Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh
Đặt vấn đề: Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ
sinh. Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Tuy
nhiên, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2trong mổ
nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca những trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm
sinh được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu phục hồi cơ hoành từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2020 tại Bệnh viện
Nhi Đồng Thành Phố. Mô tả đặc điểm trước, trong và sau phẫu thuật. Kết quả ban đầu đánh giá tỷ lệ thoát vị tái
phát. Kết quả thứ phát bao gồm thời gian nằm viện, thời gian thở máy và các biến chứng sau mổ
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 128 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ HOÀNH BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH Tạ Huy Cần1, Huỳnh Thị Thanh Thảo1, Trần Tấn Lộc1, Nguyễn thị Cẩm Xuyên1, Trương Quang Định1, Trương Nguyễn Uy Linh2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2 trong mổ nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận. Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca những trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm sinh được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu phục hồi cơ hoành từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2020 tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố. Mô tả đặc điểm trước, trong và sau phẫu thuật. Kết quả ban đầu đánh giá tỷ lệ thoát vị tái phát. Kết quả thứ phát bao gồm thời gian nằm viện, thời gian thở máy và các biến chứng sau mổ. Kết quả: Có 35 trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm sinh, với 34 trường hợp được phẫu thuật nội soi và 1 trường hợp phải chuyển mổ mở. Thoát vị hoành bên trái 30 bệnh nhân và bên phải 4 bệnh nhân. Có 2 bệnh nhân thở rung tần số cao. Khâu trực tiếp 2 mầm cơ hoành với nhau trong 5 trường hợp. Khâu 2 mầm cơ hoành với cơ thành ngực trong 29 trường hợp. Thời gian phẫu thuật trung bình 63 ± 21 phút và thời gian nằm viện trung bình sau mổ 21,85± 8,9 ngày. Tỷ lệ tái phát 3/34 trường hợp. Không có trường hợp tử vong sau mổ. Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành an toàn về mặt biến chứng và tử vong. Ngoài ra, thời gian hồi phục sau mổ nhanh. Từ khóa: thoát vị hoành bẩm sinh, sơ sinh, phẫu thuật nội soi lồng ngực ABSTRACT RESULT OF LAPAROSCOPIC SURGERY IN THE TREATMENT OF CONGENITAL DIAPHRAGMATIC HERNIA IN NEONATES Ta Huy Can, Huynh Thi Thanh Thao, Tran Tan Loc, Nguyen Thi Cam Xuyen, Truong Quang Dinh, Truong Nguyen Uy Linh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 128 - 133 Background: Diaphragmatic hernia is one of the important surgical causes of neonatal respiratory failure. Laparoscopic surgery in newborn is increasingly developing. However, the recurrence rate in laparoscopic surgery is higher than in open surgery as well as concerns about the adverse effects of CO2 pump in surgery, so the application is still debated. Objectives: To examine the results of thoracoscopic congenital diaphragmatic hernia repair in neonates. Methods: The retrospective review was carried out on neonates with CDH who underwent thoracoscopic surgery from January 2018 to January 2020 at City Children’s Hospital. The perioperative characteristics were recorded. The primary outcome was hernia recurrence. Secondary outcomes included length of hospital stay, mechanical ventilation, and postoperative complications. Results: 35 neonates with CDH, of whom 34 underwent thoracoscopic repair and 1 required conversion to 1Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BSCKII. Tạ Huy Cần ĐT: 0975649090 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 129 open surgery. The hernia was located on the left side in 30 patients and on the right side in 4. High frequency oscillatory ventilation was used in 2 patients. Direct closure of two rims of diaphragmatic hernia was carried out in 5 patients. Closure of two rims of diaphragmatic hernia with the thoracic wall was performed in 29 patients. The mean operative time was 63 ± 21 minutes and duration of postoperative hospital stay was 21.85 ± 8.9 days. Recurrence rate was 3/34. There were no cases of postoperative mortality. Conclusions: We demonstrate that thoracoscopic repair for diaphragmatic hernia appears to be safe in terms of complications and mortality. Besides, it is associated with fast postoperative recovery. Keywords: congenital diaphragmatic hernia, neonates, thoracoscopic repair ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị hoành (TVH) là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, với tần suất của bệnh 1/2500 – 1/3000 trẻ sinh sống. Do khiếm khuyết trong sự phát triển của cơ hoành, tạng trong ổ bụng thoát vị vào khoang lồng ngực. Một tiến bộ quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân TVH bẩm sinh là chẩn đoán trước sinh, từ đó tham vấn các nguy cơ và tiên lượng dựa trên các hình ảnh học của siêu âm và cộng hưởng từ thai(1). Ngày nay, TVH bẩm sinh được xem là một cấp cứu nội khoa. Hồi sức trước mổ giúp cải thiện việc mở lại tuần hoàn thai nhi, tăng tính đàn hồi của phổi cũng như giảm sự nhạy cảm của giường mạch máu, tạo điều kiện tốt cho phẫu thuật. Nhờ tiến bộ của hồi sức sơ sinh mà tỷ lệ sống của TVH ngày càng cải thiện, 70-90%(1). Phẫu thuật nội soi (PTNS) ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Tuy nhiên, PTNS không chỉ đòi hỏi kỹ năng mà còn cần sự phối hợp tốt với gây mê hồi sức trước, trong và sau mổ. Bên cạnh đó, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2 trong mổ nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận(2,3,4). Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: PTNS điều trị TVH bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có hiệu quả, an toàn hay không? ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô tả về kết quả điều trị TVH bẩm sinh bằng PTNS khâu phục hồi cơ hoành tại bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố, từ 1/1/2018 đến 1/1/2020. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu hồi cứu mô tả. Phương pháp thực hiện Tất cả trẻ sơ sinh, chẩn đoán TVH khe sau bên điều trị bằng PTNS, theo dõi sau mổ ít nhất 6 tháng, được đưa vào nghiên cứu. Sau khi được hồi sức ổn định, PTNS lồng ngực được thực hiện trên các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn: cao áp phổi cải thiện trên siêu âm tim và trạng thái tim phổi ổn định. Tất cả các trường hợp phẫu thuật được thực hiện bởi cùng một phẫu thuật viên chính. Thu thập và xử lý dữ liệu Thu thập và phân tích các dữ liệu về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, phẫu thuật, điều trị sau mổ, biến chứng, tái phát, tử vong. Các phép kiểm thực hiện trên SPSS 20.1. KẾT QUẢ Trong thời gian nghiên cứu, ghi nhận 35 trường hợp trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. Trong đó, có 34 trẻ được PTNS hoàn toàn, 1 trẻ chuyển mổ mở. Đặc điểm bệnh nhi trước phẫu thuật Nghiên cứu có 15 nam (41,2%), 19 nữ (58,8%) với đa số sinh đủ tháng, chỉ có 2 trẻ sinh non. Có 22 trẻ được chẩn đoán trước sinh (64,7%), trong đó có 19 trẻ đã được tư vấn trước sinh (86,36%). Cân nặng lúc sinh trung bình là 3108 ± 278 gram (2400 - 3600 gram). Thời điểm xuất hiện suy hô hấp trung bình là 11,53 giờ tuổi, sớm nhất là ngay sau sinh và muộn nhất là 147 giờ sau sinh. Có 20 trẻ (58,5%) suy hô hấp ngay sau sinh Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 130 và 29 trẻ (85,3%) suy hô hấp trong ngày đầu sau sinh. Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ (70,6%), cao áp phổi ghi nhận ở 18 trẻ (59,2%), với áp lực động mạch phổi trung bình là 36,45 ± 13,65 mmHg (20 – 81 mmHg). TVH bên trái chiếm đa số, gặp ở 30 trẻ (88,2%), bên phải 4 trẻ (11,8%). Bảng 1: Khí máu động mạch trước phẫu thuật Khí máu (N = 34) Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất Cao nhất pH (n=34) 7,17 0,17 7 7,38 PCO2 (mmHg) (n=34) 53,02 10,34 42 73 PO2 (mmHg) (n=34) 89,75 32,94 28 159 AaDO2 (n=34) 73,85 58,93 4 228 FiO2 (%) (n=34) 27,95 4,09 21 40 Đa số trẻ cần hỗ trợ hô hấp bằng máy thở trước phẫu thuật, 28 trẻ (82,4%), với thời gian thở máy trước phẫu thuật trung bình là 95,5 ± 71 giờ (32 – 405 giờ). Có 2 trẻ cần thở máy rung tần số cao, chiếm 5,9%. Số trường hợp cần sử dụng thuốc vận mạch trước mổ là 9 (26,5%) (Bảng 1). Đặc điểm bệnh nhi trong phẫu thuật Thời điểm phẫu thuật trung vị là 73 giờ tuổi (26 - 408 giờ tuổi). Thoát vị hoành dạng B chiếm phần lớn, 24 trường hợp (70,6%), dạng C có 5 trường hợp (17,6%) và dạng A có 4 trường hợp (11,8%). Có 20 trẻ thoát vị hoành có túi (58,8%). Tạng thoát vị bao gồm ruột, kèm theo lách có 22 trường hợp (64,7%), gan 9 trường hợp (26,5%) và dạ dày có 7 trường hợp (20,6%). Có 5 trường hợp được khâu phục hồi cơ hoành bằng cách khâu trực tiếp 2 mép cơ hoành, còn đa số là các trường hợp còn lại, cơ hoành được khâu vào thành ngực (29 trẻ, 85,3%). Có 6 trường hợp cần dẫn lưu màng phổi sau mổ, chiếm 17,6%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 63,38 ± 21,02 phút (25 - 100 phút). EtCO2 trong mổ trung bình là 38,12 7,49 mmHg (20 – 56 mmHg), pH trong mổ trung bình là 7,27 0,11 (6,96 - 7,49), PaCO2 trong mổ trung bình là 47,66 mmHg (18,4 - 97,9 mmHg). Kết quả và biến chứng sau phẫu thuật Thời gian thở máy trung bình sau phẫu thuật 5,03 ± 4,05 ngày (1 – 22 ngày). Thời điểm bắt đầu cho ăn đường miệng trung bình là 4,26 ± 4,14 ngày (1 – 24 ngày), hơn nửa số trẻ (58,8%) bắt đầu ăn lại từ ngày thứ 3 sau mổ, hơn ba phần tư số trẻ bắt đầu ăn lại vào ngày thứ 4 sau mổ. Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch trung bình là 9,18 ± 5,58 ngày (4 – 33 ngày). Thời gian nằm hồi sức sau mổ trung bình là 10,38 ± 5,97 ngày (4 – 30 ngày). Có 1 bệnh nhi chảy máu sau phẫu thuật (2,9%), được mổ lại cầm máu vào ngày hậu phẫu thứ 2 sau mổ cắt túi thoát vị và khâu phục hồi cơ hoành trái. Có 4 trường hợp tràn khí màng phổi sau mổ (11,8%) và 10 trường hợp tràn dịch màng phổi sau mổ (29,4%). Không có trường hợp tử vong sau mổ, có 3/34 trường hợp tái phát sau mổ, chiếm tỷ lệ 8,8%, đều là thể có túi. Chúng tôi có 1 trường hợp tắc ruột do dính sau 2 tháng PTNS (2,9%), có 6 trường hợp trào ngược dạ dày thực quản (17,6%). Thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 21,85 ± 8,9 ngày (11 – 48 ngày). BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhi trước mổ Tỷ lệ chẩn đoán trước sinh của chúng tôi là 64,7% cao hơn so với nhiều nghiên cứu trong nước như tác giả Ngô Kim Thơi 1,9%(5), Đặng Quốc Bửu 10,6%(6). Sự khác biệt này do chúng tôi hợp tác với các bệnh viện sản của thành phố để tầm soát và tư vấn các dị tật trước sinh. Khi được chẩn đoán trước sinh, các trường hợp TVH sẽ được đánh giá mức độ nặng cũng như tầm soát thêm các dị tật bẩm sinh đi kèm, đặc biệt là dị tật tim và bất thường nhiễm sắc thể. Từ đó, bác sĩ lâm sàng sẽ có thái độ theo dõi thai kỳ thích hợp, thậm chí chấm dứt thai kỳ ở những trường hợp nặng, đa dị tật và giúp có sự chuẩn bị tâm lý, phương tiện hồi sức tại phòng sinh, chuyển viện đến đơn vị có khả năng phẫu thuật sơ sinh. Cân nặng trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 3108g, nhỏ nhất là 2400g, lớn nhất là 3600g. Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu PTNS của Jancelewicz T là 3100g(7) và Cho SD là 3258g(8). Trẻ TVH bẩm sinh được PTNS hầu hết có cân nặng tốt, không có báo cáo nào Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 131 được thực hiện trên trẻ cực nhẹ cân, giúp tạo thuận lợi cho việc gây mê và phẫu thuật viên thao tác dễ dàng hơn. Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ, không có trẻ nào bị tim bẩm sinh nặng do chúng tôi chỉ chọn những trẻ có dị tật tim nhẹ để PTNS. Tỷ lệ cao áp phổi trong nghiên cứu của chúng tôi là 59,2%, cao hơn của tác giả Đặng Quốc Bửu là 40,4%(6). Đây là một trong các yếu tố tiên lượng tử vong(1). Khí máu động mạch là phương tiện đánh giá tình trạng hô hấp của trẻ TVH, giúp xác định thời điểm ổn định của bệnh nhi để lựa chọn thời điểm phẫu thuật thích hợp. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số khí máu, đặc biệt là AaDO2 thấp hơn trong nghiên cứu của tác giả Chaudhary J(9) với AaDO2 trong khoảng 200 mmHg và tác giả Tanaka T(10) là 300 mmHg. Chỉ số pH trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn sao với hai tác giả trên. Đặc điểm bệnh nhi trong mổ Khuyến cáo chung về thời điểm phẫu thuật khi hồi sức bệnh nhi ổn định huyết áp, kiểm soát được cao áp phổi, ổn định các chỉ số về khí máu PaCO2 40 mmHg, SatO2 >85%, FiO2 <50% và tình trạng này được ổn định ít nhất 48 giờ(11). Kích thước khe thoát vị là một yếu tố tiên lượng quan trọng, khe thoát vị càng nhỏ tiên lượng càng tốt, tỷ lệ sống càng cao(12). Khe thoát vị lớn cũng gây khó khăn việc khâu phục hồi cơ hoành, đặc biệt là khi PTNS. Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số là khe thoát vị là nhỏ đến vừa (dạng A và B), chỉ có 1,6% trẻ có khe thoát vị lớn dạng C và không có trường hợp nào rất lớn dạng D. Theo một số tác giả, dạ dày thoát vị lên ngực là chống chỉ định của phẫu thuật nội soi vì nó liên quan đến kích thước khe thoát vị lớn và gây khó khăn cho việc khâu phục hồi cơ hoành(13). Tuy nhiên, khi kỹ thuật ngày càng thuần thục, khâu phục hồi cơ hoành có thể hoàn toàn được thực hiện qua nội soi trong trường hợp dạ dày thoát vị lên ngực, khe thoát vị lớn(14,15). Chúng tôi có 7 bệnh nhi thoát vị dạ dày lên ngực và nhận thấy không quá khó khăn để khâu phục hồi cơ hoành. Gan thoát vị cũng gây khó khăn cho PTNS. Chúng tôi có 8 bệnh nhi có một phần nhỏ gan thoát vị nên PTNS vẫn thực hiện được. Lách thoát vị không gây nhiều khó khăn cho PTNS, tuy nhiên việc đưa lách xuống bụng phải đảm bảo không sang chấn vì khi chảy máu rất khó kiểm soát. Để đưa lách xuống bụng, chúng tôi sử dụng 2 kẹp bắt chéo nhau, một kẹp vào đại tràng góc lách ở phía trước, một đưa xuống mặt dưới mép sau cơ hoành, để lách vào góc dưới chỗ bắt chéo, phối hợp 2 kẹp vừa kéo đại tràng góc lách xuống, vừa mở rộng khe thoát vị, vừa đẩy lách bằng chỗ bắt chéo 2 kẹp. Chúng tôi bắt đầu khâu cơ hoành ngay giữa khe thoát vị, làm hạn chế các tạng thoát vị trở lại lên ngực trong quá trình thao tác hoặc khi giảm áp lực bơm CO2, để các mũi khâu sau dễ dàng hơn. Trong trường hợp khe thoát vị nhỏ, khâu phục hồi cơ hoành được thực hiện đơn giản bằng khâu lại 2 mép cơ hoành. Đối với 24 trường hợp khe thoát vị cỡ vừa, chúng tôi chọn phương pháp khâu cơ hoành-cơ hoành và đặc biệt thêm vài mũi khâu cơ hoành vào thành ngực, với mũi khâu góc giữa thành ngực và cả 2 mép cơ hoành là điểm quyết định sự chắc chắn. Đối với khe thoát vị lớn, chúng tôi chọn khâu cơ hoành vào thành ngực, dọc theo khoảng gian sườn, nơ chỉ được cột bên ngoài và vùi vào dưới da thành ngực, giúp thay thế cho việc sử dụng mảnh ghép nhân tạo, tuy nhiên cơ hoành sẽ rất căng và cần thời gian theo dõi tái phát cho các trường hợp này. Chưa có sự thống nhất về việc có hay không dẫn lưu màng phổi sau PTNS(14,15). Chúng tôi có 6 trường hợp đầu đặt dẫn lưu màng phổi, sau đó chúng tôi nhận thấy nếu không đụng chạm phổi trong quá trình thao tác thì không cần thiết phải dẫn lưu màng phổi sau mổ. Thời gian phẫu thuật có sự cải thiện dần khi kỹ thuật trong PTNS càng hoàn thiện. Thời gian phẫu thuật trung bình của chúng tôi là 63,38 phút, khá tương đồng thậm chí ngắn hơn nhiều Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 132 nghiên cứu khác(8,15) do phần lớn trường hợp trong nghiên cứu này là khe thoát vị vừa và nhỏ cũng như không sử dụng mảnh ghép nhân tạo. Trong mổ, chúng tối theo dõi liên tục EtCO2 với EtCO2 trung bình vẫn nằm trong giá trị bình thường là 38,12 mmHg. Đây là chỉ số quan trọng dùng để theo dõi trong quá trình PTNS. Tăng PaCO2 và toan hoá máu trong quá trình nội soi lồng ngực được báo cáo đầu tiên vào năm 2009 bởi Bliss D(16). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu không cho thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của PTNS trong điều trị TVH(17,18). Chúng tôi nhận thấy PaCO2 tăng không đáng kể và chưa ghi nhận tác động bất lợi trên bệnh nhi. Chúng tôi có một trường hợp chuyển mổ mở do tình trạng bệnh nhi xấu hơn với EtCO2 tăng sau khi đặt trocar đầu tiên và bơm CO2 vào khoang màng phổi. Thêm vào đó, chúng tôi tiên lượng cuộc mổ kéo dài vì khe thoát vị lớn với dạ dày, một phần gan trái, lách và ruột thoát vị lên ngực. Kết quả và biến chứng sau mổ Thời gian thở máy sau mổ khi phẫu thuật nội soi được nhiều tác giả ghi nhận ngắn hơn so với phẫu thuật mở(14,19,20). Điều này ủng hộ cho việc thực hiện PTNS điều trị TVH. Thời điểm bắt đầu cho ăn đường miệng và đạt đinh dưỡng hoàn toàn đường miệng khi PTNS sớm hơn mổ mở(14), do thao tác ít chạm vào ruột nên nhu động phục hồi sớm hơn. Ngoài ra, do ít đau hơn nên thời gian sử dụng an thần và giảm đau sau mổ ngắn hơn, tạo thuận lợi cho việc bắt đầu nuôi ăn đường miệng sớm. Chúng tôi có 1 trường hợp chảy máu sau mổ, nguyên nhân do chảy máu diện cắt túi thoát vị. Bên cạnh hai nguyên nhân chính gây chảy máu là tổn thương lách và mạch máu liên sườn khi khâu cơ hoành vào thành ngực thì chảy máu diện cắt cần được lưu ý. Chúng tôi ghi nhận 4 bệnh nhi (chiếm 10,8%) tràn khí màng phổi sau mổ, trong đó có 3 bệnh nhi đã được dẫn lưu màng phổi thường quy trong lúc mổ. Cả 4 trường hợp tràn khí màng phổi đều tự giới hạn. Tràn khí màng phổi sau mổ có thể do vỡ phế nang khi thực hiện hỗ trợ hô hấp hoặc do sang chấn trực tiếp khi thao tác trong quá trình PTNS. Chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp TVH tái phát, tương đồng với một số báo cáo trong nước và trên thế giới(8,11,15). Cả 3 trường hợp tái phát đều có khe thoát vị lớn. Chúng tôi nhận thấy khe thoát vị lớn là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tái phát và biện pháp khắc phục là thực hiện mũi khâu từ ngoài thành ngực ở nơi yếu nhất là tam giác giữa mép trước, mép sau cơ hoành và thành ngực. Có 1 trường hợp tắc ruột do dính sau mổ. Theo Cho SD(8), Gourlay DM(3), McHoney M(4) những trẻ phẫu thuật nội soi đường ngực điều trị TVH có tỷ lệ tắc ruột sau mổ thấp hơn những trẻ được mổ mở. Chúng tôi không ghi nhận có trường hợp nào tử vong sau mổ, tương tự với các tác giả Gourlay DM(3), McHoneyM(4). Kết quả này cho thấy PTNS điều trị thoát vị hoành có thể được thực hiện an toàn trên những trẻ sơ sinh được chọn lựa với tiêu chuẩn rõ ràng. KẾT LUẬN PTNS có thể thực hiện an toàn, hiệu quả trên những trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh. Tuy nhiên cần phải chọn bệnh tốt, phối hợp tốt giữa hồi sức sơ sinh, gây mê và phẫu thuật viên. Đặc biệt, để phẫu thuật an toàn và hiệu quả cần kiểm soát việc tăng PaCO2 trong mổ cũng như đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kỹ năng tốt về phẫu PTNS. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hedrick HL, Adzick NS (2019). Congenital diaphragmatic hernia in the neonate. UpToDate, TW (Ed), Waltham, MA. 2. Kamran A, Zendejas B, Demehri FR, et al (2018). Risk factors for recurrence after thoracoscopic repair of congenital diaphragmatic hernia (CDH). J Pediatr Surg, 53(11):2087-2091. 3. Gourlay DM, Cassidy LD, Sato TT (2009). Beyond feasibility: a comparison of newborns undergoing thoracoscopic and open repair of congenital diaphragmatic hernias. J Pediatr Surg, 44(9):1702-1707. 4. McHoney M, Giacomello L, Nah SA, et al (2010). Thoracoscopic repair of congenital diaphragmatic hernia: intraoperative ventilation and recurrence. J Pediatr Surg, 45(2):355-359. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 133 5. Ngô Kim Thơi (2003). Chọn thời điểm phẫu thuật trong thoát vị hoành khe sau bên bẩm sinh ở sơ sinh. Luận văn Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. 6. Đặng Quốc Bửu (2017). Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và điều trị thoát vị hoành bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi đồng 1. Luận văn Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch. 7. Jancelewicz T, Langer JC, Chiang M (2013). Thoracoscopic repair of neonatal congenital diaphragmatic hernia (CDH): outcomes after a systematic quality improvement process. J Pediatr Surg, 48(2):321-325. 8. Cho SD, Krishnaswami S, McKee JC (2009). Analysis of 29 consecutive thoracoscopic repairs of congenital diaphragmatic hernia in neonates compared to historical controls. J Pediatr Surg, 44(1):80-6. 9. Chaudhary J, Shivprasad B, Lakshmi V (2019). Analysis of Prognostic Factors in Congenital Diaphragmatic Hernia in Neonates. J Indian Assoc Pediatr Surg, 24(3):176-179. 10. Tanaka T, Okazaki T, Fukatsu Y (2013). Surgical intervention for congenital diaphragmatic hernia: open versus thoracoscopic surgery. Pediatr Surg Int, 29(11):1183-1186. 11. Tsao K, Lally KP (2011). Surgical management of the newborn with congenital diaphragmatic hernia. Fetal Diagn Ther, 29(1):46- 54. 12. Lally KP, Lally PA, Lasky RE (2007). Defect size determines survival in infants with congenital diaphragmatic hernia. Pediatrics, 120(3):651-657. 13. Becmeur F (2009). Congenital diaphragmatic heria repair. In: Essentials of Pediatric Endoscopic Surgery, pp.129-136. Springer, Berlin. 14. Criss CN, Coughlin MA, Matusko N (2018). Outcomes for thoracoscopic versus open repair of small to moderate congenital diaphragmatic hernias. J Pediatr Surg, 53(4): 635-639. 15. Liem NT, Nhat LQ, Tuan TM (2011). Thoracoscopic repair for congenital diaphragmatic hernia: experience with 139 cases. J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 21(3):267-270. 16. Bliss D, Matar M, Krishnswami S (2009). Should Intraoperative Hypercapnea or Hypercarbia Raise Concern in Neonates Undergoing Thoracoscopic Repair of Diaphragmatic Hernia of Bochdalek? J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 19(1):55-58. 17. Fishman JR, Blackburn SC, Jones NJ (2011). Does thoracoscopic congenital diaphragmatic hernia repair cause a significant intraoperative acidosis when compared to an open abdominal approach? J Pediatr Surg, 46(3):458-461. 18. Okazaki T, Okawada M, Koga H (2015). Safety of surgery for neonatal congenital diaphragmatic hernia as reflected by arterial blood gas monitoring: thoracoscopic versus open repair. Pediatr Surg Int, 31(10):899-904. 19. Qin J, Ren Y, Ma D (2019). A comparative study of thoracoscopic and open surgery of congenital diaphragmatic hernia in neonates. J Cardiothorac Surg, 14(1):118. 20. Vijfhuize S, Deden AC, Costerus SA, et al (2012). Minimal access surgery for repair of congenital diaphragmatic hernia: is it advantageous? An open review. Eur J Pediatr Surg, 22(5):364- 373. Ngày nhận bài báo: 06/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_phau_thuat_noi_soi_dieu_tri_thoat_vi_hoanh.pdf

