Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tử cung toàn phần đường âm đạo và nội soi ở bệnh lý tử cung không sa

mục tiêu: đánh giá kết quả phẫu thuật cắt

tử cung toàn phần qua đường âm đạo và nội

soi ở bệnh lý tử cung không sa.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có so sánh gồm

60 phụ nữ có chỉ định cắt TCTP qua đường AĐ

hay NS ổ phúc mạc ở bệnh lý TC không sa tại

Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng

5 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012.

pdf 12 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tử cung toàn phần đường âm đạo và nội soi ở bệnh lý tử cung không sa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tử cung toàn phần đường âm đạo và nội soi ở bệnh lý tử cung không sa

Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tử cung toàn phần đường âm đạo và nội soi ở bệnh lý tử cung không sa
Lê Thị hòa, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
32
Lê Thị hòa*, Trương Quang Vinh**
(*) Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, (**) Bộ môn Phụ Sản Trường Đại học Y Dược Huế
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
CẮT TỬ CUNG TOÀN PHẦN ĐƯỜNG ÂM ĐẠO 
VÀ NỘI SOI Ở BỆNH LÝ TỬ CUNG KHÔNG SA
mục tiêu: đánh giá kết quả phẫu thuật cắt 
tử cung toàn phần qua đường âm đạo và nội 
soi ở bệnh lý tử cung không sa. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có so sánh gồm 
60 phụ nữ có chỉ định cắt TCTP qua đường AĐ 
hay NS ổ phúc mạc ở bệnh lý TC không sa tại 
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 
5 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012. 
Kết quả: Thời gian PT trung bình của nhóm 
đường AĐ ngắn hơn so với mổ nôi soi (77,3 ± 
27,1 phút so với 96,3 ± 23,5 phút, p<0,05). Có 
sự tương quan hồi quy tuyến tính giữa thể tích 
TC với thời gian PT đường AĐ (r² = 0,307, p = 
0,0008, phương trình hồi quy tuyến tính y = 
0,1021 x + 41,5543) và đường NS (r² = 0,2484, 
p < 0,0001, phương trình hồi quy tuyến tính y 
= 0,07881 x + 68,4583). Có sự tương quan hồi 
quy tuyến tính giữa trọng lượng TC với thời 
gian PT đường AĐ (r² = 0,3084, p = 0,0012, 
phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,1717 x + 
40,5514) và đường NS (r² = 0,2597, p < 0,0001, 
phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,1481 x 
+ 64,8938). Mức độ đau sau PT tính theo thang 
điểm VAS ngày 1 đường AĐ cao hơn đường NS 
có ý nghĩa thống kê (6,4 ± 0,8 cm so với 5,9 ± 
0,8 cm, p < 0,05). Số ngày điều trị trung bình 
sau PT đường AĐ cao hơn đường NS nhưng 
không có ý nghĩa thống kê: đường AĐ là 5,4 
± 3,4 ngày, đường NS là 4,8 ± 1,3 ngày, p > 
0,05. Tỷ lệ thành công chung của PT là 98,3%. 
Không có tai biến nào xảy ra trong PT. Chi phí 
trung bình cho mỗi trường hợp PT tính theo 
viện phí hay bảo hiểm của đường AĐ đều thấp 
hơn so với NS có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
Kết luận: Thời gian phẫu thuật trung bình 
cắt tử cung toàn phần đường âm đạo ngắn 
đường nội soi. Có sự tương quan hồi quy tuyến 
tính giữa thể tích và trọng lượng tử cung với 
thời gian phẫu thuật ở 2 nhóm trong nghiên 
cứu. Mức độ đau trung bình sau phẫu thuật 
cắt tử cung toàn phần ngày thứ nhất tính theo 
VAS ở nhóm đường âm đạo cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với đường nội soi. Không có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian hậu 
phẫu trung bình cắt tử cung toàn phần đường 
âm đạo và đường nội soi. Chi phí phẫu thuật 
trung bình của cắt tử cung toàn phần đường 
âm đạo thấp hơn đường nội soi.
EVaLuation oF REsuLts oF VaginaL HystEREctomy 
and LapaRoscopic HystEREctomy in non-pRoLapsE 
utERus disEasEs
objectives: To evaluate results of vaginal 
hysterectomy and laparoscopic hysterectomy 
in non-prolapse uterus diseases. 
Methods: a cross-sectional study including 
60 patients with non-prolapse uterus diseases 
indicated vaginal hysterectomy or laparoscopic 
hysterctomy from 5/2011 to 6/2012 at Hue 
University Hospital. 
results: the mean time of operation in 
vagial hysterectomies was shorter than in 
laparoscopic hysterectomies (77,3 ± 27,1 
minutes versus 96,3 ± 23,5 minutes, p<0,05). 
There were positive correlation between 
uterine volume and the operation time of 
vaginal hysterectomis (r² = 0,307, p = 0,0008, 
y = 0,1021 x + 41,5543) as well as laparoscopic 
hysterectomies (r² = 0,2484, p < 0,0001, y = 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
33
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 32-43, 2013
0,07881 x + 68,4583). There were positive 
correlation between uterine weight and the 
operation time of vaginal hysterectomis (r² = 
0,3084, p = 0,0012, y = 0,1717 x + 40,5514) 
as well as laparoscopic hysterectomies 
(r² = 0,2597, p < 0,0001, y = 0,1481 x + 
64,8938). The postoperative pain level in 
the first day after vaginal hysterectomy 
was significantly higher than that after 
laparoscopic hysterectomy. There were no 
significant difference about the treatment 
duration between vaginal hysterectomy 
and laparoscopic hysterectomy (5,4 ± 3,4 
days versus 4,8 ± 1,3 ngày, p > 0,05). The 
overall success rate was 98.3%. There were 
no complications. The cost of treatment of 
vaginal hysterectomy was lower than that of 
laparoscopic hysterectomy. 
conclusion: the mean time of operation 
in vagial hysterectomies was shorter 
than in laparoscopic hysterectomies. 
There were positive correlation between 
uterine volume and uterine weight with 
and the operation time in the both of two 
groups. The postoperative pain level in 
the first day after vaginal hysterectomy 
was significantly higher than that after 
laparoscopic hysterectomy. There were no 
significant difference about the treatment 
duration between vaginal hysterectomy and 
laparoscopic hysterectomy.
i. ĐẶt vấn Đề
Cắt tử cung là một phẫu thuật cơ bản trong 
phẫu thuật phụ khoa[1]. Nó được chỉ định 
trong nhiều bệnh lý phụ khoa khác nhau ở 
nhiều lứa tuổi và tình huống khác nhau nhưng 
chủ yếu là các bệnh lành tính của tử cung có 
biến chứng ở tuổi hoạt động sinh dục mà việc 
điều trị nội không kết quả và các bệnh lý nguy 
cơ hoặc ác tính hay gặp ở phụ nữ tiền mãn 
kinh hay mãn kinh. Chỉ định cắt tử cung là một 
quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố như tuổi, 
số con, tình trạng hôn nhân, nhu cầu về tâm 
sinh lý chứ không chỉ riêng yếu tố bệnh lý. 
Ngoài ra, cắt tử cung cũng có nhiều phương 
pháp khác nhau như: Cắt tử cung bán phần, 
cắt tử cung toàn phần có kèm hay không cắt 
một hoặc hai phần phụ, cắt tử cung triệt để 
bao gồm cắt tử cung toàn phần kèm cắt hai 
phần phụ và vòm âm đạo...
Ngày nay, với sự tiến bộ mạnh mẽ về 
trang thiết bị, kỹ thuật vô trùng, gây mê 
và sự ra đời của nhiều loại kháng sinh chất 
lượng cao cùng với những cải tiến trong kỹ 
thuật cắt tử cung đã tạo nên những thành 
công đáng ghi nhận trong lịch sử cắt tử cung 
ở cả ba phương pháp: Cắt tử cung đường 
bụng, đường âm đạo và nội soi. Trên thế 
giới hiện nay, cắt tử cung đường âm đạo vẫn 
duy trì ở nhiều nước nhưng nhiều nơi chủ 
yếu để điều trị sa sinh dục. Sự giới hạn của 
cắt tử cung đường âm đạo là cần phải có 
các điều kiện như âm đạo rộng rãi, tử cung 
không dính hay quá to, phẫu thuật viên phải 
có kinh nghiệmCắt tử cung đường bụng 
đang có xu thế nhường chỗ dần cho nội soi 
bởi những ưu điểm vượt trội của nội soi về 
tính an toàn, thẩm mỹ và hồi phục nhanh sau 
phẫu thuật[2]. Tùy điều kiện cụ thể về cơ sở 
vật chất, trang thiết bị, trình độ gây mê và 
mức độ thuần thục các đường phẫu thuật 
của phẫu thuật viên ở từng nơi mà tỷ lệ phẫu 
thuật cắt tử cung đường bụng, âm đạo hay 
nội soi chiếm ưu thế. Có rất nhiều nghiên cứu 
trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò 
thẩm mỹ, an toàn và khả năng hồi phục sau 
phẫu thuật của cắt tử cung qua đường âm 
đạo và đường nội soi. Hiện nay, thành phố 
Hồ Chí Minh đã phát triển mạnh kỹ thuật cắt 
tử cung qua đường âm đạo và nội soi và Huế 
cũng vậy, nhưng chưa có nghiên cứu nào 
đánh giá hai kỹ thuật này. Vì vậy, đề tài này 
được tiến hành nhằm đánh giá kết quả phẫu 
thuật cắt tử cung toàn phần qua đường âm 
đạo và nội soi ở bệnh lý tử cung không sa.
Lê Thị hòa, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
34
ii. ĐỐi tƯỢng và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
Đối tương nghiên cứu: 60 phụ nữ có chỉ 
định cắt TCTP qua đường AĐ hay NS ổ phúc 
mạc ở bệnh lý TC không sa tại Bệnh viện Trường 
Đại học Y Dược Huế từ tháng 5 năm 2011 đến 
tháng 6 năm 2012.
tiêu cHuẩn cHọn bệnH
Đường âm đạo
- Phụ nữ bị các bệnh lý TC không sa có chỉ 
định cắt TC:
+ U xơ tử cung to hoặc có biến chứng
+ Khối u phần phụ lành tính kèm theo có 
kích thước dưới 10cm.
+ Bệnh lý TC khác: polype BTC hay CTC, CIN, 
LNMTC trong cơ, rong kinh rong huyết có chỉ 
định PT, QSNMTC, ra máu bất thường từ TC ở 
phụ nữ mãn kinh có chỉ định PT,
- Tự nguyện cam kết PT cắt TCTP đường AĐ 
và đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
- Phụ nữ có âm đạo mềm mại, đã có quan 
hệ tình dục đường AĐ, TC không quá to (TC 
khoảng thai 12 tuần), di động mức độ tốt 
hoặc khá tốt.
Đường nội soi
- Phụ nữ bị các bệnh lý TC không sa có chỉ 
định cắt TC như trên
- Tự nguyện cam kết PT cắt TCTP đường NS ổ 
phúc mạc và đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Phụ nữ có hoặc không có các hạn chế về 
điều kiện thuận lợi của PT đường AĐ như tử 
cung lớn hơn thai 12 tuần, di động hạn chế do 
dính, âm đạo hẹp, 
tiêu cHuẩn Loại tRừ
Đường âm đạo
- Nguyên nhân toàn thân: thiếu máu nặng 
(Hb ≤ 7g/l), tiểu đường (đường huyết cao ≥ 
12 mmol/l), rối loạn hô hấp nặng, rối loạn tim 
mạch nặng, cao huyết áp nặng, rối loạn động 
chảy máu, đang chảy máu tạng trong ổ phúc 
mạc, khung xương chậu và các khớp vùng chậu 
có bệnh lý gây biến dạng nặng.
- Nguyên nhân phụ khoa: Ung thư BT, ung 
thư CTC và ung thư TC giai đoạn muộn xâm 
lấn và dính nhiều, TC quá to (cao hơn 10cm 
trên vệ), sẹo mổ cũ dính quá nhiều vùng chậu, 
LNMTC vùng chậu gây dính quá nhiều hay các 
khối u phức tạp, dính hố chậu quá nặng.
- Bệnh nhân bị dị ứng các loại thuốc dùng 
trong nghiên cứu.
- Bệnh nhân không được thu thập đầy đủ 
thông tin nghiên cứu.
- AĐ quá chật hẹp, TC di động kém, dị tật 
bẩm sinh như hai TC, hai CTC, hai AĐ... tiền sử 
dò bàng quang – AĐ, trực tràng – AĐ.
Đường nội soi
- Bệnh nhân có các nguyên nhân toàn thân 
và nguyên nhân phụ khoa như trên.
- Bệnh nhân bị dị ứng các loại thuốc dùng 
trong nghiên cứu.
- Bệnh nhân không được thu thập đầy đủ 
thông tin nghiên cứu.
- Một số bệnh lý tim mạch đặc biệt nhạy 
cảm trong tăng áp lực ổ phúc mạc như ngoại 
tâm thu, block nhĩ thất..., bệnh phổi tắc 
nghẽn mãn tính, sẹo mổ dính nhiều thành 
bụng không có lối vào trocart an toàn.
pHương pHáp ngHiên cứu: 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có so sánh.
các bước tiến hành nghiên cứu
Sau khi chọn bệnh, tiến hành các bước 
nghiên cứu như sau:
bước 1. Phân bệnh làm 2 nhóm theo 2 
phương pháp phẫu thuật
bước 2. Chuẩn bị trước phẫu thuật
Khám xét toàn diện, hoàn tất hồ sơ và các 
xét nghiệm chẩn đoán bệnh, các xét nghiệm 
trước PT theo quy định.
bước 3. Tiến hành phẫu thuật theo phương 
pháp cắt tử cung qua đường âm đạo và cắt tử 
cung toàn phần qua đường nội soi 
bước 4. Đánh giá kết quả phẫu thuật
Việc đánh giá kết quả PT được tiến hành 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
35
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 32-43, 2013
thông qua một số công việc sau:
- Tính thời gian PT.
- Theo dõi các tai biến trong PT.
- Cân TC sau khi cắt.
- Xét nghiệm lại HC, Hb ngay sau PT.
- Theo dõi và đánh giá bệnh nhân sau PT cho 
đến khi ra viện.
- Dặn dò bệnh nhân những dấu hiệu cần tái 
khám sớm trong tuần đầu sau khi ra viện như 
sốt, ra dịch AĐ bất thường,
Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp 
thống kê y học với phần mềm SPSS 11.5 và 
Medcal 11.3.1.0.
iii. Kết QuẢ nghiÊn cứu 
Thời gian từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 
6 năm 2012, chúng tôi đã nghiên cứu 60 
trường hợp cắt TCTP vì bệnh lý TC không 
sa, tại Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học 
Y Dược Huế, gồm 30 trường hợp cắt TCTP 
đường AĐ và 30 trường hợp cắt TCTP đường 
NS ổ phúc mạc.
pHân bố bệnH tHEo tuổi
bảng 1. Phân bố bệnh theo tuổi 
Tuổi trung bình của nghiên cứu là 46,9 ± 5,5 tuổi, 
của nhóm PT đường AĐ là 48,6 ± 4,4 tuổi, đường 
NS là 45,2 ± 5,9 tuổi, tập trung nhiều nhất ở nhóm 
41 - 50 tuổi. Tuổi nhỏ nhất là 32, lớn nhất là 60.
cHỉ số kHối cơ tHể
bảng 2. Chỉ số khối cơ thể
Âm đạo Nội soi Tổng
n1 % n2 % n %
≤ 40 0 0 4 13,3 4 6,7
41 – 50 22 73,3 19 63,3 41 68,3
51 – 60 8 26,7 7 23,3 15 25,0
Tổng 30 100,0 30 99,9 60 100,0
X ± sD 48,6 ± 4,4 45,2 ± 5,9 46,9 ± 5,5
Đường PT
Tuổi (năm)
Âm đạo Nội soi Tổng
n1 % n2 % n %
BMi < 18,5 2 6,7 1 3,3 3 5,0
18,5 ≤ BMi < 23 22 73,3 21 70,0 43 71,7
23 ≤ BMi < 25 5 16,7 7 23,3 12 20,0
BMi ≥ 25 1 3,3 1 3,3 2 3,3
Tổng 30 100,0 30 99,9 60 100,0
X ± sD 21,7 ± 1,9 21,8 ± 2,4 21,8 ± 2,1
Đường PT
BMI 
(kg/m²)
Âm đạo Nội soi Tổng
n1 % n2 % n %
≤ 100 1 3,3 1 3,3 2 3,3
100,1 – 300 8 26,7 9 30,0 17 28,3
300,1 – 500 17 56,7 16 53,3 33 55,0
> 500 4 13,3 4 13,3 8 13,3
Tổng 30 100,0 30 99,9 60 99,9
X ± sD 350,6 ± 147,3 353,7 ± 148,5 352,1 ± 146,7
Đường PT
Thể 
tích TC (cm³)
BMI bình thường ở nhóm PT đường AĐ có 
22 trường hợp, chiếm 73,3%, nhóm PT đường 
NS có 21 trường hợp, chiếm 70%.
tHể tícH tử cung 
bảng 3. Thể tích tử cung 
Thể tích trung bình của TC ở 2 nhóm trong 
nghiên cứu tương tự nhau.
các pHương pHáp pHẫu tHuật
bảng 4. Các phương pháp phẫu thuật
Âm đạo Nội soi Tổng
n1 % n2 % n %
Cắt TCTp 28 93,3 26 86,7 54 90,0
Cắt TCTp + 1 pp 2 6,7 2 6,7 4 6,7
Cắt TCTp + 2 pp 0 0 2 6,7 2 3,3
Tổng 30 100,0 30 100,1 60 100,0
Đường PT
Phương
pháp PT 
Cắt TCTP để lại 2 PP là phương pháp chính 
Lê Thị hòa, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
36
Âm đạo (n1 = 30) Nội soi (n2 = 30)
Số
lượng
Thời gian 
TB (phút)
( X ± sD)
p Sốlượng
Thời gian 
TB (phút)
( X ± sD)
p
Không béo phì 29 78,3 ± 27,1
> 0,05
29 96,6 ± 23,9
> 0,05Béo phì 1 50 1 90
Tổng 30 77,3 ± 21,1 30 96,3 ± 23,5
Đường 
PT
BMI
của cả 2 nhóm PT: nhóm PT đường AĐ có 28 
trường hợp, chiếm 93,3 %, nhóm PT đường NS 
có 26 trường hợp, chiếm 86,7%.
tHời gian pHẫu tHuật
thoi gian phau thuat
150
130
125
120
115
110
105
100
95
90
85
80
70
60
55
50
40
35
30
U
nd
ef
in
ed
 e
rr
or
 #
60
86
8 
- C
an
no
t o
pe
n 
te
xt
 fi
le
 "C
:\P
R
O
G
R
A~
1\
SP
SS
\e
n\
w
in
d
8
6
4
2
0
duong phau thuat
am dao
noi soi
0 100 200 300 400 500 600 700 800
160
140
120
100
80
60
40
20
the_tich_tu_cung
duong_mo=1
th
oi
_g
ia
n_
m
o
Thời gian pT (phút)
số
 lư
ợn
g
Đường phẫu thuật
âm đạo 
Nội soi 
biểu đồ 1. Thời gian phẫu thuật
Thời gian PT trung bình của nhóm đường 
AĐ là 77,3 ± 27,1 phút; đường NS là 96,3 ± 23,5 
phút. Sự khác biệt về thời gian PT trung bình 
giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê, p < 0,05.
ảnH Hưởng của cHỉ số kHối cơ tHể Với tHời gian 
pHẫu tHuật 
bảng 5. Ảnh hưởng của chỉ số khối cơ thể 
với thời gian phẫu thuật 
Không có sự khác nhau giữa phụ nữ 
không béo phì và béo phì về thời gian PT ở 
cả 2 đường PT, p > 0,05.
tương quan giữa tHể tícH tử cung Với tHời gian 
pHẫu tHuật
thoi gian phau thuat
150
130
125
120
115
110
105
100
95
90
85
80
70
60
55
50
40
35
30
U
nd
ef
in
ed
 e
rr
or
 #
60
86
8 
- C
an
no
t o
pe
n 
te
xt
 fi
le
 "C
:\P
R
O
G
R
A~
1\
SP
SS
\e
n\
w
in
d
8
6
4
2
0
duong phau thuat
am dao
noi soi
0 100 200 300 400 500 600 700 800
160
140
120
100
80
60
40
20
the_tich_tu_cung
duong_mo=1
th
oi
_g
ia
n_
m
o
Th
ời 
gia
n p
hẫ
u t
hu
ật 
(p
hú
t)
Thể tích tử cung (cm³)
y = 0,1021 x + 41,5543 
0 100 200 300 400 500 600 700 800
140
120
100
80
60
40
20
the_tich_tu_cung
duong_mo=2
th
oi
_g
ia
n_
m
o
0 100 200 300 400 500
160
140
120
100
80
60
40
20
trong_luong_tu_cung
duong_mo=1
th
oi
_g
ia
n_
m
o
Thể tích tử cung (cm³)
Th
ời 
gia
n p
h ... ời gian PT trung bình của TC trên 300 
gam là 100 ± 14,1 phút, TC 300 gam trở 
xuống là 75,7 ± 27,2 phút. Trong nhóm cắt 
TCTP đường NS, thời gian PT trung bình của 
TC trên 300 gam là 115 ± 21,2 phút, TC 300 
gam trở xuống là 95 ± 23,4 phút. Nghiên cứu 
của Wattiez A. (2002), so sánh thời gian PT 
giữa 2 nhóm trọng lượng TC trên 300 gam và 
300 gam trở xuống trong cắt TCTP đường NS 
cho kết quả: thời gian PT trung bình nhóm 
TC trên 300 gam là 156 ± 50 phút, cao hơn 
kết quả của chúng tôi nhưng không có ý 
nghĩa thống kê, p > 0,05, còn nhóm từ 300 
gam trở xuống là 108 ± 35 phút, cao hơn của 
chúng tôi có ý nghĩa thống kê, p < 0,05. Sự 
khác biệt giữa 2 nhóm trong nghiên cứu này 
có ý nghĩa thống kê[13] còn của chúng tôi thì 
không, nguyên nhân do trọng lượng TC trên 
300g trong mẫu của chúng tôi quá ít, chỉ có 
2 trường hợp. Nghiên cứu của Kim H. B. và 
cộng sự (2010) trên 250 bệnh nhân cắt TCTP 
có trọng lượng TC trên 300 gam, thời gian cắt 
TCTP đường AĐ là 93,85 ± 19,79 phút, đường 
NS là 179,95 ± 49.13 phút, p = 0,03[14], kết 
quả này cao hơn tương ứng của chúng tôi 
rất nhiều và có ý nghĩa thống kê, p < 0,05. 
Qua các nghiên cứu này, chứng tỏ có mối 
tương quan giữa trọng lượng TC và thời gian 
Lê Thị hòa, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
40
PT. Nghiên cứu của Mueller A. và cộng sự 
(2011) trong cắt TCTP đường NS cho thấy có 
tương quan rất yếu giữa trọng lượng TC với 
thời gian PT với hệ số rs = 0,26, p < 0,01[11]. 
Nghiên cứu của Trương Quang Vinh và cộng 
sự (2011) về cắt TCTP đường NS đã xác định 
tương quan thuận mức trung bình giữa 
trọng lượng TC và thời gian PT: TC càng lớn, 
thời gian PT càng dài, p < 0,001[8]tương tự 
như kết quả của chúng tôi.
mức Độ Đau sau pHẫu tHuật
Mức độ đau trung bình sau PT trong 
nghiên cứu của chúng tôi tính theo thang 
điểm VAS ngày 1 đường AĐ cao hơn đường 
NS có ý nghĩa thống kê: đường AĐ là 6,4 ± 
0,8 cm, đường NS là 5,9 ± 0,8 cm, p < 0,05. 
Mức độ đau trung bình ngày 2 đường AĐ 
3,4 ± 0,7 cm, đường NS là 3,2 ± 0,6 cm, p 
> 0,05; ngày 3 đường AĐ và NS gần bằng 
nhau: 1,5 ± 0,4 cm.
PT cắt TCTP gây tác động lực lên hệ thống 
các dây chằng treo TC được chi phối bằng 
đám rối hạ vị gây nên cơn đau nội tạng, kết 
hợp đau do vết rạch da vùng bụng chậu. Nếu 
PT đường NS thì đau còn do CO2 kích thích 
cơ hoành. Nếu PT đường AĐ, đau còn do lực 
tác dụng lên đáy chậu và AĐ chi phối bởi đám 
rối hạ vị và thần kinh âm hộ[15]. Mức độ đau 
của cắt TC đường bụng nhiều hơn đường AĐ, 
đường AĐ đau nhiều hơn đường NS nhưng 
mức độ đau còn phụ thuộc vào độ sâu của kỹ 
thuật gây mê, cảm giác của từng cá thể và kỹ 
thuật PT trong từng trường hợp[15],[16]. Khi VAS 
> 3cm, chúng tôi phải cho bệnh nhân dùng 
thuốc giảm đau để kiểm soát đau sau PT. Vào 
ngày 2, bệnh nhân đau ở mức độ thấp hơn 
rõ so với ngày 1 và còn dùng thuốc giảm đau 
đường uống. Vào ngày 3, hầu hết bệnh nhân 
đau ở mức độ nhẹ và không cần dùng thuốc 
thêm thuốc giảm đau.
Một nghiên cứu phân tích ngẫu nhiên 
của Gendy R. và cộng sự (2011) ghi nhận 3 
báo cáo có kết quả phân tích về mức độ đau 
tính theo thang điểm VAS vào giờ thứ 3 sau 
mổ trong cắt TC đường NS thấp hơn đường 
AĐ 2,13 cm với p = 0,0326[17]. 
Nghiên cứu của Trương Quang Vinh và 
cộng sự (2011), mức độ đau trung bình sau 
cắt TCTP đường NS theo VAS ngày 2 là 2,47 
± 0,58 cm[8] thấp hơn của chúng tôi có ý 
nghĩa thống kê (p < 0,05), ngày 3 sau PT là 
1,35 ± 0,52 cm tương đương với nghiên cứu 
của chúng tôi (p > 0,05). 
Nguyên nhân của sự khác biệt của 
nghiên cứu mức độ đau sau PT của chúng 
tôi cao hơn so với các tác giả khác có lẽ do 
cách ghi nhận đánh giá mức độ đau sau PT 
của chúng tôi vào thời điểm đau nhất trong 
ngày 1, 2, và 3, thời điểm này sẽ tương ứng 
với lúc hết tác dụng của thuốc gây mê và 
giảm đau, điều này thay đổi ở từng bệnh 
nhân và phụ thuộc nhiều vào cảm tính của 
từng người bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi 
đau nhiều nhất vào ngày 1 khi hết thuốc 
giảm đau, sau đánh giá chúng tôi tiếp tục 
kiểm soát cơn đau bằng thuốc uống và 
hướng dẫn bệnh nhân hợp tác trong giai 
đoạn hậu phẫu sớm. Kết quả là ngày 2 và 
3, hiệu quả giảm đau và hồi phục sức khỏe 
sau PT rõ rệt. 
số ngày Điều tRị sau pHẫu tHuật 
Số ngày điều trị trung bình sau PT trong 
nghiên cứu của chúng tôi đường AĐ cao hơn 
đường NS nhưng không có ý nghĩa thống 
kê: đường AĐ là 5,4 ± 3,4 ngày, đường NS là 
4,8 ± 1,3 ngày, p > 0,05.
Nghiên cứu của Trương Quang Vinh 
(2001), số ngày điều trị trung bình sau PT 
đường AĐ là 7,09 ± 1,08 ngày[4], dài hơn của 
chúng tôi có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
Sự khác biệt này phụ thuộc phần lớn vào 
số ngày điều trị kháng sinh sau PT. Số ngày 
điều trị sau PT trong nghiên cứu của Bạch 
Cẩm An (2005) trong cắt TCTP đường NS là 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
41
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 32-43, 2013
5,3 ± 1,2 ngày[18] [1], của Trương Quang Vinh 
và cộng sự (2010) là 5,3 ± 0,9 ngày[5], dài 
hơn của chúng tôi nhưng không có ý nghĩa 
thống kê (p > 0,05). 
tỷ Lệ tHànH công, tai biến Và biến cHứng
Tỷ lệ thành công chung của nghiên cứu 
là 98,33%. Có 1 trường hợp ở nhóm NS phải 
chuyển sang mổ bụng vì nhân xơ lớn, mặt 
sau đoạn eo che lấp phẫu trường, không tiếp 
cận được đoạn dưới TC, chiếm 3,3% nhóm 
này. Không có tai biến nào xảy ra trong PT. 
Có 1 trường hợp tụ dịch mỏm cắt AĐ xảy ra 
ở mỗi nhóm, chiếm 3,3% mỗi nhóm.
Có rất nhiều nghiên cứu ghi nhận về tỷ 
lệ tai biến và biến chứng của PT cắt TCTP 
trong đường AĐ cũng như NS. Gendy R. và 
cộng sự (2011) ghi nhận 5 báo cáo về tổn 
thương hệ tiết niệu trong cắt TCTP đường 
AĐ và đường NS không có sự khác biệt với 
p = 0,43[17]. Nghiên cứu của Doganay M. 
(2011), tỷ lệ biến chứng chung trong cắt 
TCTP đường AĐ là 4,2%, đường NS là 3,6%[19]. 
Nhìn chung tỷ lệ thành công của cả 2 nhóm 
PT đều cao, tai biến và biến chứng hầu hết 
cao hơn nghiên cứu của chúng tôi nhưng 
tỷ lệ đều ở mức thấp và không có sự khác 
biệt giữa 2 nhóm. Nghiên cứu của Mueller 
A. và cộng sự (2011) trong cắt TCTP đường 
NS cho thấy có tương quan nghịch rất yếu 
giữa tai biến trong PT với thời gian PT với r 
= - 0,09, p < 0,05[11]. Như vậy, những trường 
hợp khó khăn, thời gian PT kéo dài, có thể 
gặp các tai biến và biến chứng, nhưng nếu 
PTV không thuần thục hay không cẩn thận 
thì những trường hợp dễ dàng, PT nhanh 
cũng có thể xảy ra tai biến hoặc biến chứng. 
Nghiên cứu PT cắt TCTP đường NS ở Phần 
Lan năm 2000 – 2005 có tỷ lệ biến chứng là 
0,96%, giảm đáng kể so với giai đoạn 1992 
– 1999 (1,76%). Điều này chứng tỏ sự hướng 
dẫn đào tạo liên tục các PTV ở Phần Lan đã 
góp phần làm giảm tỷ lệ biến chứng[20].
Nghiên cứu 45 trường hợp cắt TCTP 
đường AĐ của Trương Quang Vinh (2001) 
đều thành công, không có tai biến trong PT, 
có 1 trường hợp nhiễm trùng sau PT, chiếm 
tỷ lệ 2,2% tương tự nghiên cứu của chúng 
tôi, p > 0,05[4]. Nghiên cứu cắt TCTP đường 
NS của Trương Quang Vinh và cộng sự 
(2010) tương tự của chúng tôi. Tỷ lệ thành 
công là 97,37%, 1 trường hợp chuyển sang 
cắt tử cung đường AĐ có hỗ trợ NS vì tử 
cung to thoái hóa, nặng 570 gam. Không có 
tai biến trong PT và có 1 trường hợp nhiễm 
trùng vết mổ, chiếm 2,63%[5]. Nghiên cứu 
của Bạch Cẩm An và cộng sự (2007) trên 32 
bệnh nhân cắt TCTP đường NS, tỷ lệ thành 
công là 100%, không có tai biến trong PT, 
biến chứng sau PT có 1 trường hợp tụ dịch 
mỏm cắt chiếm 3,12%[9], tương tự nghiên 
cứu của chúng tôi. 
Cắt TCTP đường AĐ tuy ra đời sớm nhất, 
nhưng PT này phụ thuộc rất nhiều vào kỹ 
năng và sự thành thục của PTV. Điểm yếu 
của cắt TCTP đường AĐ là không quan sát 
rõ các tạng liên quan trong quá trình PT mà 
chủ yếu dựa vào cảm giác của PTV và phẫu 
trường bị giới hạn, đây cũng là một trong 
những lý do nó bị lãng quên một thời gian 
khi PT đường bụng xuất hiện. Thực tế, các 
PTV cắt TCTP đường AĐ hầu hết lại có kỹ năng 
tốt, vì vậy tỷ lệ thành công của PT thường 
cao, tai biến và biến chứng thấp. Phẫu thuật 
cắt TCTP đường NS ở phúc mạc là một PT 
cao cấp trong PT phụ khoa, ngày càng được 
ứng dụng rộng rãi. Nó rất có ưu thế của một 
kỹ thuật mới, tiến bộ. Việc quan sát rõ ràng 
các tạng trong ổ phúc mạc và tạo một phẫu 
trường khá thuận lợi trong suốt quá trình 
PT, kết hợp với các dụng cụ PT và máy móc 
thiết bị ngày càng hoàn thiện, PT cắt TCTP 
đường NS nhanh chóng tìm được vị trí của 
mình và phát triển ở nhiều nơi trên thế giới 
cũng như ở Việt Nam. Các biến chứng trong 
PT vẫn có thể xảy ra, nhưng ngày càng hạn 
Lê Thị hòa, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
42
chế nhờ có những trang thiết bị NS ngày 
càng tiến bộ và các PTV cắt TCTP đường NS 
được huấn luyện cẩn thận[18].
cHi pHí pHẫu tHuật
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chi 
phí trung bình cho mỗi trường hợp PT cắt 
TCTP tính theo viện phí hay bảo hiểm của 
đường AĐ đều thấp hơn so với đường NS có 
ý nghĩa thống kê: 6.541.852 ± 647.308 đồng 
VN hay 1.966.054 ± 180.831 đồng VN so với 
7.389.215 ± 382.253 đồng VN hay 2.499.255 
± 88.130 đồng VN, p < 0,05. 
Số ngày điều trị tại bệnh viện và số ngày 
điều trị hậu phẫu, tỷ lệ tai biến và biến 
chứng sẽ ảnh hưởng chi phí điều trị. Để hạn 
chế tình trạng này, vấn đề an toàn trong PT 
phải được đặc biệt quan tâm. PT đường NS 
có ưu thế trong việc dùng kháng sinh dự 
phòng và số ngày hậu phẫu có thể rút ngắn 
đáng kể, điều này hứa hẹn một sự giảm chi 
phí điều trị cho PT cắt TCTP đường NS một 
cách đáng kể.
Kết quả này cũng phù hợp với nhiều 
nghiên cứu. Nghiên cứu của Kim H. B. (2010), 
chi phí trung bình cho PT cắt TCTP đường 
AĐ thấp hơn đường NS có ý nghĩa thống kê: 
đường AĐ là 1815,7 đô la Mỹ, đường NS là 
2560,5 đô la Mỹ, p < 0,05[14].
v. Kết luận
Thời gian phẫu thuật trung bình cắt tử 
cung toàn phần đường âm đạo ngắn đường 
nội soi (p < 0,05).
Có sự tương quan hồi quy tuyến tính giữa 
thể tích và trọng lượng tử cung với thời gian 
phẫu thuật ở 2 nhóm trong nghiên cứu.
Mức độ đau trung bình sau phẫu thuật 
cắt tử cung toàn phần ngày thứ nhất tính 
theo VAS ở nhóm đường âm đạo cao hơn có 
ý nghĩa thống kê so với đường nội soi.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê về thời gian hậu phẫu trung bình cắt tử 
cung toàn phần đường âm đạo và đường 
nội soi..
Chi phí phẫu thuật trung bình của cắt tử 
cung toàn phần đường âm đạo thấp hơn 
đường nội soi.
Phẫu thuật cắt tử cung toàn phần đường 
âm đạo và nội soi có thể thực hiện được ở 
hầu hết các bệnh lý tử cung không sa với ưu 
điểm: thẩm mỹ, an toàn và hồi phục nhanh 
sau phẫu thuật.
Tài liệu Tham khảo
1. Swanton A., Slack A., Veigh E. M. 
(2009), “Laparoscopy and laparoscopic 
surgery”, Obstetrics. Gynaecology and 
Reproductive medicine, 20 (2), pp.33 - 40.
2. Mencaglia L., Wattier A., Hamou J. 
E. (2006), “Dụng cụ và bố trí phòng mổ”, 
Manual of Gynecological Laparoscopy, 
Manual of Hysteroscopy, University 
Women’s Hospital Freiburg, tr.1 - 10.
3. Ghezzi F., Cromi A., Siesto G., 
Bergamini V., Zefiro F., Bolis P. (2008), 
“Infectious morbidity after total 
laparoscopic hysterectomy: does 
concomitant salpinggectomy make a 
diference?” BJOG, 116, pp.589 - 593.
4. Trương Quang Vinh (2001), Nghiên 
cứu ứng dụng kỹ thuật cắt tử cung toàn 
phần đường âm đạo để điều trị một số 
bệnh lý tử cung không sa tại Bệnh viện 
Trung Ương Huế, Luận văn thạc sĩ y học, 
Trường Đại học Y Huế.
5. Trương Quang Vinh, Đặng Văn 
Pháp, Võ Văn Đức, Trần Mạnh Linh (2010), 
“Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tử cung 
qua nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học 
Y Dược Huế”, Tạp chí Phụ Sản, Tập 8 (2 - 
3), Huế, tr.96 - 101.
6. Đỗ Khắc Huỳnh, Nguyễn Huy Bạo 
(2009), “Cắt tử cung hoàn toàn bằng phẫu 
thuật nội soi: những nhận xét ban đầu”, 
Tạp chí Phụ Sản, (5), tr.43 - 45.
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
43
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 32-43, 2013
7. Bai W. P., Li L. P., Feng M. Y., Wang 
X. H., Li K. M., Zhou Y. F. (2005), “Clinical 
comparison of transvaginal hysterectomy 
and laparoscopic hysterectomy”, 
Zhonghua Fu Chan Ke Za Zhi, 40 (10), 
pp.656 - 664.
8. Trương Quang Vinh, Võ Văn Đức, Trần 
Mạnh Linh (2011), “Nghiên cứu ứng dụng 
cắt tử cung qua nội soi trong các bệnh lý tử 
cung không sa”, Tạp chí Phụ sản, tr.46 - 56.
9. Bạch Cẩm An, Phan Thị Duyên Hải, 
Lê Sỹ Phương, Trần Minh Thắng (2007), 
“Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi 
cắt tử cung toàn phần có hỗ trợ của cần 
nâng có nắp cổ tử cung tại Khoa Sản 
Bệnh viện Trung ương Huế”, Tạp chí Phụ 
Sản số đặc biệt, (3 - 4), tr.230 - 237.
10. Lê Anh Phương (2009), “Phẫu thuật 
nội soi cắt tử cung tại Khoa Sản Bệnh viện 
Nhân dân Gia Định 2009”, Tập san Y học 
TP.Hồ Chí Minh, tập 13 (6), tr.248 - 252.
11. Mueller A., Boosz A., Koch M., 
Jud S., Faschingbauer F., Schrauder M., 
Löhberg C., Mehlhorn G., Renner S. P., Lux 
M. P., Beckmann M. W., Thiel F. C. (2011), 
“The Hohl instrument for optimizing 
total laparoscopic hysrectomy: result of 
more than 500 procedures in a university 
training center”, Arch Gynecol Obstet © 
Springer-Verlag 2011.
12. Mueller A., Thiel F., Lermann J., 
Oppelt P., Beckmann M. W. and Renner 
S.P. (2010), “Feasibility and safety of 
total laparoscopic hysterectomy (TLH) 
using the Hohl instrument in nonobese 
and obese women”, J. Obstet. Gynaecol. 
Res., 36 (1), pp.159 - 164.
13. Wattiez A., Soriano D., Fiaccavento 
A., Canis M., Botchorishvili R., Pouly 
J., Mage G., Bruhat M. A. (2002), “Total 
laparoscopic hysterectomy for very 
enlarged uteri”, J Am Assoc Gynecol 
Laparosc, 9 (2), pp.125 - 30.
14. Kim H. B., Song J. E., Kim G. H., Cho 
H. Y. and Lee K. Y. (2010), “Comparative 
of clinical effects between total vaginal 
hysterectomy and total laparoscopic 
hysterectomy on large uteruses over 
300 grams”, Obstetrics and Gynecology 
Research, 36 (3), pp.656 - 660.
15. Delaunay L. (2004), “Analgésie 
après hystérectomie”, Journées 
thématiques de la Sfar.
16. Milon D. (2006), “Hystérectomies”, 
Évaluation et traitement de la douleur, 
pp.667 - 676.
17. Gendy R., Walsh C. A., Walsh 
S. R., Karantanis E. (2011), “Vaginal 
hysterectomy versus total laparoscopic 
hysterectomy for benign disease: a 
metaanalysis of randomized controlled 
trials”, American journal of Obstetrics & 
Gynecology, 204, pp. 
18. Bạch Cẩm An (2005), Đánh giá kết 
quả phẫu thuật nội soi cắt tử cung toàn 
phần trong bệnh lý u xơ tử cung tại Bệnh 
viện Trung ương Huế, Luận án chuyên 
khoa cấp II chuyên nghành phụ khoa, 
Trường Đại học Y Huế
19. Doğanay M., Yildiz Y., Tonguc E., Var 
T., Karayalcin R., Eryilmaz O. G. (2011), 
“Abdominal, vaginal and total laparoscopic 
hysterectomy: perioperative morbidity”, 
Arch Gynecol Obstet, 284, pp.385 - 389.
20. Brummer T. H. I., Seppälä T. T. and 
Härkki P. S. M. (2008), “National learning 
curve for laparoscopic hysterectomy 
and trends in hysterectomy in Finland 
2000-2005”, Human Reproduction, 23 (4), 
pp.840 – 845. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_cat_tu_cung_toan_phan_duong_am_d.pdf