Đánh giá kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2011-2015

Kén phế quản là một dị tật bẩm sinh

của phổi cần chẩn đoán và phẫu thuật sớm. 44 trường

hợp (19 nam, 25 nữ) sau phẫu thuật có kết quả mô

bệnh học là kén phế quản, độ tuổi trung bình 41,8

tuổi. Triệu chứng chủ yếu ho, ho máu, đau ngực, khó

thở, sốt. Hình ảnh trên XQ ngực thường quy và CT

Scanner ngực dạng tổn thương chủ yếu: kén khí, kén

có mức dịch khí, khối mờ đều, khối mờ trong kén khí.

Kén phế quản trong phổi tổn thương bên phải chiếm

ưu thế, trong khi đó kén phế quản trung thất phát triển

bên trái chiếm ưu thế. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật,

với kén phế quản trung thất cắt kén, kén phế quản

trong phổi chủ yếu cắt thùy phổi. Biến chứng trong,

sớm ngày đầu sau mổ ít, trong khi đó biến chứng sau

mổ muộn hơn nhẹ và xử lý đơn giản chủ yếu ổ dịch

khí khu trú. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình

16,39 ngày. 100% bệnh nhân ổn định ra viện với hình

ảnh XQ trong 41 trường hợp phổi nở sát thành ngực,

3 trường hợp có dày dính màng phổi.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2011-2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2011-2015

Đánh giá kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2011-2015
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 10 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN 
TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƢƠNG GIAI ĐOẠN 2011- 2015 
Khiếu Mạnh Cường*, Đinh Văn Lượng*, Nguyễn Lê Vinh* 
 Ngô Thị Thúy Quỳnh*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT: Kén phế quản là một dị tật bẩm sinh 
của phổi cần chẩn đoán và phẫu thuật sớm. 44 trường 
hợp (19 nam, 25 nữ) sau phẫu thuật có kết quả mô 
bệnh học là kén phế quản, độ tuổi trung bình 41,8 
tuổi. Triệu chứng chủ yếu ho, ho máu, đau ngực, khó 
thở, sốt. Hình ảnh trên XQ ngực thường quy và CT 
Scanner ngực dạng tổn thương chủ yếu: kén khí, kén 
có mức dịch khí, khối mờ đều, khối mờ trong kén khí. 
Kén phế quản trong phổi tổn thương bên phải chiếm 
ưu thế, trong khi đó kén phế quản trung thất phát triển 
bên trái chiếm ưu thế. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật, 
với kén phế quản trung thất cắt kén, kén phế quản 
trong phổi chủ yếu cắt thùy phổi. Biến chứng trong, 
sớm ngày đầu sau mổ ít, trong khi đó biến chứng sau 
mổ muộn hơn nhẹ và xử lý đơn giản chủ yếu ổ dịch 
khí khu trú. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 
16,39 ngày. 100% bệnh nhân ổn định ra viện với hình 
ảnh XQ trong 41 trường hợp phổi nở sát thành ngực, 
3 trường hợp có dày dính màng phổi. 
SUMMARY: Bronchogenic cysts, which is a 
congentinal pulmonary malformation needs to be 
diagnosed and treaded early. 44 cases were treated 
at our hospital were confirmed with histologic 
examination. There was 19 males and 25 females. 
Mean age was 41,86. Symptoms comment were 
cough, fever, pain and dyspnea, hemoptysis. Images 
in Xray and CT-scanner were emphycematous, 
Hemogenous shadow, air-fluid level, Hemogenous 
shadow in cyst. Pulmonary bronchogenic cyst was 
predominant in the right side, other wise mediastinal 
bronchogenic cyst was seen more frequent in the left 
side. . Surgical procedure was done treatment 
bronchogenic cysts: lobectomy with bronchogenic 
cyst and Surgical excision with the cyst mediastinal 
was approached. Postoperatve complications are 
comment air or fluid in plueral cavity. The mean 
postoperative hospital stay 16,39 days. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sự phát triển bất thƣờng của mầm phổi trong thời 
kỳ bào thai xảy ra từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 6 của 
thai kỳ tạo nên một số dị tật bẩm sinh của phế quản và 
phổi nhƣ: Kén phế quản, dị dạng nang tuyến bẩm 
sinh, khí phế thũng, phổi biệt lậpKén phế quản là 
một trong những dị tật bảm sinh hiếm gặp của phổi, có 
thể đƣợc chẩn đoán trƣớc sinh, ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ 
nhỏ bởi vì các triệu chứng chèn ép cơ quan lân cận. Ở 
ngƣời lớn thƣờng đƣợc chẩn đoán khi chụp phim X-
Quang phổi kiểm tra sức khỏe hoặc có biến chứng: 
Viêm nhiễm, đau ngực, khó thở, vỡ kén, ho máu.. 
Triệu chứng lâm sàng của kén phế quản không đặc 
hiệu, chẩn đoán kén phế quản chủ yếu dựa vào hình 
ảnh: XQ phổi thƣờng quy, CLVT. Điều trị triệt để 
duy nhất bằng phẫu thuật: cắt bỏ kén hoặc cắt thùy 
phổi hay phần thùy phổi chứa kén phế quản. 
Chúng tôi tổng kết các trƣờng hợp kén phế quản 
đƣợc phẫu thuật tại bệnh viện Phổi trung ƣơng giai 
đoạn 2011- 2015 nhằm nhận xét đặc điểm bệnh lý và 
kết quả sớm sau phẫu thuật điều trị dị tật này. 
* 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU 
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân sau 
điều trị phẫu thuật có kết quả mô bệnh là kén phế 
quản tại Bệnh viện Phổi Trung ƣơng. 
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 
- Có chẩn đoán giải phẫu bệnh là kén phế quản. 
- Có đầy đủ bệnh án phim X-Quang và CLVT 
lồng ngực. 
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 
- Không có kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật. 
- Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán kén phế quản nhƣng 
không đƣợc phẫu thuật. 
- Phim chụp XQ và CLVT không đủ để phân tích 
tổn thƣơng. 
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
hồi cứu. Xử lý số liệu bằng phần 
mềm Stata 10.0. Các thuật toán đƣợc sử dụng là tính 
tỷ lệ %, tính trung bình, độ lệch (X±SD), các thuật 
toán kiểm định. 
* Bệnh viện Phổi trung ương 
** Bệnh viện Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƢƠNG 
 11 
III. KẾT QUẢ 
3.1. Phân bố tuổi, giới 
Tuổi trung bình 41,8 ±11,97, thấp nhất 15 tuổi, cao nhất 65 tuổi. 
Tỷ lệ giới tính nam 19 (43,18% ), nữ 25 (56,82%) 
3.2.Tiền sử bệnh hô hấp và lý do đi viện. Bảng 3. 1 
Tiền sử chẩn đoán điều trị bệnh hô hấp 
Không 
TS 
Lao 
Viêm 
Phế quản 
Kén khí Ap xe phổi U phổi 
Giãn phế 
quản 
TDMP OCMP 
n 18 10 3 3 4 1 2 2 1 
% 40.91 22,73 6.82 6.82 9.09 2.27 4.55 4.55 2.27 
Lý do khám bệnh 
Ho máu Đau ngực Ho khan Khó thở 
Ho 
đờm 
Sốt 
Đau 
khớp 
Tình cờ 
n 16 12 7 5 4 4 1 1 
% 32 24 14 10 8 8 2 2 
3.3.Triệu chứng lâm sang chủ yếu. Bảng 3. 2 
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu 
 Đau ngực Khó thở Ho khan Ho máu Đờm mủ Sốt 
Trong phổi 
n 21 7 7 16 11 11 
% 19.44 6.48 6.48 14.81 10.19 10.19 
Trung thất 
n 7 7 3 0 3 1 
% 6.48 6.48 2.78 0 2.78 0.93 
Phổi - Trung thất 
n 1 2 2 1 0 0 
% 0.93 1.85 1.85 0.93 0 0 
n chung 29 16 12 17 14 12 
% chung 26.85 14.81 11.11 15.74 12.96 11.11 
3.4.Hình ảnh X quang thƣờng quy phôi: hình ảnh kén. Bảng 3.3 
 Hình ảnh kén Số lƣợng kén thƣờng quy 
Kén 
khí 
Dịch 
khí 
Khối 
mờ đều 
Mờ không 
đều 
Mờ trong 
kén 
Không 
rõ 
Đơn 
kén 
Đa 
kén 
Không 
rõ 
Trong phổi n 12 6 6 3 3 0 19 9 2 
% 27.27 13.64 13.64 6.82 6.82 0 43.18 20,46 4,55 
Trung thất n 1 1 8 0 0 1 10 0 1 
% 2,27 2,27 18,18 0 0 2,27 22.73 0 2,27 
Phổi -
Trung thất 
n 0 0 2 1 0 0 1 2 0 
% 0 0 4,55 2,27 0 0 2,27 4,55 0 
chung n 30 11 3 
% 68.18 25 6,82 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 12 
3.4. Hình ảnh cắt lớp vi tính: vị trí - hình ảnh kén. 
Bảng 3.4 
Hình ảnh kén 
Kén khí Dịch khí Khối mờ đều Mờ không đều Khối mờ trong kén 
Trong phổi 
n 8 9 4 1 8 
% 18,18 20,45 9,09 2,27 18,18 
Trung thất 
n 1 1 9 0 0 
% 2,27 2,27 20,45 0 0 
Phổi-Trung thất 
n 0 0 3 0 0 
% 0 0 6,82 0 0 
Chung 
n 9 10 16 1 8 
% 20,45 22,73 36,36 2,77 18,18 
3.5.Điều trị: 
Bảng 3.5. Kỹ thuật mổ và tình trạng viêm dính và biến chứng so với vị trí kén. 
Mổ 
mở 
Nội 
soi 
VAT
S 
Phổi Viêm 
dính 
Phổi không 
viêm dính 
Cắt 
kén 
Cắt 
thùy 
Cắt kén 
và thùy 
Trong phổi 
n 30 0 0 26 4 2 28 0 
% 68,18 0 0 59,09 9,09 4,55 63,64 0 
Trung thất 
n 7 1 3 7 4 10 0 1 
% 15,91 2,27 6.82 15,.91 9,09 22,73 0 2,27 
Phổi-Trung thất 
n 2 1 0 2 1 1 0 2 
% 4,55 2,27 0 4,55 2,.27 2,27 0 4,55 
Chung 
n 39 2 3 35 9 13 28 3 
% 88,64 4.55 6.82 79,.55 20,45 29,55 63,64 6,82 
Thời gian mổ trung bình: 167,6 ± 56,36 phút min: 45 phút, max: 300 phút 
Bảng 3.6. Biến chứng trong và sau phẫu thuật. 
Biến chứng trong mổ: 2 (4,55 %) trƣờng hợp chảy máu, 42 (95,45 %) trƣờng hợp không biến chứng. 
Biến chứng sau mổ 
Chảy máu Viêm phổi 
Viêm 
màng phỏi 
Dịch/ 
khí kéo dài 
Nhiễm trùng 
vết mổ 
Trong phoi 
n 1 2 2 8 1 
% 
Trung thất 
n 0 0 0 2 1 
% 
Phổi trung thất 
n 0 0 0 0 
% 
Thời gian nằm sau phẫu thuật trung bình: 16,39 ± 14,03 ngày, min: 6 max: 85 
-Tình trạng ra viện 100% trong tình trạng lâm sàng ổn định, 41 trƣờng hợp trên phim xquang phổi nở sát 
thành ngực, 3 trƣờng hợp có hình ảnh dày dính màng phổi. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƢƠNG 
 13 
Bảng 3.7. Đối chiếu kết quả mô bệnh với vị trí kén phế quản 
 Giải phẫu bệnh Bên ngực tổn thƣơng 
 Kén đơn 
thuần 
Kén bội 
nhiêm nấm 
Kén bội 
nhiễm 
Ngực phai Ngực trái Giữa 
Trung thất 
Trong phổi n 5 11 14 19 11 0 
% 11,36 25 31,.82 43,18 25,00 0 
Trung thất n 11 0 0 3 7 1 
% 25 0 0 6,82 15,91 2,27 
Phổi-Trung 
thất 
n 1 0 2 2 1 0 
% 2,27 0 4,55 4,55 2,27 0 
Chung n 17 11 16 24 19 1 
% 38,64 25,00 36,36 54,56 43,18 2,27 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Tuổi giới 
- Tuổi: trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi trung 
bình 41,86 tuổi, tƣơng tự nhƣ tác giả: Vũ Chí Thành 
[1] tuổi trung bình 40 tuổi, Faten Limaïem[2] trung 
bình 41 tuổi. 
- Về giới tính: một số nghiên cứu cho rằng tỷ lện 
nam cao hơn nữ, một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng nữ 
cao hơn nam. Vũ Chí Thành [1] nam/ nữ: 1,2/1; 
McAdams HP nam/nữ 1,3/1. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi tỷ lệ nam/ nữ: 1/1,3 nhƣ vậy sự mắc bệnh 
của nam và nữ là không có sự khác biệt với p > 0,05. 
4.2. Tiền sử bệnh, lý do khám bệnh và triệu 
chứng. [Bảng 3.1 và Bảng 3.2] 
- Tiền sử bệnh: 59,09 % trƣờng hợp trong nghiên 
cứu đƣợc chẩn đoán nhầm sang các bệnh trƣớc khi 
điều trị thực thụ. Có lẽ bệnh lý này không đƣợc chú ý 
đến khi khám sức khỏe ban đầu. Bệnh chẩn đoán 
nhiều nhất đó là bệnh Lao, kế đến ap xe phổi, viêm 
phế quản và kén khí. Hiện tại chƣa có nghiên cứu nào 
nói đến tiền sử chẩn đoán và điều trị các bệnh hô hấp 
trƣớc đó. 
- Lý do khám bệnh: Triệu chứng khiến bệnh nhân 
khó chịu phải đi viện chủ yếu ho máu và đau ngực, ho 
máu chủ yếu tổn thƣơng trong phổi, kế đến đau ngực, 
ho khan/ đờm và sốt. Trong khí đó tổn thƣơng ở trung 
thất chủ yếu đau ngực, ho khan và khó thở. So với 
một số nghiên cứu trong nƣớc và thế giới tỷ lệ ho máu 
trong nghiên cứu là 32,65 % cao hơn hẳn so với 
nghiên cứu của Vũ Chí Thành (2003) [1] ho ra máu 
(21,2%), đau ngực (42,4%) trong khi đau ngực trong 
nghiên cứu chỉ có 24,49% 
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là các triệu chứng 
chung của bệnh cảnh hô hấp: Ho, ho máu, đau ngực, 
khó thở, sốt. Điều đó nói nên việc chẩn đoán và điều 
trị nhầm là dễ hiểu. Các triệu chứng tƣơng tự trong kết 
quả nghiên cứu Vũ Chí Thành (2003) [1] nghiên cứu 
33 bệnh nhân kén phế quản nhận xét triệu chứng chủ 
yếu là đau ngực chiếm, sốt, ho khan, ho ra máu, khó 
thở. Theo Faten Limaïem [2] nghiên cứu kén phế 
quản trung thất 94% trƣờng hợp có triệu chứng thì có 
đến 48,5 % là đau ngực. 
- Chỉ có một trƣờng hợp tình cờ phát hiện, không 
có triệu chứng khi khám sức khỏe định kỳ, so với một 
số tác giả khác là rất thấp: Sarper và cộng sự 18%[3]. 
Điều đó càng nói lên việc phát hiện và điều trị muôn 
khi đã có biến chứng. 
4.3. Chẩn đoán hình ảnh. [Bảng 3.3, Bảng 3.4] 
- Bên tổn thƣơng: nhìn các con số có vẻ ngực phải 
chiếm ƣu thế. Sử dụng thuật toán so sánh tỷ lệ thì tổn 
thƣơng bên ngực phải và trái là khồng có sự khác biệt 
có y nghĩa thống kê với p = 0.445. Vũ Chí Thành 
2003 [1] gặp bện phải cao hơn bênh trái gấp 2 lần. 
Philippe Cuypers tỷ lệ phải/ trái: 1,7/1. Trong khi đó 
kén phế quản trong phổi tỷ lệ gặp bên phải cao hơn 
bên trái, còn kén ở trung thất thì ngƣợc lại tỷ lệ bên 
trái cao hơn. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 14 
- Vị trí kén phế quản gặp chủ yếu trong phổi hơn 
là trung thất, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 
0,05, tƣơng tự một số nghiên cứu khác tỷ lệ kén phế 
quản trung thất ít gặp hơn so ở phổi: Vũ Chí Thành 
2003 [1] 100% kén phế quản phổi, có lẽ các kén phế 
quản trung thất chƣa đƣợc quan tâm tới. 
- Hình ảnh kén trên phim x quang thƣờng quy: 
Chủ yếu là dạng khối mờ đồng nhất, kế đến là dạng 
kén khí, kén mức dịch khí, khối mờ trong kén điều 
đó việc chẩn đoán ban đầu dễ nhầm sang bệnh lý khác 
khi kết hợp với các triệu chứng lâm sàng nhƣ lao phổi, 
u phổi, u trung thất, ap xe phổi.. làm cho việc điều trị 
thực bị bị chậm trễ. Sunit R. Patel [4] nghiên cứu 18 
trƣờng hợp kén phế quản thấy 17 trƣờng hợp có bất 
thƣờng trên phim chụp x quang ngực thƣờng quy 
nhƣng không đƣợc chẩn đoán. Theo Faten Limaïem 
[2] trong 27 trƣờng hợp trên phim chụp xquang 
thƣờng quy thấy 18 trƣờng hợp mờ đồng nhất, 7 
trƣờng hợp mức dịch khí, 2 trƣờng hợp xẹp phổi. 
- Hình ảnh trên phim CLVT lồng ngực: cho hình 
ảnh kén phế quản rõ ràng hơn so với phim X-Quang 
thƣờng quy, đặc biệt các kén nằm ở đƣờng giữa mà 
trên xquang thƣờng không nhìn thấy đƣợc. Các khối 
mờ đồng nhất đƣợc đo tỷ trọng giúp cho việc chẩn 
đoán phân biệt giữa khối u đặc và nang dịch, thậm 
chí dạng tổn thƣơng kén khí, dịch khí, khối mờ 
trong kén cũng rõ ràng hơn. Nhƣng việc chẩn đoán 
xác định các dạng tổn thƣơng kén khí, dịch khí, khối 
mờ trong kén vẫn dễ nhầm với các bệnh cảnh khác 
nhƣ lao, apxe, u nấm trong hang lao khi mà tổ 
chức phổi xung quanh bị viêm nhiễm lâu ngày làm 
thay đổi hình dáng ban đầu của kén phế quản. 
McAdams năm 2000 [5] nghiên cứu hình ảnh kén 
phế quản trung thất trên phim CLVT lồng ngực 58 
trƣờng hợp kén phế quản trung thất thấy 25 trƣờng 
hợp nang dich, 25 trƣờng hợp mô mềm, 2 trƣờng hợp 
kén khí, 2 trƣờng hợp kén dịch – khí, 2 trƣờng hợp 
can xi hóa. ..không có mô tả hình ảnh khối mờ trong 
kén, có lẽ do điều kiện môi trƣờng mà biến chứng 
nhiêm nấm gặp nhiều ở nƣớc ta. 
4.4. Điều trị. [Bảng 3.5, bảng 3.6] 
- Tại bệnh viện chúng tôi trong 5 năm 2011-2015 
điều trị phẫu thuật chủ yếu là mổ mở, mặc dù phẫu 
thuật nội soi đƣợc thực hiện từ lâu xong áp dụng cho 
điều trị cho phẫu thuật kén phế quản còn hạn chế chỉ 
có 2 trƣờng hợp đƣợc phẫu thuật bằng nội soi, 3 
trƣờng hợp mổ mở có nội soi hỗ trợ, còn lại là mổ mở 
39 trƣờng hợp. 
- Khảo sát trong quá trình phẫu thuật tính trạng 
viêm dính của phổi kể cả kén trung thất có tỷ lệ cao 
79,55% trƣờng hợp, trong khi đó không viêm dính có 
20,45% trƣờng hợp có lẽ là do không đƣợc phát hiện 
và điều trị sớm khi chƣa có biến chứng. Hiện tại chƣa 
có một nghiên cứu nào mô tả ảnh hƣởng của biến 
chứng viêm nhiêm của kén phế quản này. 
- Các kén phế quản nằm trong phổi phẫu thuật 
chủ yếu cắt thùy phổi chứa kén 28/30, có số ít 2/30 
trƣờng hợp cắt kén bảo tồn phổi. Kén phế quản 
trung thất 100% cắt kén nhƣng có 1 trƣờng hợp phải 
cắt thùy phổi phối hợp di tình trạng viêm của phổi 
kèm theo. 3 trƣờng hợp có kén cả phổi và trung thất 
thì có 1 trƣờng hợp cắt nguyên kén, 2 trƣờng hợp 
cắt kén ở trung thất và cắt thùy chứa kén. Cách thức 
phẫu thuật là phù hợp với tình trạng tổn thƣơng và 
tình trạng viêm dính kèm theo của phổi. Theo Vũ 
Chí Thành 2003[1] 100% cắt thùy phổi do các kén 
nằm trong thùy. 
- Theo nghiên cứu của Faten Limaïem 32 trƣờng 
hợp mổ mở 1 trƣờng hợp mổ nội soi lồng ngực. 31 
trƣờng hợp cắt kén 1 trƣờng hợp cắt kén từng phần. 
Theo Philippe Cuypers [6], nghiên cứu 20 trƣờng hợp 
thì 19 trƣờng hợp mổ mở cắt kén, 1 trƣờng hợp kén 
phế quản trung thất đƣợc mổ nội soi. Theo Sunit R. 
Patel [4] 22 trƣờng hợp kén phế quản đều mổ mở, 6 
trƣờng hợp trong thùy thì 3 trƣờng hợp cắt thùy không 
điển hình, 3 trƣờng hợp cắt thùy, còn lại kén phế quản 
trung thất đều cắt kén. Một số tác giả nghiên cứu phẫu 
thuật nội soi điều trị kén phế quản nhƣ: De 
Giacomo,[7] nghiên cứu 30 trƣờng hợp mổ có nội soi 
hỗ trợ thì có 28 trƣờng hợp thành công cho thấy đƣợc 
một số ƣu điểm của mổ nội soi, chỉ có 2 trƣờng hợp 
phải chuyển mổ mở. Theo Régent St-Georges [8] 66 
trƣờng hợp kén phế quản trung thất đƣợc cắt kén trong 
khi 20 trƣờng hợp kén phế quản trong phổi thì 13 
trƣờng hợp cắt thùy, 6 trƣờng hợp cắt tối thiểu, 1 
trƣờng hợp phải cắt phổi. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƢƠNG 
 15 
- Thời gian phẫu thuật thƣờng kéo dài do tình 
trạng viêm dính của phổi với thành ngực, trung thất, 
cơ hoành đƣợc mô tả khi phẫu thuật, nhƣ vậy việc 
phát hiện và điều trị phẫu thuật sớm sẽ giúp cho phẫu 
thuật thuận tiện và an toàn hơn cho ngƣời bệnh. 
- Thời gian nằm viện trung bình cao hơn hẳn so 
với báo cáo của tác giả Philippe Cuypers [6] thời gian 
nằm viện trung bình 14,6 ngày, Vũ Chí Thành [1] 
13,2 ngày sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê 
p > 0,05. 
- Biến chứng trong mổ tỷ lệ thấp và kiểm soát 
đƣợc chủ yếu là chảy máu do viêm dính nhiều mạch 
tân tạo giữa phổi và thành ngực, một trƣờng hợp phổi 
viêm dính chắc vào động mạch dƣới đòn đƣợc xử lý 
kịp thời tránh đƣợc hậu quả đáng tiếc. 
- Biến chứng sớm sau mổ (chảy máu, viêm phổi 
sau mổ), không gặp tử vong sau mổ. Các biến chứng 
muộn khác thƣờng gặp sau rút dẫn lƣu màng phổi, 
không liên quan tới số lƣợng dẫn lƣu sau mổ, chủ yếu 
ổ dịch khí khu trú 9 trƣờng hợp. So với các tác giả 
khác các biến chứng trong nghiên cứu của chúng tôi 
nhiều hơn hẳn do tình trạng viêm dính , tổn thƣơng 
phổi phối hợp: Theo Sunit R. Patel [4] chỉ 1 trƣờng 
hợp rò khí sau mổ. Maria Di Lorenzo [9] nghiên cứu 
26 trƣờng hợp ở nhi khoa sau phẫu thuật chỉ có 1 
trƣờng hợp viêm phổi, một trƣờng hợp liệt hoành nhẹ 
ít ngày sau mổ. Theo Vũ Chí Thành [1] biến chứng 
sau mổ nhẹ và ít: sớm 1 trƣờng hợp chảy máu sau mổ, 
1 trƣờng hợp viêm phổi, biến chứng muộn có 3 trƣờng 
hợp nhiễm trùng vết mổ. 
- Khi ra viện 100% ngƣời bệnh trong có lâm sang 
ổn định, x quang ngực phổi nở tốt, một số ít trƣờng 
hợp có viêm dày màng phổi nhẹ. 100% các trƣờng 
hợp sau 1-2 tháng khám lại không có biểu hiện biến 
chứng sau phẫu thuật. 
4.5. Kết quả giải phẫu bệnh. [Bảng 3.7] 
- Giải phẫu bệnh các kén phế quản trung thất đều 
không có tình trạng bội nhiễm và nấm phát triển. 
Trong khi đó kén phế quản bội nhiễm và u nấm đều 
gặp kén ở phổi. Trong 3 trƣờng hợp kén cả ở phổi và 
trung thất thì có đến 2 trƣờng hợp kén bị bội nhiễm. 
Điều đó càng nói lên sự cần thiết chẩn đoán sớm và 
can thiệp kịp thời khi chƣa có biến chứng nhất là với 
thể trong phổi. So với nghiên cứu của Vũ Chí Thành 
[1] chỉ có 1/33 trƣờng hợp nhiễm nấm Aspergillus. 
Kén phế quản đơn thuần và bội nhiễm thì tƣơng tự 
nhƣ kết quả của chúng tôi. 
V. KẾT LUẬN 
Kén phế quản là bệnh lý bẩm sinh, chẩn đoán dựa 
XQ và CLVT lồng ngực. Điều trị triệt để bằng phẫu 
thuật an toàn, biến chứng ít, nhẹ và tử vong thấp, 
nhƣng cần chẩn đoán và mổ sớm để giảm bớt khó 
khăn trong mổ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Vũ Chí Thành (2003), Nghiên cứu đặc điểm lâm 
sàng Xquang của bệnh nhân kén phế quản, Đại 
học y Hà nội, Hà Nội. 
2. Limaïem, Faten, Ayadi-Kaddour, Aïda, Djilani, 
Habiba, et al. (2008), "Pulmonary and mediastinal 
bronchogenic cysts: a clinicopathologic study of 33 
cases", Lung. 186(1), pp. 55-61. 
3. Sarper, Alpay, Ayten, Arife, Golbasi, Ilhan, et al. 
(2003), "Bronchogenic cyst", Texas Heart 
Institute Journal. 30(2), pp. 105-108. 
4. Patel, Sunit R, Meeker, David P, Biscotti, Charles 
V, et al. (1994), "Presentation and management 
of bronchogenic cysts in the adult", CHEST 
Journal. 106(1), pp. 79-85. 
5. McAdams, H. P., Kirejczyk, W. M., Rosado-de-
Christenson, M. L., et al. (2000), "Bronchogenic cyst: 
imaging features with clinical and histopathologic 
correlation", Radiology. 217(2), pp. 441-6. 
6. Cuypers, Philippe, De Leyn, Paul, Cappelle, 
Lieve, et al. (1996), "Bronchogenic cysts: a 
review of 20 cases", European journal of cardio-
thoracic surgery. 10(6), pp. 393-396. 
7. De Giacomo, Tiziano, Diso, Daniele, Anile, 
Marco, et al. (2009), "Thoracoscopic resection of 
mediastinal bronchogenic cysts in adults", 
European Journal of Cardio-Thoracic Surgery. 
36(2), pp. 357-359. 
8. St-Georges, Régent, Deslauriers, Jean, 
Duranceau, André, et al. (1991), "Clinical 
spectrum of bronchogenic cysts of the 
mediastinum and lung in the adult", The Annals 
of Thoracic Surgery. 52(1), pp. 6-13. 
9. Di Lorenzo, Maria, Collin, Pierre-Paul, 
Vaillancourt, Rosaire, et al. (1989), 
"Bronchogenic cysts", Journal of pediatric 
surgery. 24(10), pp. 988-991. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_ken_phe_quan_tai_benh_vien_phoi.pdf