhóm chứng 5 16,7 18 60 24 80 <0,05 Nhóm NC 2 6,6 27 90 2 6,7 GMFCS IV Nhóm chứng 23 76,7 9 30 1 3,3 <0,05 Nhóm NC 26 87 0 0 0 0 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 27 NGHIÊN CỨU Nhận xét: Nhóm chứng, trước khi PHCN 76,7% trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng chỉ còn 3,3%. Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN 3 tháng tăng lên 16,7% Nhóm nghiên cứu, trước khi PHCN 86.8 % trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng không có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV. Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN 3 tháng tăng lên 93.3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 3.2. Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFM Bảng 3.2. Điểm GMFM trung bình tại các mốc vận động trước và sau PHCN của nhóm chứng Thời điểm Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3) X2-X1 X3-X1 p X ± SD X ± SD X ± SD Lẫy Nhóm chứng 90,3±11,8 96,9±5,6 99,2±2,5 6,6 8,9 <0.05 Nhóm NC 87,8 ± 14,6 97,2±5,5 99,4±2,1 9,4 11,6 Ngồi Nhóm chứng 40,3± 14,8 54,1±16,3 68,0±16,9 13,8 27,7 <0.05 Nhóm NC 51,1±19,6 74,1±15,6 96,0±19,1 23 44,9 Bò, quỳ Nhóm chứng 31,8±11,1 47,2±13,6 64,1±16,2 15,4 32,3 <0.05 Nhóm NC 41,9±17,5 68,3±14,2 90,6±7,1 26,4 48,7 Đứng Nhóm chứng 5,6±7,4 13,2±7,5 22,4±8,9 7,6 16,8 <0.05 Nhóm NC 5,9±6,21 18,3±9,6 36,9±13,1 12,4 31 Đi, nhảy Nhóm chứng 2,9±3,9 5,6±2,2 12,4±6,5 2,7 9,5 <0.05 Nhóm NC 4,1±4,3 9,3±2,4 25,2±10,3 5,2 21,1 Tổng điểm GMFM Nhóm chứng 34,2±7,7 42,6±7,0 53,2±8,5 8,4 19 <0.05 Nhóm NC 38,2±11,1 52,1±8,2 69,6±7,7 13,9 31,4 Nhận xét: Nhóm chứng, trẻ được PHCN tiến bộ nhất ở mốc bò, quỳ và ngồi. Điểm số GMFM trung bình của trẻ ở mốc lẫy trước và sau điều trị PHCN đều rất cao, điểm số giảm dần theo các mốc ngồi; bò, quỳ; thấp nhất là điểm GMFM trong mốc đi. Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa các mốc vận động ở các trước và sau điều trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Nhóm nghiên cứu, điểm số GMFM trung bình của trẻ ở mốc lẫy, ngồi trước và sau PHCN đều rất cao, điểm số giảm dần theo các mốc phát triển vận động thô của trẻ, thấp nhất là điểm GMFM trong mốc đi. Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa các mốc vận động trước và sau điều trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 28 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 Bảng 3.3. So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và sau PHCN của nhóm chứng Thời điểm Điểm GMFM Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3) N % n % n % ≥ 75 điểm 0 0 0 0 0 0 50 – 74,9 0 0 5 16,7 20 66,7 25 – 49,9 27 90 25 83,3 10 33,3 < 25 điểm 3 10 0 0 0 0 Tổng 30 100 30 100 30 100 Nhận xét: Trong nhóm chứng, hầu hết bệnh nhân có điểm GMFM < 74,9. Trẻ bại não có điểm GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 0% lên 66,7%. Trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 10% xuống 0%. Bảng 3.4. So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và sau PHCN của nhóm nghiên cứu Thời điểm Điểm GMFM Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3) N % n % n % ≥ 75 điểm 0 0 0 0 4 13,4 50 – 74,9 4 13,4 18 60 25 83,3 25 – 49,9 25 83,3 12 40 1 3,3 < 25 điểm 1 3,3 0 0 0 0 Tổng 30 100 30 100 30 100 Nhận xét: Sau 3 tháng PHCN, tỷ lệ trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 3,3% xuống 0%. Trẻ bại não có điểm GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 13,4% lên 83.3%. Trẻ bại não có điểm GMFM ≥ 75 điểm tăng từ 0% lên 13,4%. Biểu đồ 3.1. Mức độ cải thiện về vận động thô của trẻ bại não sau PHCN của nhóm nghiên cứu TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 29 NGHIÊN CỨU Nhận xét: Số trẻ tiến bộ sau PHCN chiếm tỷ lệ cao 96,7%. Trong đó, chủ yếu là cải thiện nhiều sau 3 tháng nghiên cứu, và cải thiện trung bình sau 1 tháng nghiên cứu. Số trẻ không cải thiện sau PHCN 1 tháng chỉ chiếm 3,3%, và không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng PHCN. 3.3. Sự cải thiện của trẻ bại não ở từng mốc vận động thô sau PHCN Biểu đồ 3.2. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc lẫy sau 1 và 3 tháng PHCN Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện nhiều từ 1 tháng 15% lên 26,7% sau 3 tháng. Bảng 3.5. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc ngồi trước và sau PHCN Thời điểm Điểm GMFM Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3) N % n % n % ≥ 75 điểm 3 5,0 19 31,7 44 73,3 50 – 74,9 21 35,0 29 48,3 11 18,3 25 – 49,9 30 50 10 16,7 5 8,3 < 25 điểm 6 10 2 3,3 0 0 Tổng 60 100 60 100 60 100 Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95%. Sau khi PHCN 3 tháng 73,3% bệnh nhân đều đạt mốc ngồi. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Biểu đồ 3.3. Mức cải thiện GMFM của trẻ tại mốc ngồi sau 1 tháng và 3 tháng PHCN 30 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện từ 1 tháng 33,3% lên 86,7% sau 3 tháng. Số trẻ không cải thiện chiếm tỷ lệ thấp chỉ có 5% sau 1 tháng và không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng. Bảng 3.6. Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc bò và quỳ trước và sau PHCN Thời điểm Điểm GMFM Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3) N % n % n % ≥ 75 điểm 3 5 9 15 36 60 50 – 74,9 7 11,7 33 55 20 33,3 25 – 49,9 39 35 16 26,7 4 6,7 < 25 điểm 11 18,3 2 3,3 0 0 Tổng 60 100 60 100 60 100 Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95%. Sau khi PHCN 3 tháng 60 % bệnh nhân đều đạt mốc quỳ và bò. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Biểu đồ 3.4. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc bò và quỳ Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng có sự cải thiện nhiều nhất chiếm 86,7%. Tuy nhiên sau đó không cải thiện nhiều sau 3 tháng tiếp chỉ chiếm 46,7%. Bên cạnh đó tăng tỷ lệ trẻ cải thiện trung bình và ít. Không có trẻ nào không cải thiện sau 1 tháng và 3 tháng Biểu đồ 3.5. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đứng TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 31 NGHIÊN CỨU Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó cải thiện từ 1 tháng 5% lên 68,3% sau 3 tháng. Số trẻ không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 5%. Biểu đồ 3.6. Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đi, chạy Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng, 68% trẻ không cải thiện ở mốc đi và chạy. Sau 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt. Trong đó 31,7% cái thiện nhiều, 38,3% cải thiện trung bình, 21,7% cải thiện ít. Số trẻ không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 8,3%. 3.4. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo một số đặc điểm lâm sàng Bảng 3.7. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo tuổi bắt đầu điều trị Tuổi bắt đầu điều trị Nhóm chứng Nhóm nghiên cứu Trước PHCN Sau 03 tháng Trước PHCN Sau 03 tháng <04 tuổi 32,9 ± 7,4 53,6±5,7 31,2±7,0 75,6±6,3 ≥04 tuổi 38,9 ± 2,8 49,9±6,9 46,1±9,3 64,3±6,6 p <0,05 <0,05 Nhận xét: Sự tiến bộ giữa 2 nhóm tuổi sau điều trị là khác nhau và có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Nhóm &l ... u là rất đa dạng phụ thuộc và mục đích của nghiên cứu và cách lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu của từng tác giả. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bại não ở trẻ trai cao hơn trẻ gái. Trong nhóm nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai chiếm 60%, trong nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai chiếm 66,7%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của các tác giả Trần Thị Thu Hà có tỷ lệ nam/nữ là 1,35/1 [9], nghiên cứu của Satnley có tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1 [2]. Bảng 3.9. Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não có bệnh kèm theo sau PHCN 1 tháng Bệnh kèm theo Cải thiện nhiều Cải thiện trung bình Cải thiện ít Không cải thiện P n % n % n % n % Bại não đơn thuần 1 1.7 24 40 15 25 2 3.3 <0,05Động kinh 0 0 8 13.3 5 8.3 1 1.7 Tim bẩm sinh 1 1.7 1 1.7 2 3.3 0 0 Nhận xét: Trẻ mắc bại não đơn thuần có mức độ cải thiện vận động thô tốt hơn, sau PHCN 1 tháng trung bình là 40%, trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 1,7%. Biểu đồ 3.7. Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não có bệnh kèm theo sau PHCN 3 tháng Nhận xét: Trẻ bại não được cải thiện nhiều sau 3 tháng PHCN. Mức độ vận động thô của trẻ bại não đơn thuần cải thiện nhiều chiếm 48,3%, trong khi đó ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 5%. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 33 NGHIÊN CỨU 4.2. Sự cải thiện của trẻ bại não theo các mức độ GMFCS Nếu như test Denver II vốn được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trước đây về bại não ở Việt Nam [9, 7], được thiết kế để sử dụng cho trẻ em độ tuổi sơ sinh đến 6 tuổi. Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp đánh giá sự phát triển tâm vận động để có thể phát hiện sớm các trạng thái chậm phát triển ở trẻ em trước tuổi đi học. Test Denver II cần được thực hiện bởi các cán bộ tâm lý có kinh nghiệm, cần các dụng cụ đánh giá kèm theo [4]. Như vậy test Denver II không được sử dụng đặc hiệu để đánh giá về sự phát triển vận động thô của trẻ bại não và khó sử dụng trong thực hành lâm sàng của bác sỹ phục hồi chức năng. GMFCS là một hệ thống phân loại tập trung vào những gì trẻ bại não có thể thực hiện gắn với những yếu tố môi trường sống, sinh hoạt. Với 5 mức độ phân biệt rõ ràng, dễ ứng dụng trên lâm sàng. GMFCS chia cụ thể theo các nhóm tuổi 0-2, 2-4, 4-6, 6-12, 12-18 tuổi. Trên thế giới, GMFCS áp dụng cho tất cả các thể bại não, được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, đó cũng là công cụ hữu ích cho các nhà nghiên cứu, dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn về điều trị bại não [5]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ bại não GMFCS ở mức độ IV chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó nhóm chứng có GMFCS IV chiếm 76,7%, nhóm nghiên cứu có GMFCS IV chiếm 86,8%. Sau PHCN 3 tháng không có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV ở nhóm nghiên cứu và còn 3,3% bệnh nhân ở nhóm chứng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác biệt với kết quả nghiên cứu của Chen YN và cộng sự với trẻ bại não GMFCS ở mức II cao nhất chiếm 36%, mức I chiếm 25%, mức V chiếm 16% [6]. Nghiên cứu của Smith DW và cộng sự GMFCS mức I cao nhất chiếm 48% [5]. 4.3. Sự tiến bộ của trẻ ở tất cả các mốc vận động thô. Sau 3 tháng can thiệp PHCN về vận động thô cho trẻ bại não tuổi từ 2-6 tuổi bằng các KTTTVĐ, sử dụng t - test để so sánh điểm GMFM trung bình trước và sau điều trị theo từng mốc vận động và theo tổng điểm GMFM, chúng tôi nhận thấy có sự tiến bộ rõ rệt về vận động thô sau điều trị so với trước điều trị với sự chênh lệch điểm số GMFM trung bình cho năm mốc vận động: lẫy, ngồi, bò - quỳ, đứng, đi - chạy - nhảy ở nhóm nghiên cứu là 31,4, ở nhóm chứng là 19. Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy mốc vận động của trẻ trong nghiên cứu có tiến bộ nhất là ngồi, lẫy, bò-quỳ. Số trẻ có khả năng thực hiện được các mục trong mốc đứng và đi là rất ít và sự tiến bộ của trẻ trong hai mốc phát triển này cũng không nhiều. Chính vì vậy, sự chênh lệch điểm số sau điều trị của 2 mốc này là thấp nhất. Chỉ có thể giải thích điều này là do sự chậm trễ trong phát triển các mốc vận động thô ở trẻ bại não và sự phát triển sai lệch của các mẫu vận động bất thường tạo ra. Đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau PHCN theo mức điểm GMFM trong các mốc vận động thô chúng tôi nhận thấy, sau can thiệp số trẻ có điểm số GMFM trên 75 điểm tăng từ 0% lên 4% ở nhóm nghiên cứu. Ở nhóm chứng ở cả trước và sau 3 tháng PHCN không có trẻ nào đạt trên mức 75 điểm. Như vậy, sau PHCN số trẻ tiến bộ chiếm tỷ lệ cao. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thúy về tác dụng của điện châm điều trị trẻ bại não, sau điều trị 100% trẻ bại não có sự tiến bộ về vận động thô dựa theo đánh giá test Denver. Trong đó có tới 48% số trẻ thực hiện thêm được 6 đến 10 động tác, số còn lại cũng có 34 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 sự tiến bộ từ 2-3 động tác [3]; và cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà về tác dụng của Cerebrolysin trên trẻ bại não, cho thấy sau 3 tháng can thiệp, số trẻ không tiến bộ là 11% [9]. Theo nghiên cứu của Russell, sau thời gian can thiệp PHCN 5,2 tháng, sự tiến bộ điểm số GMFM trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 7,1 điểm [10]. Theo nghiên cứu của Mc Laughlin năm 1993 trong điều trị trẻ bại não thể co cứng bằng phẫu thuật cắt dây thần kinh tủy sống có chọn lọc, sau 6 tháng cho thấy điểm số GMFM trung bình tăng lên 11,7 điểm ở trẻ liệt cứng hai chân và tứ chi [10]. Nghiên cứu của Slawek J và Klimont L về vai trò của Botulinum toxin A trong cải thiện chức năng vận động thô ở mốc đứng và đi ở trẻ bại não cũng cho thấy, sau điều trị 3 tháng điểm số GMFM trung bình của trẻ tăng 7,7 điểm [11]. Như vậy sau PHCN cho trẻ bại não trong các nghiên cứu đều thấy có sự tiến bộ về vận động thô một cách đáng kể. Tuy nhiên, kết quả PHCN sau 3 tháng bằng các KTTTVĐ cho thấy điểm số GMFM trung bình của trẻ trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tiến bộ hơn so với nghiên cứu của Russell và kết quả trong PHCN bằng tiêm Dysport tăng 7,7 điểm [10]. Sự khác nhau về mức độ tiến bộ này có thể do khác nhau về đối tượng nghiên cứu, phương pháp can thiệp và các yếu tố ảnh hưởng khác. 4.4. Sự tiến bộ của trẻ bại não trong từng mốc vận động thô a. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc lẫy của trẻ Trước can thiệp, số trẻ có điểm GMFM tại mốc lẫy dưới 75 điểm còn 6,7%. Sau PHCN, không còn trẻ nào có điểm < 75. Thay vào đó, điểm GMFM trên 75 điểm tăng từ 93,3% lên 100% sau 1 tháng PHCN. Đây là mốc vận động mà số trẻ đạt trên 75 điểm ở cả trước và sau PHCN nhiều nhất. Điều này là hiển nhiên vì đây là mốc vận động thấp nhất trong sự phát triển vận động thô của trẻ, các trẻ bình thường hay trẻ bại não đều trải qua quá trình phát triển vận động từ mức thấp đến mức cao hơn. Do vậy, số trẻ hình thành được các tiết mục trong mốc vận động này là nhiều nhất. Theo phân loại mức độ tiến bộ điểm số GMFM thì tại mốc lẫy, có 51,7% trẻ tiến bộ sau PHCN 3 tháng. Trong đó có 26,7% trẻ tiến bộ nhiều với sự thay đổi điểm số GMFM sau can thiệp là trên 20 điểm, số trẻ không có sự tiến bộ tại mốc lẫy (thay đổi điểm số GMFM dưới 5 điểm) là 48,3%. Biểu đồ 3.6 cho ta thấy số trẻ cải thiện trung bình và cải thiện nhiều sau 3 tháng nhiều hơn sau 1 tháng. b. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc ngồi của trẻ Trước điều trị, có 10% trẻ có mức điểm GMFM dưới 25 điểm, tuy nhiên sau điều trị 1 tháng chỉ còn 3,3% và sau điều trị 3 tháng thì không còn trẻ nào có điểm GMFM dưới 25 điểm. Như vậy, sau một đợt PHCN các trẻ bại não đã có sự thay đổi đáng kể về thực hiện các động tác vận động thô trong mốc ngồi. Cũng tại mốc vận động này, số trẻ có sự tiến bộ là nhiều nhất, trong đó chủ yếu là tiến bộ mức độ nhiều 33,3% sau 1 tháng và 86,7% sau 3 tháng với sự chênh lệch điểm GMFM sau PHCN từ >20 điểm. Số trẻ không có sự tiến bộ sau can thiệp 1 tháng chỉ có 5%, và sau 3 tháng không có trẻ nào không cải thiện. Đây cũng là mốc vận động có số lượng trẻ không tiến bộ chiếm tỷ lệ thấp nhất. c. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc bò - quỳ của trẻ Trước điều trị, số trẻ có điểm số GMFM tại mốc bò – quỳ dưới 75 điểm chiếm đa số với 95%, sau can thiệp PHCN 1 tháng tỷ lệ này giảm xuống còn 85% và sau 3 tháng chỉ còn 40%. Trong khi đó số trẻ có mức điểm trên 75 điểm tăng lên nhiều sau 3 tháng là 60%, TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 35 NGHIÊN CỨU sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Sự tiến bộ của trẻ tại mốc bò – quỳ là thấp hơn so với mốc lẫy và ngồi. Tất cả trẻ tham gia trong nghiên cứu đều tiến bộ sau PHCN 1 tháng và 3 tháng, không có trẻ nào không tiến bộ. Mức độ tiến bộ sau 3 tháng ở mức nhiều, trung bình và ít là tương đương nhau. d. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc đứng của trẻ Trước can thiệp, không có trẻ nào có điểm số GMFM trên 50 điểm. Sau can thiệp 3 tháng tăng lên 6,7%. Cũng tại mốc vận động này, hầu hết trẻ đều tiến bộ trên 20 điểm chiếm 68,3%, từ 10-20 điểm là 25%. Chỉ có 5% trẻ không có sự tiến bộ. e. Sự tiến bộ vận động sau PHCN tại mốc đi của trẻ Trước và sau khi PHCN 3 tháng không có trẻ nào có điểm GMFM >50 điểm. Tuy nhiên, vì sự tiến bộ tại mốc vận động này là rất ít nên sự khác biệt trước và sau PHCN không có ý nghĩa thống kê với p >0,05. Sau 1 tháng PHCN, số trẻ không có sự tiến bộ tại mốc đi là nhiều nhất với 68%. Số trẻ tiến bộ sau PHCN 1 tháng chỉ có 32%. Tuy nhiên sau 3 tháng, trẻ chủ yếu ở mức tiến bộ nhiều (31,7%) và trung bình (38,3%). Như vậy, xem xét sự tiến bộ của trẻ bại não trong từng mốc vận động thô sau can thiệp PHCN bằng các kỹ thuật tạo thuận vận động chúng tôi nhận thấy sự tiến bộ nhiều nhất diễn ra tại mốc ngồi và mốc lẫy, chậm nhất là tiến bộ tại mốc đi. Theo kết quả nghiên cứu của Russell về sự tiến bộ của trẻ bại não thì nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi có tiềm năng phát triển vận động thô chủ yếu ở mốc lẫy và mốc ngồi hơn là mốc đứng và mốc đi, chính vì vậy có sự khác nhau về mức tiến bộ về điểm số GMFM giữa các mốc vận động thô sau can thiệp PHCN. 4.5. Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo một số đặc điểm lâm sàng a. Sự tiến bộ vận động sau PHCN theo nhóm tuổi bắt đầu điều trị Sự khác biệt về tiến bộ sau điều trị giữa hai nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê. Nhóm tuổi <4 tuổi cho kết quả điều trị tốt hơn về điểm số tiến bộ là 20,7 điểm ở nhóm chứng và 44,4 điểm ở nhóm nghiên cứu, trong khi sự tiến bộ của trẻ > 4 tuổi là 11 điểm ở nhóm chứng và 18,2 ở nhóm nghiên cứu. Điều này là lẽ tự nhiên, độ tuổi càng thấp sẽ tiến bộ nhanh hơn nhóm lớn tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Marjolijn Katelaar và cộng sự về hiệu quả của chương trình phục hồi chức năng về vận động cho trẻ bại não cho thấy nhóm trẻ từ 2-4 tuổi tiến bộ hơn nhóm trẻ > 4 tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trái ngược với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thuý cho thấy sự khác biệt về tiến bộ sau điều trị giữa các nhóm tuổi là không có ý nghĩa thống kê, tác giả này cũng khẳng định tác dụng của mãng điện châm là như nhau trên các đối tượng được nghiên cứu [3]. Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì vẫn nên điều trị cho trẻ càng sớm càng tốt để tránh các biến chứng thứ phát và sự phát triển sai lệch của trẻ xảy ra khi can thiệp quá muộn sẽ gây khó khăn cho sự phục hồi các chức năng của trẻ. b. Sự tiến bộ vận động sau PHCN với các bệnh kèm theo Trẻ mắc bại não đơn thuần có mức độ cải thiện vận động thô tốt hơn. Sau PHCN 1 tháng mức độ vận động thô của trẻ bại não đơn thuần cải thiện trung bình là 40%, trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh 1,7%. Sau 3 tháng PHCN mức độ vận động thô của trẻ bại não đơn thuần cải thiện nhiều hơn chiếm 48,3%, trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 5%. 36 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 IV. KẾT LUẬN Sau 3 tháng PHCN, điểm GMFM trung bình trong nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm. Sự thay đổi điểm GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau.mốc ngồi, bò - quỳ tăng nhiều nhất với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm. Xét về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong đó trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7%. Sự tiến bộ trong từng mốc vận động thô của trẻ, sau 3 tháng PHCN tại mốc lẫy có 51,7% trẻ tiến bộ và 48,3% trẻ không tiến bộ. Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi có 86,7% trẻ cải thiện nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện. Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can thiệp 3 tháng. - Nhóm trẻ < 4 tuổi tiến bộ tốt hơn trẻ > 4 tuổi - Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh kèm theo khác. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Trần Trọng Hải (2005). Phát hiện sớm, can thiệp sớm một số dạng tàn tật ở trẻ em Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, ed, 41-64. 2. Blair E et al Stanley F.J (2000). ”How common are cerebral palsies, Cerebral palsies: Epidemiology and Causal Pathways”, Mac keith Press, 22-39. 3. Bùi Thị Thanh Thuý (2003). Nghiên cứu tác dụng của mãng điện châm điều liệt vận động ở trẻ bại não do một số nguyên nhân trong khi sinh, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 4. Ninh Thị Ứng (2010). Lâm sàng bệnh thần kinh trẻ em, Nhà xuất bản Y học, ed, 94- 108. 5. Gorter JW Smiths DW (2010). ”Relationship between gross motor capacity and daily - life mobility in children with cerebral palsy”, Dev Med Child Neurol, 156-161. 6. Liao SF Chen YN (2012). ”The effect of long - term conventional physical therapy and independent predictive factors analysis in children with cerebral”, Dev Neurorehabil, 876-884. 7. Nguyễn Thị Ngọc Linh (2012). Đánh giá kết quả PHCN vận động thô trẻ bại não co cứng kết hợp châm cứu và xoa bóp bấm huyệt, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội. 8. Palisano RJ Kolobe TH (1998). Comparision of two outcome measures for infants with cerebral palsy and infants with motor delays, Hahnemann University, USA. 9. Trần Thị Thu Hà (2002). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và nhu cầu phục hồi chức năng ở trẻ bại não, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 10. Russell D.L et al (2000). Gross motor function measurement manual, Me Master University. 11. Klimont L Slawek J (2010). Functional improvement in cerebral palsy patient treated with botulinum toxin A injections, Department of Neurosurgery Medical University. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 37
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_phuc_hoi_chuc_nang_van_dong_tho_o_tre_bai_n.pdf

