Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Đặt vấn đề: Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ

sinh. Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Tuy

nhiên, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2trong mổ

nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca những trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm

sinh được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu phục hồi cơ hoành từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2020 tại Bệnh viện

Nhi Đồng Thành Phố. Mô tả đặc điểm trước, trong và sau phẫu thuật. Kết quả ban đầu đánh giá tỷ lệ thoát vị tái

phát. Kết quả thứ phát bao gồm thời gian nằm viện, thời gian thở máy và các biến chứng sau mổ

pdf 6 trang phuongnguyen 420
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 128 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ 
THOÁT VỊ HOÀNH BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH 
Tạ Huy Cần1, Huỳnh Thị Thanh Thảo1, Trần Tấn Lộc1, Nguyễn thị Cẩm Xuyên1, Trương Quang Định1, 
Trương Nguyễn Uy Linh2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Thoát vị hoành là một trong những nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô hấp ở trẻ sơ 
sinh. Phẫu thuật nội soi ở sơ sinh ngày càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị TVH bẩm sinh. Tuy 
nhiên, tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2 trong mổ 
nên việc áp dụng vẫn còn tranh luận. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca những trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm 
sinh được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu phục hồi cơ hoành từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2020 tại Bệnh viện 
Nhi Đồng Thành Phố. Mô tả đặc điểm trước, trong và sau phẫu thuật. Kết quả ban đầu đánh giá tỷ lệ thoát vị tái 
phát. Kết quả thứ phát bao gồm thời gian nằm viện, thời gian thở máy và các biến chứng sau mổ. 
Kết quả: Có 35 trẻ sơ sinh bị thoát vị hoành bẩm sinh, với 34 trường hợp được phẫu thuật nội soi và 1 
trường hợp phải chuyển mổ mở. Thoát vị hoành bên trái 30 bệnh nhân và bên phải 4 bệnh nhân. Có 2 bệnh nhân 
thở rung tần số cao. Khâu trực tiếp 2 mầm cơ hoành với nhau trong 5 trường hợp. Khâu 2 mầm cơ hoành với cơ 
thành ngực trong 29 trường hợp. Thời gian phẫu thuật trung bình 63 ± 21 phút và thời gian nằm viện trung 
bình sau mổ 21,85± 8,9 ngày. Tỷ lệ tái phát 3/34 trường hợp. Không có trường hợp tử vong sau mổ. 
Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị hoành an toàn 
về mặt biến chứng và tử vong. Ngoài ra, thời gian hồi phục sau mổ nhanh. 
Từ khóa: thoát vị hoành bẩm sinh, sơ sinh, phẫu thuật nội soi lồng ngực 
ABSTRACT 
RESULT OF LAPAROSCOPIC SURGERY IN THE TREATMENT OF CONGENITAL 
DIAPHRAGMATIC HERNIA IN NEONATES 
Ta Huy Can, Huynh Thi Thanh Thao, Tran Tan Loc, Nguyen Thi Cam Xuyen, Truong Quang Dinh, 
Truong Nguyen Uy Linh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 128 - 133 
Background: Diaphragmatic hernia is one of the important surgical causes of neonatal respiratory failure. 
Laparoscopic surgery in newborn is increasingly developing. However, the recurrence rate in laparoscopic surgery 
is higher than in open surgery as well as concerns about the adverse effects of CO2 pump in surgery, so the 
application is still debated. 
Objectives: To examine the results of thoracoscopic congenital diaphragmatic hernia repair in neonates. 
Methods: The retrospective review was carried out on neonates with CDH who underwent thoracoscopic 
surgery from January 2018 to January 2020 at City Children’s Hospital. The perioperative characteristics were 
recorded. The primary outcome was hernia recurrence. Secondary outcomes included length of hospital stay, 
mechanical ventilation, and postoperative complications. 
Results: 35 neonates with CDH, of whom 34 underwent thoracoscopic repair and 1 required conversion to 
1Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BSCKII. Tạ Huy Cần ĐT: 0975649090 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 129 
open surgery. The hernia was located on the left side in 30 patients and on the right side in 4. High frequency 
oscillatory ventilation was used in 2 patients. Direct closure of two rims of diaphragmatic hernia was carried out 
in 5 patients. Closure of two rims of diaphragmatic hernia with the thoracic wall was performed in 29 patients. 
The mean operative time was 63 ± 21 minutes and duration of postoperative hospital stay was 21.85 ± 8.9 days. 
Recurrence rate was 3/34. There were no cases of postoperative mortality. 
Conclusions: We demonstrate that thoracoscopic repair for diaphragmatic hernia appears to be safe in terms 
of complications and mortality. Besides, it is associated with fast postoperative recovery. 
Keywords: congenital diaphragmatic hernia, neonates, thoracoscopic repair 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thoát vị hoành (TVH) là một trong những 
nguyên nhân ngoại khoa quan trọng gây suy hô 
hấp ở trẻ sơ sinh, với tần suất của bệnh 1/2500 – 
1/3000 trẻ sinh sống. Do khiếm khuyết trong sự 
phát triển của cơ hoành, tạng trong ổ bụng thoát 
vị vào khoang lồng ngực. Một tiến bộ quan 
trọng trong chăm sóc bệnh nhân TVH bẩm sinh 
là chẩn đoán trước sinh, từ đó tham vấn các 
nguy cơ và tiên lượng dựa trên các hình ảnh học 
của siêu âm và cộng hưởng từ thai(1). 
Ngày nay, TVH bẩm sinh được xem là một 
cấp cứu nội khoa. Hồi sức trước mổ giúp cải thiện 
việc mở lại tuần hoàn thai nhi, tăng tính đàn hồi 
của phổi cũng như giảm sự nhạy cảm của giường 
mạch máu, tạo điều kiện tốt cho phẫu thuật. Nhờ 
tiến bộ của hồi sức sơ sinh mà tỷ lệ sống của TVH 
ngày càng cải thiện, 70-90%(1). 
Phẫu thuật nội soi (PTNS) ở sơ sinh ngày 
càng phát triển và được ứng dụng trong điều trị 
TVH bẩm sinh. Tuy nhiên, PTNS không chỉ đòi 
hỏi kỹ năng mà còn cần sự phối hợp tốt với gây 
mê hồi sức trước, trong và sau mổ. Bên cạnh đó, 
tỷ lệ tái phát trong mổ nội soi cao hơn mổ mở 
cũng như lo ngại tác dụng bất lợi của bơm CO2 
trong mổ nên việc áp dụng vẫn còn tranh 
luận(2,3,4). Chính vì thế, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: PTNS điều trị 
TVH bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có hiệu quả, an toàn 
hay không? 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô 
tả về kết quả điều trị TVH bẩm sinh bằng PTNS 
khâu phục hồi cơ hoành tại bệnh viện Nhi Đồng 
Thành Phố, từ 1/1/2018 đến 1/1/2020. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu hồi cứu mô tả. 
Phương pháp thực hiện 
Tất cả trẻ sơ sinh, chẩn đoán TVH khe sau 
bên điều trị bằng PTNS, theo dõi sau mổ ít nhất 
6 tháng, được đưa vào nghiên cứu. Sau khi được 
hồi sức ổn định, PTNS lồng ngực được thực hiện 
trên các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn: cao áp phổi 
cải thiện trên siêu âm tim và trạng thái tim phổi 
ổn định. Tất cả các trường hợp phẫu thuật được 
thực hiện bởi cùng một phẫu thuật viên chính. 
Thu thập và xử lý dữ liệu 
Thu thập và phân tích các dữ liệu về dịch tễ, 
lâm sàng, cận lâm sàng, phẫu thuật, điều trị sau 
mổ, biến chứng, tái phát, tử vong. Các phép 
kiểm thực hiện trên SPSS 20.1. 
KẾT QUẢ 
Trong thời gian nghiên cứu, ghi nhận 35 
trường hợp trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh thỏa tiêu 
chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. 
Trong đó, có 34 trẻ được PTNS hoàn toàn, 1 trẻ 
chuyển mổ mở. 
Đặc điểm bệnh nhi trước phẫu thuật 
Nghiên cứu có 15 nam (41,2%), 19 nữ (58,8%) 
với đa số sinh đủ tháng, chỉ có 2 trẻ sinh non. Có 
22 trẻ được chẩn đoán trước sinh (64,7%), trong 
đó có 19 trẻ đã được tư vấn trước sinh (86,36%). 
Cân nặng lúc sinh trung bình là 3108 ± 278 
gram (2400 - 3600 gram). Thời điểm xuất hiện 
suy hô hấp trung bình là 11,53 giờ tuổi, sớm nhất 
là ngay sau sinh và muộn nhất là 147 giờ sau 
sinh. Có 20 trẻ (58,5%) suy hô hấp ngay sau sinh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 130 
và 29 trẻ (85,3%) suy hô hấp trong ngày đầu sau 
sinh. Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ (70,6%), cao áp 
phổi ghi nhận ở 18 trẻ (59,2%), với áp lực động 
mạch phổi trung bình là 36,45 ± 13,65 mmHg (20 
– 81 mmHg). TVH bên trái chiếm đa số, gặp ở 30 
trẻ (88,2%), bên phải 4 trẻ (11,8%). 
Bảng 1: Khí máu động mạch trước phẫu thuật 
Khí máu (N = 34) 
Trung 
bình 
Độ lệch 
chuẩn 
Thấp 
nhất 
Cao 
nhất 
pH (n=34) 7,17 0,17 7 7,38 
PCO2 (mmHg) (n=34) 53,02 10,34 42 73 
PO2 (mmHg) (n=34) 89,75 32,94 28 159 
AaDO2 (n=34) 73,85 58,93 4 228 
FiO2 (%) (n=34) 27,95 4,09 21 40 
Đa số trẻ cần hỗ trợ hô hấp bằng máy thở 
trước phẫu thuật, 28 trẻ (82,4%), với thời gian 
thở máy trước phẫu thuật trung bình là 95,5 ± 71 
giờ (32 – 405 giờ). Có 2 trẻ cần thở máy rung tần 
số cao, chiếm 5,9%. Số trường hợp cần sử dụng 
thuốc vận mạch trước mổ là 9 (26,5%) (Bảng 1). 
Đặc điểm bệnh nhi trong phẫu thuật 
Thời điểm phẫu thuật trung vị là 73 giờ tuổi 
(26 - 408 giờ tuổi). 
Thoát vị hoành dạng B chiếm phần lớn, 24 
trường hợp (70,6%), dạng C có 5 trường hợp 
(17,6%) và dạng A có 4 trường hợp (11,8%). Có 
20 trẻ thoát vị hoành có túi (58,8%). Tạng thoát vị 
bao gồm ruột, kèm theo lách có 22 trường hợp 
(64,7%), gan 9 trường hợp (26,5%) và dạ dày có 7 
trường hợp (20,6%). 
Có 5 trường hợp được khâu phục hồi cơ 
hoành bằng cách khâu trực tiếp 2 mép cơ hoành, 
còn đa số là các trường hợp còn lại, cơ hoành 
được khâu vào thành ngực (29 trẻ, 85,3%). 
Có 6 trường hợp cần dẫn lưu màng phổi sau 
mổ, chiếm 17,6%. Thời gian phẫu thuật trung 
bình là 63,38 ± 21,02 phút (25 - 100 phút). EtCO2 
trong mổ trung bình là 38,12 7,49 mmHg (20 – 
56 mmHg), pH trong mổ trung bình là 7,27 
0,11 (6,96 - 7,49), PaCO2 trong mổ trung bình là 
47,66 mmHg (18,4 - 97,9 mmHg). 
Kết quả và biến chứng sau phẫu thuật 
Thời gian thở máy trung bình sau phẫu thuật 
5,03 ± 4,05 ngày (1 – 22 ngày). Thời điểm bắt đầu 
cho ăn đường miệng trung bình là 4,26 ± 4,14 
ngày (1 – 24 ngày), hơn nửa số trẻ (58,8%) bắt 
đầu ăn lại từ ngày thứ 3 sau mổ, hơn ba phần tư 
số trẻ bắt đầu ăn lại vào ngày thứ 4 sau mổ. Thời 
gian nuôi ăn tĩnh mạch trung bình là 9,18 ± 5,58 
ngày (4 – 33 ngày). Thời gian nằm hồi sức sau 
mổ trung bình là 10,38 ± 5,97 ngày (4 – 30 ngày). 
Có 1 bệnh nhi chảy máu sau phẫu thuật 
(2,9%), được mổ lại cầm máu vào ngày hậu phẫu 
thứ 2 sau mổ cắt túi thoát vị và khâu phục hồi cơ 
hoành trái. Có 4 trường hợp tràn khí màng phổi 
sau mổ (11,8%) và 10 trường hợp tràn dịch màng 
phổi sau mổ (29,4%). 
Không có trường hợp tử vong sau mổ, có 
3/34 trường hợp tái phát sau mổ, chiếm tỷ lệ 
8,8%, đều là thể có túi. Chúng tôi có 1 trường 
hợp tắc ruột do dính sau 2 tháng PTNS (2,9%), 
có 6 trường hợp trào ngược dạ dày thực quản 
(17,6%). Thời gian nằm viện trung bình sau mổ 
là 21,85 ± 8,9 ngày (11 – 48 ngày). 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm bệnh nhi trước mổ 
Tỷ lệ chẩn đoán trước sinh của chúng tôi là 
64,7% cao hơn so với nhiều nghiên cứu trong 
nước như tác giả Ngô Kim Thơi 1,9%(5), Đặng 
Quốc Bửu 10,6%(6). Sự khác biệt này do chúng tôi 
hợp tác với các bệnh viện sản của thành phố để 
tầm soát và tư vấn các dị tật trước sinh. Khi được 
chẩn đoán trước sinh, các trường hợp TVH sẽ 
được đánh giá mức độ nặng cũng như tầm soát 
thêm các dị tật bẩm sinh đi kèm, đặc biệt là dị tật 
tim và bất thường nhiễm sắc thể. Từ đó, bác sĩ 
lâm sàng sẽ có thái độ theo dõi thai kỳ thích hợp, 
thậm chí chấm dứt thai kỳ ở những trường hợp 
nặng, đa dị tật và giúp có sự chuẩn bị tâm lý, 
phương tiện hồi sức tại phòng sinh, chuyển viện 
đến đơn vị có khả năng phẫu thuật sơ sinh. 
Cân nặng trung bình trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 3108g, nhỏ nhất là 2400g, lớn nhất là 
3600g. Kết quả này tương tự như kết quả nghiên 
cứu PTNS của Jancelewicz T là 3100g(7) và Cho 
SD là 3258g(8). Trẻ TVH bẩm sinh được PTNS 
hầu hết có cân nặng tốt, không có báo cáo nào 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 131 
được thực hiện trên trẻ cực nhẹ cân, giúp tạo 
thuận lợi cho việc gây mê và phẫu thuật viên 
thao tác dễ dàng hơn. 
Tim bẩm sinh gặp ở 24 trẻ, không có trẻ nào 
bị tim bẩm sinh nặng do chúng tôi chỉ chọn 
những trẻ có dị tật tim nhẹ để PTNS. Tỷ lệ cao 
áp phổi trong nghiên cứu của chúng tôi là 59,2%, 
cao hơn của tác giả Đặng Quốc Bửu là 40,4%(6). 
Đây là một trong các yếu tố tiên lượng tử vong(1). 
Khí máu động mạch là phương tiện đánh giá 
tình trạng hô hấp của trẻ TVH, giúp xác định 
thời điểm ổn định của bệnh nhi để lựa chọn thời 
điểm phẫu thuật thích hợp. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, các chỉ số khí máu, đặc biệt là 
AaDO2 thấp hơn trong nghiên cứu của tác giả 
Chaudhary J(9) với AaDO2 trong khoảng 200 
mmHg và tác giả Tanaka T(10) là 300 mmHg. Chỉ 
số pH trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp 
hơn sao với hai tác giả trên. 
Đặc điểm bệnh nhi trong mổ 
Khuyến cáo chung về thời điểm phẫu thuật 
khi hồi sức bệnh nhi ổn định huyết áp, kiểm soát 
được cao áp phổi, ổn định các chỉ số về khí máu 
PaCO2 40 mmHg, SatO2 >85%, 
FiO2 <50% và tình trạng này được ổn định ít nhất 
48 giờ(11). 
Kích thước khe thoát vị là một yếu tố tiên 
lượng quan trọng, khe thoát vị càng nhỏ tiên 
lượng càng tốt, tỷ lệ sống càng cao(12). Khe thoát 
vị lớn cũng gây khó khăn việc khâu phục hồi cơ 
hoành, đặc biệt là khi PTNS. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, đa số là khe thoát vị là nhỏ đến 
vừa (dạng A và B), chỉ có 1,6% trẻ có khe thoát vị 
lớn dạng C và không có trường hợp nào rất lớn 
dạng D. 
Theo một số tác giả, dạ dày thoát vị lên 
ngực là chống chỉ định của phẫu thuật nội soi 
vì nó liên quan đến kích thước khe thoát vị lớn 
và gây khó khăn cho việc khâu phục hồi cơ 
hoành(13). Tuy nhiên, khi kỹ thuật ngày càng 
thuần thục, khâu phục hồi cơ hoành có thể 
hoàn toàn được thực hiện qua nội soi trong 
trường hợp dạ dày thoát vị lên ngực, khe thoát 
vị lớn(14,15). Chúng tôi có 7 bệnh nhi thoát vị dạ 
dày lên ngực và nhận thấy không quá khó 
khăn để khâu phục hồi cơ hoành. 
Gan thoát vị cũng gây khó khăn cho PTNS. 
Chúng tôi có 8 bệnh nhi có một phần nhỏ gan 
thoát vị nên PTNS vẫn thực hiện được. Lách 
thoát vị không gây nhiều khó khăn cho PTNS, 
tuy nhiên việc đưa lách xuống bụng phải đảm 
bảo không sang chấn vì khi chảy máu rất khó 
kiểm soát. Để đưa lách xuống bụng, chúng tôi sử 
dụng 2 kẹp bắt chéo nhau, một kẹp vào đại tràng 
góc lách ở phía trước, một đưa xuống mặt dưới 
mép sau cơ hoành, để lách vào góc dưới chỗ bắt 
chéo, phối hợp 2 kẹp vừa kéo đại tràng góc lách 
xuống, vừa mở rộng khe thoát vị, vừa đẩy lách 
bằng chỗ bắt chéo 2 kẹp. 
Chúng tôi bắt đầu khâu cơ hoành ngay 
giữa khe thoát vị, làm hạn chế các tạng thoát vị 
trở lại lên ngực trong quá trình thao tác hoặc 
khi giảm áp lực bơm CO2, để các mũi khâu sau 
dễ dàng hơn. Trong trường hợp khe thoát vị 
nhỏ, khâu phục hồi cơ hoành được thực hiện 
đơn giản bằng khâu lại 2 mép cơ hoành. Đối 
với 24 trường hợp khe thoát vị cỡ vừa, chúng 
tôi chọn phương pháp khâu cơ hoành-cơ 
hoành và đặc biệt thêm vài mũi khâu cơ hoành 
vào thành ngực, với mũi khâu góc giữa thành 
ngực và cả 2 mép cơ hoành là điểm quyết định 
sự chắc chắn. Đối với khe thoát vị lớn, chúng 
tôi chọn khâu cơ hoành vào thành ngực, dọc 
theo khoảng gian sườn, nơ chỉ được cột bên 
ngoài và vùi vào dưới da thành ngực, giúp 
thay thế cho việc sử dụng mảnh ghép nhân 
tạo, tuy nhiên cơ hoành sẽ rất căng và cần thời 
gian theo dõi tái phát cho các trường hợp này. 
Chưa có sự thống nhất về việc có hay không 
dẫn lưu màng phổi sau PTNS(14,15). Chúng tôi có 
6 trường hợp đầu đặt dẫn lưu màng phổi, sau đó 
chúng tôi nhận thấy nếu không đụng chạm phổi 
trong quá trình thao tác thì không cần thiết phải 
dẫn lưu màng phổi sau mổ. 
Thời gian phẫu thuật có sự cải thiện dần khi 
kỹ thuật trong PTNS càng hoàn thiện. Thời gian 
phẫu thuật trung bình của chúng tôi là 63,38 
phút, khá tương đồng thậm chí ngắn hơn nhiều 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 132 
nghiên cứu khác(8,15) do phần lớn trường hợp 
trong nghiên cứu này là khe thoát vị vừa và nhỏ 
cũng như không sử dụng mảnh ghép nhân tạo. 
Trong mổ, chúng tối theo dõi liên tục EtCO2 
với EtCO2 trung bình vẫn nằm trong giá trị bình 
thường là 38,12 mmHg. Đây là chỉ số quan trọng 
dùng để theo dõi trong quá trình PTNS. Tăng 
PaCO2 và toan hoá máu trong quá trình nội soi 
lồng ngực được báo cáo đầu tiên vào năm 2009 
bởi Bliss D(16). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu 
không cho thấy bằng chứng về tác động tiêu cực 
của PTNS trong điều trị TVH(17,18). Chúng tôi 
nhận thấy PaCO2 tăng không đáng kể và chưa 
ghi nhận tác động bất lợi trên bệnh nhi. 
Chúng tôi có một trường hợp chuyển mổ 
mở do tình trạng bệnh nhi xấu hơn với EtCO2 
tăng sau khi đặt trocar đầu tiên và bơm CO2 
vào khoang màng phổi. Thêm vào đó, chúng 
tôi tiên lượng cuộc mổ kéo dài vì khe thoát vị 
lớn với dạ dày, một phần gan trái, lách và ruột 
thoát vị lên ngực. 
Kết quả và biến chứng sau mổ 
Thời gian thở máy sau mổ khi phẫu thuật 
nội soi được nhiều tác giả ghi nhận ngắn hơn so 
với phẫu thuật mở(14,19,20). Điều này ủng hộ cho 
việc thực hiện PTNS điều trị TVH. 
Thời điểm bắt đầu cho ăn đường miệng và 
đạt đinh dưỡng hoàn toàn đường miệng khi 
PTNS sớm hơn mổ mở(14), do thao tác ít chạm 
vào ruột nên nhu động phục hồi sớm hơn. Ngoài 
ra, do ít đau hơn nên thời gian sử dụng an thần 
và giảm đau sau mổ ngắn hơn, tạo thuận lợi cho 
việc bắt đầu nuôi ăn đường miệng sớm. 
Chúng tôi có 1 trường hợp chảy máu sau 
mổ, nguyên nhân do chảy máu diện cắt túi thoát 
vị. Bên cạnh hai nguyên nhân chính gây chảy 
máu là tổn thương lách và mạch máu liên sườn 
khi khâu cơ hoành vào thành ngực thì chảy máu 
diện cắt cần được lưu ý. 
Chúng tôi ghi nhận 4 bệnh nhi (chiếm 10,8%) 
tràn khí màng phổi sau mổ, trong đó có 3 bệnh 
nhi đã được dẫn lưu màng phổi thường quy 
trong lúc mổ. Cả 4 trường hợp tràn khí màng 
phổi đều tự giới hạn. Tràn khí màng phổi sau 
mổ có thể do vỡ phế nang khi thực hiện hỗ trợ 
hô hấp hoặc do sang chấn trực tiếp khi thao tác 
trong quá trình PTNS. 
Chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp TVH tái 
phát, tương đồng với một số báo cáo trong nước 
và trên thế giới(8,11,15). Cả 3 trường hợp tái phát 
đều có khe thoát vị lớn. Chúng tôi nhận thấy khe 
thoát vị lớn là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tái 
phát và biện pháp khắc phục là thực hiện mũi 
khâu từ ngoài thành ngực ở nơi yếu nhất là tam 
giác giữa mép trước, mép sau cơ hoành và thành 
ngực. 
Có 1 trường hợp tắc ruột do dính sau mổ. 
Theo Cho SD(8), Gourlay DM(3), McHoney M(4) 
những trẻ phẫu thuật nội soi đường ngực điều 
trị TVH có tỷ lệ tắc ruột sau mổ thấp hơn những 
trẻ được mổ mở. 
Chúng tôi không ghi nhận có trường hợp 
nào tử vong sau mổ, tương tự với các tác giả 
Gourlay DM(3), McHoneyM(4). Kết quả này cho 
thấy PTNS điều trị thoát vị hoành có thể được 
thực hiện an toàn trên những trẻ sơ sinh được 
chọn lựa với tiêu chuẩn rõ ràng. 
KẾT LUẬN 
PTNS có thể thực hiện an toàn, hiệu quả 
trên những trẻ sơ sinh TVH bẩm sinh. Tuy 
nhiên cần phải chọn bệnh tốt, phối hợp tốt 
giữa hồi sức sơ sinh, gây mê và phẫu thuật 
viên. Đặc biệt, để phẫu thuật an toàn và hiệu 
quả cần kiểm soát việc tăng PaCO2 trong mổ 
cũng như đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kỹ 
năng tốt về phẫu PTNS. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hedrick HL, Adzick NS (2019). Congenital diaphragmatic 
hernia in the neonate. UpToDate, TW (Ed), Waltham, MA. 
2. Kamran A, Zendejas B, Demehri FR, et al (2018). Risk factors for 
recurrence after thoracoscopic repair of congenital 
diaphragmatic hernia (CDH). J Pediatr Surg, 53(11):2087-2091. 
3. Gourlay DM, Cassidy LD, Sato TT (2009). Beyond feasibility: a 
comparison of newborns undergoing thoracoscopic and open 
repair of congenital diaphragmatic hernias. J Pediatr Surg, 
44(9):1702-1707. 
4. McHoney M, Giacomello L, Nah SA, et al (2010). Thoracoscopic 
repair of congenital diaphragmatic hernia: intraoperative 
ventilation and recurrence. J Pediatr Surg, 45(2):355-359. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 133 
5. Ngô Kim Thơi (2003). Chọn thời điểm phẫu thuật trong thoát vị 
hoành khe sau bên bẩm sinh ở sơ sinh. Luận văn Bác sĩ Nội trú, 
Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. 
6. Đặng Quốc Bửu (2017). Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và điều trị 
thoát vị hoành bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi đồng 1. Luận văn Bác 
sĩ Nội trú, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch. 
7. Jancelewicz T, Langer JC, Chiang M (2013). Thoracoscopic 
repair of neonatal congenital diaphragmatic hernia (CDH): 
outcomes after a systematic quality improvement process. J 
Pediatr Surg, 48(2):321-325. 
8. Cho SD, Krishnaswami S, McKee JC (2009). Analysis of 29 
consecutive thoracoscopic repairs of congenital diaphragmatic 
hernia in neonates compared to historical controls. J Pediatr 
Surg, 44(1):80-6. 
9. Chaudhary J, Shivprasad B, Lakshmi V (2019). Analysis of 
Prognostic Factors in Congenital Diaphragmatic Hernia in 
Neonates. J Indian Assoc Pediatr Surg, 24(3):176-179. 
10. Tanaka T, Okazaki T, Fukatsu Y (2013). Surgical intervention for 
congenital diaphragmatic hernia: open versus thoracoscopic 
surgery. Pediatr Surg Int, 29(11):1183-1186. 
11. Tsao K, Lally KP (2011). Surgical management of the newborn 
with congenital diaphragmatic hernia. Fetal Diagn Ther, 29(1):46-
54. 
12. Lally KP, Lally PA, Lasky RE (2007). Defect size determines 
survival in infants with congenital diaphragmatic hernia. 
Pediatrics, 120(3):651-657. 
13. Becmeur F (2009). Congenital diaphragmatic heria repair. In: 
Essentials of Pediatric Endoscopic Surgery, pp.129-136. Springer, 
Berlin. 
14. Criss CN, Coughlin MA, Matusko N (2018). Outcomes for 
thoracoscopic versus open repair of small to moderate 
congenital diaphragmatic hernias. J Pediatr Surg, 53(4): 635-639. 
15. Liem NT, Nhat LQ, Tuan TM (2011). Thoracoscopic repair for 
congenital diaphragmatic hernia: experience with 139 cases. J 
Laparoendosc Adv Surg Tech A, 21(3):267-270. 
16. Bliss D, Matar M, Krishnswami S (2009). Should Intraoperative 
Hypercapnea or Hypercarbia Raise Concern in Neonates 
Undergoing Thoracoscopic Repair of Diaphragmatic Hernia of 
Bochdalek? J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 19(1):55-58. 
17. Fishman JR, Blackburn SC, Jones NJ (2011). Does thoracoscopic 
congenital diaphragmatic hernia repair cause a significant 
intraoperative acidosis when compared to an open abdominal 
approach? J Pediatr Surg, 46(3):458-461. 
18. Okazaki T, Okawada M, Koga H (2015). Safety of surgery for 
neonatal congenital diaphragmatic hernia as reflected by arterial 
blood gas monitoring: thoracoscopic versus open repair. Pediatr 
Surg Int, 31(10):899-904. 
19. Qin J, Ren Y, Ma D (2019). A comparative study of 
thoracoscopic and open surgery of congenital diaphragmatic 
hernia in neonates. J Cardiothorac Surg, 14(1):118. 
20. Vijfhuize S, Deden AC, Costerus SA, et al (2012). Minimal access 
surgery for repair of congenital diaphragmatic hernia: is it 
advantageous? An open review. Eur J Pediatr Surg, 22(5):364-
373. 
Ngày nhận bài báo: 06/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_noi_soi_dieu_tri_thoat_vi_hoanh.pdf