Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi

52 trường hợp phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực được thực hiện tại BV Đại học Y Dược TPHCM từ 01/2011 đến 01/2016, trong đó 18 trường hợp thùy trên phổi trái, 15 trường hợp thùy dưới phổi trái, 10 trường hợp thùy trên phổi phải, 8 trường hợp thùy dưới phổi phải và 1 trường hợp thùy giữa. Kích thước khối u trung bình 4,2 ± 0,5 (2,5 – 5cm), nằm ngoại vi và không xâm lấn các mạch máu vùng rốn phổi. Có 32 trường hợp kèm hạch: trung thất (14 trường hợp), rốn phổi (18 trường hợp). 4 trường hợp giai đoạn IA, 26 trường hợp giai đoạn IB, 16 trường hợp IIA, 6 trường hợp IIIA. Thời gian phẫu thuật trung bình 105 ± 38,5 (65 – 185 ph); Lượng máu mất: 150 ± 20 (100 – 180ml); Thời gian DLMP: 2,05 ± 0,5 ( 1 – 3 ngày); Thời gian nằm viện sau mổ: 4,5 ± 1,5 ( 4 – 7 ngày). Tai biến và biến chứng: 1 trường hợp chuyển sang mổ mở vì khó khăn về mặt kỹ thuật, 1 trường hợp xì khí kéo dài đòi hỏi nội soi lồng ngực lại và 1 trường hợp tràn khí – dịch màng phổi sau phẫu thuật 3 tuần và chỉ cần điều trị bằng chọc hút khí - Dịch màng phổi. Không trường hợp nào rách ĐM hay TM phổi gây chảy máu lượng lớn đòi hỏi phải mở ngực khẩn cấp, không ghi nhận các tai biến và biến chứng khác như: chảy máu sau mổ, viêm phổi, xẹp phổi, nhiểm trùng vết mổ Thuốc giảm đau sau mổ: tất cả 52 trường hợp của chúng tôi chỉ cần dùng NSAID dạng chích kèm Paracetamol truyền tĩnh mạch trong 2 ngày đầu sau mổ và chuyển sang Acetaminophen uống trong 3 ngày tiếp theo. Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi cho thấy nhiều ưu điểm: vết mổ nhỏ, thẫm mỹ cao, không banh kéo xương sườn nên ít đau sau mổ, thời gian phục hồi và nằm viện ngắn Hiện nay, kỹ thuật này đang được áp dụng rộng rãi và tính khả thi về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong điều trị ung thư cũng đã được nhiều tác giả cố gắng chứng minh qua nhiều nghiên cứu

pdf 7 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi

Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 97 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI 
LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI 
Trần Minh Bảo Luân*, Nguyễn Hoài Nam* 
TÓM TẮT 
52 trường hợp phẫu thuật cắt thùy phổi qua 
nội soi lồng ngực được thực hiện tại BV Đại học 
Y Dược TPHCM từ 01/2011 đến 01/2016, trong 
đó 18 trường hợp thùy trên phổi trái, 15 trường 
hợp thùy dưới phổi trái, 10 trường hợp thùy trên 
phổi phải, 8 trường hợp thùy dưới phổi phải và 1 
trường hợp thùy giữa. Kích thước khối u trung 
bình 4,2 ± 0,5 (2,5 – 5cm), nằm ngoại vi và 
không xâm lấn các mạch máu vùng rốn phổi. Có 
32 trường hợp kèm hạch: trung thất (14 trường 
hợp), rốn phổi (18 trường hợp). 4 trường hợp giai 
đoạn IA, 26 trường hợp giai đoạn IB, 16 trường 
hợp IIA, 6 trường hợp IIIA. Thời gian phẫu thuật 
trung bình 105 ± 38,5 (65 – 185 ph); Lượng máu 
mất: 150 ± 20 (100 – 180ml); Thời gian DLMP: 
2,05 ± 0,5 ( 1 – 3 ngày); Thời gian nằm viện sau 
mổ: 4,5 ± 1,5 ( 4 – 7 ngày). Tai biến và biến 
chứng: 1 trường hợp chuyển sang mổ mở vì khó 
khăn về mặt kỹ thuật, 1 trường hợp xì khí kéo dài 
đòi hỏi nội soi lồng ngực lại và 1 trường hợp tràn 
khí – dịch màng phổi sau phẫu thuật 3 tuần và chỉ 
cần điều trị bằng chọc hút khí - dịch màng phổi. 
Không trường hợp nào rách ĐM hay TM phổi 
gây chảy máu lượng lớn đòi hỏi phải mở ngực 
khẩn cấp, không ghi nhận các tai biến và biến 
chứng khác như: chảy máu sau mổ, viêm phổi, 
xẹp phổi, nhiểm trùng vết mổ Thuốc giảm đau 
sau mổ: tất cả 52 trường hợp của chúng tôi chỉ 
cần dùng NSAID dạng chích kèm Paracetamol 
truyền tĩnh mạch trong 2 ngày đầu sau mổ và 
chuyển sang Acetaminophen uống trong 3 ngày 
tiếp theo. Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy 
phổi cho thấy nhiều ưu điểm: vết mổ nhỏ, thẫm 
mỹ cao, không banh kéo xương sườn nên ít đau 
sau mổ, thời gian phục hồi và nằm viện ngắn 
Hiện nay, kỹ thuật này đang được áp dụng rộng 
rãi và tính khả thi về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong 
điều trị ung thư cũng đã được nhiều tác giả cố 
gắng chứng minh qua nhiều nghiên cứu.* 
SUMMARY 
THE RESULTS OF VATS LOBECTOMY IN 
TREATMENT OF EARLY STAGE LUNG CANCER 
52 cases of VATS lobectomy were 
performed at University Medical Center of Ho 
Chi Minh city from 01/2011 to 09/2016, 
including 18 cases of left upper lobe, 10 cases of 
left lower lobe, 15 cases of right upper lobe, 8 
cases of right lower lobe and 1 case of middle 
lobe. The average tumor size 4,2 ± 0.5 (2.5 - 5 
cm), are located at peripheral lung tissue and 
noninvasive pulmonary blood vessels. There are 
32 cases with lymph nodes: mediastinum lympho 
nodes (14 cases), lung hilum lympho nodes (18 
cases). 4 cases of lung cancer stage IA, 26 cases 
of stage IB, 16 cases of stage IIA and 6 cases of 
IIIA. The mean durations of operative time 105 ± 
38.5 (65-185 min), intraoperative blood loss: 150 
± 20 (100 - 180ml), the mean durations of chest 
drainage: 2.05 ± 0.5 (1-3 days); the mean 
postoperative hospitalization: 4.5 ± 1.5 (4-7 
days). Complications: a case switch to open 
surgery because of technical difficulties, one case 
of long airleak needed to redo VATS and a case 
of pneumothorax - pleural effusion happened at 3 
weeks after surgery and just treated with simply 
aspiration. No case of massive bleeding due to 
* Bộ môn phẫu thuật Lồng Ngực – Tim Mạch, Đại học Y Dược 
TPHCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 98 
laceration of pulmonary artery or pulmonary vein 
requiring emergency thoracotomy, no other 
complications such as postoperative bleeding, 
pneumonia, atelectasis, wound infection ... 
Postoperative analgesics: only injectable NSAID 
combine Paracetamol I.V was used within 2 days 
after surgery and switched to acetaminophen in 
the next 3 days in all of our cases. 
VATS lobectomy was proved as a 
procedure with many advantages such as small 
incisions, highly cosmetic, less postoperative pain 
due to no rib retractor, shorter recovery time and 
hospital stay.... Curently, VATS lobectomy 
technique is widely applied and technically 
feasibilities, effective in treatment of lung cancer 
have also been proved by many authors through 
many studies. 
Từ khóa: VATS lobectomy, Cắt thùy phổi 
qua nội soi lồng ngực. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư phổi là bệnh lý rất thường gặp 
trong dân số, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại 
ung thư tại Việt Nam. Trước đây, phẫu thuật điều 
trị ung thư phổi được thực hiện bằng phẫu thuật 
mở ngực kinh điển, với vết mổ dài hơn 15cm và 
banh các xương sườn để vào lồng ngực và các 
thùy phổi bị ung thư. Với vết mổ dài và thao tác 
banh xương sườn nên bệnh nhân rất đau sau phẫu 
thuật, thậm chí nhiều trường hợp đau dai dẳng 
kéo dài dù đã được phẫu thuật trước đó nhiều 
tháng. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ 
thuật, sự ra đời của hệ thống thấu kính, camera 
nội soi và các dụng cụ phẫu thuật, thiết bị cắt và 
khâu phổi tự động đã tạo ra kỹ nguyên mới trong 
phẫu thuật. 
Nội soi lồng ngực được thực hiện đầu tiên 
bởi Jacobaeus năm 1910 bằng ống soi cứng tại 
bệnh viện Serafimerla sarettet ở Stockholm. Năm 
1925, ông báo cáo 120 trường hợp nội soi lồng 
ngực thành công, trong đó gồm tách dính xoang 
màng phổi nhằm điều trị lao phổi và chẩn đoán u 
màng phổi. Từ thời điểm Jacobaeus báo cáo cho 
đến thập niên 50, có rất nhiều báo cáo khác về nội 
soi lồng ngực với số lượng lớn bệnh nhân đã 
được thực hiện ở các nước Âu – Mỹ(2). 
Năm 1989, phẫu thuật nội soi cắt túi mật 
lần đầu tiên thực hiện thành công. Từ đó, phẫu 
thuật nội soi ổ bụng phát triển mạnh mẽ và lan 
rộng khắp thế giới. Điều này đã thúc đẩy các 
phẫu thuật viên ứng dụng phẫu thuật nội soi trong 
điều trị bệnh lý lồng ngực thành công như: cắt 
phổi không điển hình bằng stapler trong điều trị 
nốt đơn độc phổi, cắt kén khí qua nội soi lồng 
ngực trong tràn khí màng phổi tự phát Đến 
năm 1992, cắt thùy phổi bằng phẫu thuật nội soi 
lồng ngực lần đầu tiên được thực hiện thành 
công(6). Ngày nay, nhiều trung tâm trên thế giới 
đã áp dụng kỹ thuật này. Tuy nhiên, về mặt kỹ 
thuật thì cũng còn chưa được thống nhất và các 
chỉ định áp dụng cũng là vấn đề được bàn cải 
nhiều trong phẫu thuật cắt thùy phổi điều trị ung 
thư phổi. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của phẫu thuật 
nội soi lồng ngực cắt thùy phổi trong điều trị ung 
thư phổi. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu 
mô tả, không nhóm chứng. 
2.2. Đối tượng nghiên cứu: tất cả bệnh 
nhân ung thư phổi có chỉ định và được phẫu thuật 
cắt thùy phổi qua NSLN tại BV ĐHYD TPHCM 
từ 01/2011 đến 01/2016. 
2.2.1. Chỉ định áp dụng cắt thùy phổi qua 
NSLN: 
Ung thư phổi giai đoạn I và II(1); kích thước 
u nhỏ hơn 5cm (4-6cm) nằm ở ngoại biên(6,9,10), 
không xâm lấn mạch máu, thành ngực, rảnh liên 
thùy, cơ hoành và màng ngoài tim(6,10) ; bệnh 
nhân không xạ trị vùng ngực trước đó; chức năng 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 99 
hô hấp đảm bảo thông khí một phổi tốt trong quá 
trình gây mê phẫu thuật. 
2.2.2. Kỹ thuật cắt thùy phổi qua NSLN: 
Hiện nay có nhiều kỹ thuật được mô tả, 
nhưng khác nhau chủ yếu về vị trí và số trocar: từ 1 
vết mổ nhỏ và 1 lổ trocar cho đến 1 vết mổ nhỏ và 
3 lổ trocar. Mặc dù, cắt thùy phổi qua nội soi có thể 
thực hiện được chỉ với 1 vết mổ nhỏ để thao tác và 
1 lổ trocar cho camera, kỹ thuật này không được áp 
dụng rộng rãi vì thao tác khó khăn và thời gian 
phẫu thuật kéo dài. Vì vậy, chúng tôi thường áp 
dụng kỹ thuật: 1 vết mổ khoảng 1 cm LS 8 đường 
nách trước và vết mổ khoảng 1cm LS 9 đường 
nách sau cho camera hoặc dùng cụ để vén phổi; vết 
mổ khoảng 3-4cm LS 4 hoặc 5 đường nách giữa để 
thao tác và phẫu tích rốn phổi. 
Tư thế bệnh nhân và vị trí trocar, vết mổ nhỏ để thao tác 
Bệnh nhân tư thế nằm nghiêng 90o, gối 
dưới nách và bàn mổ được gập lại vùng hông 
lưng để hạ thấp xương vùng chậu xuống dưới, 
nhờ đó khoang liên sườn dãn ra tối đa và không 
hạn chế camera hay dụng cụ thao tác khi xoay 
chuyển. Camera 30o được dùng để quan sát toàn 
bộ khoang màng phổi qua trocar LS 8 hoặc 9 và 
đánh giá lại vị trí khối u cũng như các thương tổn 
kèm theo để quyết định tiến hành cắt thùy phổi. 
Dùng Ring forceps hoặc Grasper nội soi để vén 
phổi qua lổ trocar còn lại. Có thể dùng dụng cụ 
nội soi hoặc dụng cụ phẫu thuật mở kinh điển để 
bóc tách các cấu trúc rốn phổi dưới màn hình nội 
soi qua vết mổ 5cm. Các nhánh động mạch và 
tĩnh mạch phổi được cắt bằng stapler 2,0 hoặc 
2,5mm, và phế quản hoặc nhu mô phổi được cắt 
bằng stapler 3,5 hoặc 4,5mm. Khi tiến hành phẫu 
thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực thì có 
một số điểm khác với phẫu thuật mở kinh điển 
như: bộc lộ rốn phổi đòi hỏi cả hai mặt trước và 
sau khác với mổ mở thường là bóc tách từ rãnh 
gian thùy; các mạch máu và phế quản được cắt 
theo trình tự không như mổ mở kinh điển là: tĩnh 
mạch hay động mạch trước rồi mới cắt phế quản 
sau cùng. 
2.2.3. Thu thập số liệu và đánh giá kết quả: 
Số liệu được thu thập từ bệnh án mẫu với 
các yếu tố được ghi nhận: triệu chứng lâm sàng, 
Xquang ngực thẳng và nghiêng, CT scan ngực 
cản quang, nội soi phế quản, tế bào học trước PT 
(qua NSPQ hay FNA xuyên thành ngực), PET 
Scan (nếu có); Giai đoạn ung thư phổi trước và 
sau PT, thời gian PT, các tai biến và biến chứng 
trong và sau mổ Bệnh nhân được tái khám 1 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 100 
tuần, mỗi tháng sau PT trong năm đầu và mỗi 3 
tháng trong năm tiếp theo. 
2.2.4. Đánh giá kết quả 
- Kết quả tốt: thực hiện thành công phẫu 
thuật, không tai biến hay biến chứng. 
- Kết quả trung bình: thực hiện thành 
công phẫu thuật với các tai biến nhỏ được xử trí 
tốt bằng nội soi. Các biến chứng sau mổ nhưng 
không phải mổ lại. 
- Kết quả xấu: Không thực hiện được phẫu 
thuật noi soi, phải chuyển mở ngực. Các biến 
chứng sau mổ như: chảy máu, xẹp phổi, mủ màng 
phổi  phải mổ lại xử trí thương tổn. 
- Tử vong trong hay sau mổ. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Trong thời gian từ 01/2011 đến 01/2016, tại 
BV Đại học Y Dược TPHCM chúng tôi đã thực 
hiện được 52 trường hợp phẫu thuật cắt thùy phổi 
và nạo hạch qua nội soi lồng ngực điều trị ung 
thư phổi nguyên phát. 
Tuổi: trung bình 62 ± 9,3 (46 – 75) 
Giới: tỷ lệ nam/ nữ: 2/1 
Triệu chứng lâm sàng: 
Không triệu chứng: 25 trường hợp (phát 
hiện tình cờ). 
Đau ngực: 18 trường hợp. 
Ho kéo dài: 5 trường hợp. 
Ho ra máu: 4 trường hợp. 
CT scan ngực cản quang: 
Vị trí u: 
U thùy trên phổi (T): 18 trường hợp. 
U thùy dưới phổi (T): 15 trường hợp. 
U thùy trên phổi (P): 10 trường hợp. 
U thùy dưới phổi (P): 8 trường hợp. 
U thùy giữa phổi (P): 1 trường hợp. 
52 trường hợp đều nằm ngoại vi, không 
xâm lấn các mạch máu rốn phổi. 
Kích thước u: 4,2 ± 0,5 ( 2,5 – 5cm). 
Hạch: 
Không: 20 trường hợp. 
Trung thất: 14 trường hợp. 
Rốn phổi: 18 trường hợp. 
Giai đoạn ung thư phổi sau phẫu thuật: 
IA: 4 trường hợp. 
IB: 26 trường hợp. 
IIA: 16 trường hợp. 
IIIA: 6 trường hợp. 
Nội soi phế quản: xác định tế bào học 18 
trường hợp trước phẫu thuật. 
Phẫu thuật: 
Thời gian phẫu thuật: 105 ± 38,5 (65-185 phút) 
Lượng máu mất: 150 ± 20 (100 – 180ml) 
Thời gian DLMP: 2,05 ± 0,5 ( 1 – 3 ngày) 
Thời gian nằm viện sau mổ: 4,5 ± 1,5 (4-7 ngày) 
Tai biến và biến chứng: 
1 trường hợp chuyển mổ mở vì hạch dính 
chặt nhánh S1,2 trong cắt thùy trên phổi (T). 
1 trường hợp tràn khí-dịch MP sau mổ 3 
tuần, chỉ cần điều trị bằng chọc hút đơn thuần. 
1 trường hợp tràn khí màng phổi do xì khí 
từ nhu mô phồi vùng rãnh liên thùy đòi hỏi phải 
nội soi lồng ngực khâu chổ xì khí. 
Không trường hợp nào chảy máu do rách 
ĐM, TM phổi. 
Không trường hợp chảy máu sau mổ. 
Các biến chứng khác: không ghi nhận 
trường hợp nào. 
Thuốc giảm đau: tất cả bệnh nhân đều 
được dùng NSAID dạng chích phối hợp 
Paracetamol truyền tĩnh mạch trong 2 ngày sau 
mổ, sau đó chuyển sang dạng uống với 
Paracetamol trong 3 ngày tiếp theo. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 101 
Tái phát và di căn xa: 
Tất cả bệnh nhân đều được hóa trị hỗ trợ 
sau phẫu thuật 4 – 6 chu kỳ với phác đồ 
Paclitaxel + Carboplatin weekly và thời gian theo 
dõi trung bình: 36 ± 6,5 tháng (2 – 53 tháng): 
- 3 trường hợp di căn xa và tử vong sau 36 
tháng theo dõi: 2 trường hợp giai đoạn IIIA và 1 
trường hợp giai đoạn IIA. 
- 1 trường hợp giai đoạn IIA tái phát và di 
căn xa sau 32 tháng theo dõi, vẫn đang được tiếp 
tục hóa trị hỗ trợ. 
Kết quả sớm PTNSLN: 
Tốt: 94,3% 
Trung bình: 1,9% 
Xấu: 3,8% 
IV. BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 52 trường 
hợp phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng 
ngực, trong đó 18 trường hợp cắt thùy trên phổi 
trái, 15 trường hợp thùy dưới phổi trái, 10 trường 
hợp thùy trên phổi phải, 8 trường hợp thùy dưới 
phổi phải, 1 trường hợp thùy giữa. Kích thước 
khối u trung bình 4,2 ± 0,5 (2,5 – 5cm), nằm 
ngoại vi và không xâm lấn các mạch máu vùng 
rốn phổi. Có 32 trường hợp kèm hạch: trung thất 
(14 trường hợp), rốn phổi (18 trường hợp). 4 
trường hợp ung thư phổi giai đoạn IA, 26 trường 
hợp giai đoạn IB, 16 trường hợp giai đoạn IIA, 6 
trường hợp giai đoạn IIIA. Thời gian phẫu thuật 
trung bình 105 ± 38,5 (65 – 185 phút); Lượng 
máu mất: 150 ± 20 (100 – 180ml); Thời gian 
DLMP: 2,05 ± 0,5 ( 1 – 3 ngày); Thời gian nằm 
viện sau mổ: 4,5 ± 1,5 ( 4 – 7 ngày). 
So với các tác giả khác: Lewis(8) thực hiện 
250 trường hợp với thời gian phẫu thuật trung 
bình 78,8ph, lượng máu mất trong mổ trung bình 
100ml, thời gian nằm viện sau mổ trung bình 2,3 
ngày; tác giả Kirby(3) thực hiện 25 trường hợp với 
thời gian phẫu thuật trung bình là 161ph, lượng 
máu mất trong mổ trung bình 250ml, thời gian 
nằm viện sau mổ trung bình 7,1 ngày; tác giả 
Walker(15) thực hiện 159 trường hợp với thời gian 
phẫu thuật trung bình 130ph. Nghiên cứu của 
chúng tôi về lượng máu mất trong mổ và thời 
gian nằm viện sau phẫu thuật cũng tương đương 
với các tác giả trên; về thời gian phẫu thuật của 
chúng tôi dài hơn so với các tác giả khác. Tuy 
nhiên, đây là bước đầu chúng tôi áp dụng phẫu 
thuật nội soi để cắt thùy phổi nên những trường 
hợp đầu tiên thực hiện phẫu thuật rất lâu, và thời 
gian phẫu thuật được rút ngắn dần cho những 
trường hợp tiếp theo. Do vậy, thời gian phẫu 
thuật phụ thuộc rất nhiều vào đường cong huấn 
luyện. Chúng tôi tin rằng với số lượng bệnh nhân 
lớn hơn trong các báo cáo tiếp theo của chúng tôi, 
thời gian phẫu thuật sẽ rút ngắn hơn đáng kể. 
Về tai biến và biến chứng, nghiên cứu của 
chúng tôi có 1 trường hợp chuyển sang mổ mở vì 
khó khăn về mặt kỹ thuật, 1 trường hợp tràn khí 
màng phổi do xì khí từ nhu mô phồi vùng rãnh 
liên thùy đòi hỏi phải nội soi lồng ngực khâu chổ 
xì khí và 1 trường hợp tràn khí – dịch màng phổi 
sau phẫu thuật 3 tuần và chỉ cần điều trị bằng 
chọc hút khí - dịch màng phổi. Không trường hợp 
nào rách ĐM hay TM phổi gây chảy máu lượng 
lớn đòi hỏi phải mở ngực khẩn cấp, không ghi 
nhận các tai biến và biến chứng khác như: chảy 
máu sau mổ, viêm phổi, xẹp phổi, nhiểm trùng 
vết mổ Tác giả Jesus Loscertales(6) từ năm 
1993 đến 2007 thực hiện 260 trường hợp cắt thùy 
phổi nội soi trong đó: 76 trường hợp thùy trên 
phổi phải, 49 trường hợp thùy trên phổi trái, 42 
trường hợp thùy dưới phổi trái, 41 trường hợp 
thùy dưới phổi phải, 11 trường hợp thùy giữa, 8 
trường hợp cắt 2 thùy giữa và dưới, 9 trường hợp 
cắt thùy giữa và trên. Thời gian phẫu thuật trung 
bình 95 phút, chuyển mổ hở 9,2% (24 trường 
hợp) trong đó 12 trường hợp chảy máu, 11 trường 
hợp khó khăn về mặt kỹ thuật. Thời gian nằm 
viện trung bình sau phẫu thuật là 4,1 ngày. Từ 
1994 đến 2002, tác giả Akinori Iwasaki(1) thực 
hiện phẫu thuật 100 trường hợp cắt thùy phổi qua 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 102 
nội soi lồng ngực, không biến chứng hay tử vong 
chu phẫu, có 3 trường hợp chuyển mổ hở trong 
đó: 1 trường hợp chảy máu không kiểm soát được 
qua nội soi, 2 trường hợp khó khăn về mặt kỹ 
thuật. Daniel(4) và cộng sự báo cáo 110 trường hợp 
cắt thùy phổi nội soi, tỷ lệ chuyển mổ mở là 1,8%; 
tử vong chu phẫu là 3,6%, không tai biến trong 
mổ. Nghiên cứu của chúng tôi với số liệu còn nhỏ 
nên các biến chứng được ghi nhận không đáng kể 
khi so sánh với các tác giả khác, điều này có thể do 
bước đầu áp dụng phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi 
nên chúng tôi chọn lựa bệnh nhân với khối u phổi 
gọn gàng, nằm ngoại vi và không hình ảnh xâm 
lấn mạch máu lớn vùng rốn phổi; không có bệnh lý 
nội khoa kèm theo, nên phẫu thuật được thực hiện 
dể hơn và ít biến chứng hơn. Tuy nhiên, thời gian 
gần đây chúng tôi cũng dần dần mở rộng chỉ định 
cho một số trường hợp giai đoạn IIIA. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 32 
trường hợp kèm hạch trung thất và rốn phổi đều 
được chúng tôi nạo hạch triệt để bằng phẫu thuật 
nội soi; về mặt kỹ thuật đa số các tác giả đều cho 
rằng phẫu thuật được thực hiện bởi phẫu thuật 
viên có kỹ năng thì việc cắt thùy phổi bao gồm cả 
nạo hạch như phẫu thuật mở tiêu chuẩn. Tác giả 
Shigemura(11) chứng minh hiệu quả của việc nạo 
hạch trung thất qua nội soi cũng như các báo cáo 
trước đây cũng khẳng định điều này(4,13). Tác giả 
Shiraishi(12) cũng cho rằng về mặt kỹ thuật, phẫu 
thuật nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch tương 
đương như phẫu thuật mở tiêu chuẩn. Tác giả 
Sugi(13) và cộng sự cũng cho thấy không có sự 
khác nhau về tỷ lệ sống còn khi so sánh với phẫu 
thuật mở trước đây: 90% so với 93% sau 3 năm 
và 90% so với 85% sau 5 năm. Các biến chứng 
sau phẫu thuật cũng không có sự khác biệt giữa 
hai nhóm phậu thuật nội soi và phẫu thuật mở 
ngực kinh điển ngoại trừ báo cáo của Kirby có 
một vài trường hợp xì khí hơn 4 ngày(7). Về kết 
quả trung hạn của phẫu thuật nội soi lồng ngực 
cắt thùy phổi và nạo hạch, tỷ lệ sống còn sau 36 
tháng theo dõi là 94,2%, tái phát và di căn xa 
7,6%. So với các tác giả khác tỷ lệ sống còn sau 3 
năm trong nghiên cứu của Lewis(8) là 92%, 
Sugi(13) là 90%; nghiên cứu của chúng tôi cũng 
tương đương như của các tác giả nói trên và tỷ lệ 
này cũng tương đương so với mổ mở kinh điển. 
Vì vậy, có thể cho rằng phẫu thuật nội soi lồng 
ngực có thể thay thế phẫu thuật mở kinh điển 
trong các trường hợp ung thư phổi giai đoạn sớm. 
Tất cả 52 trường hợp của chúng tôi chỉ cần 
dùng NSAID dạng chích kèm paracetamol truyền 
tĩnh mạch trong 2 ngày đầu sau mổ và chuyển 
sang paracetamol uống trong 3 ngày tiếp theo; 
Nhiều báo cáo cho thấy phẫu thuật nội soi với 
nhiều ưu điểm như tính thẫm mỹ cao với vết mổ 
nhỏ, không banh kéo xương sườn nên ít đau sau 
phẫu thuật, thời gian phục hồi ngắn, rút ngắn thời 
gian nằm viện: báo cáo của tác giả Sugiura cho 
thấy thời gian cần sử dụng giảm đau ngoài màng 
cứng cho bệnh nhân rất ngắn so với phẫu thuật 
mở(14); trong khi Demmy và Curtis cho rằng đau 
sau phẫu thuật ít hơn và thời gian hồi phục của 
bệnh nhân ngắn hơn đặc biệt với những bệnh nhân 
nguy cơ cao(5). So với mổ mở kinh điển tất cả bệnh 
nhân đều được giảm đau ngoài màng cứng kết hợp 
với thuốc giàm đau dạng chích khác trong 3 ngày 
đầu sau mổ. Điều này cho thấy mức độ đau sau mổ 
của phẫu thuật noi soi giảm rất nhiều; Vì phẫu 
thuật nội soi lồng ngực không banh kéo, mở rộng 
khoang liên sườn như trong mổ mở là nguyên 
nhân của đau sau phẫu thuật nên phẫu thuật nội soi 
ít đau sau mổ rất nhiều so với mổ mở. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi 
cho thấy nhiều ưu điểm: vết mổ nhỏ, thẫm mỹ 
cao, không banh kéo xương sườn nên ít đau sau 
mổ, thời gian phục hồi và nằm viện ngắn Hiện 
nay, kỹ thuật này đang được áp dụng rộng rãi và 
tính khả thi về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong điều 
trị ung thư cũng đã được nhiều tác giả cố gắng 
chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu 
bước đầu của chúng tôi tuy số liệu còn ít, nhưng 
cũng góp phần chứng minh những ưu điểm này. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 103 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Akinori Iwasaki. Results of video-
assisted thoracic surgery for stage I/II non-small 
cell lung cancer. European Journal of Cardio-
thoracic Surgery 26 (2004) 158–164. 
2. Chad j. Davis and Charles j. 
Filipi: “ A history of Endoscopy Surgery”. 
Princles of Laparoscopic Surgery. Springer – 
Verlag. 1997: 3-20. 
3. Craig SR, Leaver HA, Yap PL et al. 
Acute phase responses following minimal access 
and conventional thoracic surgery. Eur J 
Cardiothorac Surg 2001;20:455– 463. 
4. Daniels LJ, Balderson SS, 
OnaitisMWet al. Thoracoscopic lobectomy: A safe 
and effective strategy for patients with stage I lung 
cancer. Ann Thorac Surg 2002;74:860–864. 
5. Demmy TL, Curtis JJ. Minimally 
invasive lobectomy directed toward frail and 
high-risk patients: A case-control study. Ann 
Thorac Surg 1999; 68:194 –200. 
6. Jesus Loscertales et al. Video-
Assisted Surgery for Lung Cancer. State of the 
Art and Personal Experience. Asian Cardiovasc 
Thorac Ann 2009;17:313–26. 
7. Kirby TJ, Mack MJ, Landreneau 
RJ et al. Lobectomy—video-assisted thoracic 
surgery versus muscle-sparing thoracotomy. A 
randomized trial. J Thorac Cardiovasc Surg 
1995;109:997–1002. 
8. Lewis RJ, Caccavale RJ. Video-
assisted thoracic surgical non-rib spreading 
simultaneously stapled lobectomy 
(VATS(n)SSL). Semin Thorac Cardiovasc Surg 
1998;10:332–339. 
9. McKenna RJ Jr.VATS Lobectomy 
with mediastinal lymph node sampling or 
dissection. Technique of Pulmonary Resection . 
Chest Surgery Clinis of North Amercan. W.B 
Saunders Company. Vol 5. No.2. 1995: 223.232. 
10. Piergiorgio Solli, Indications and 
Developments of Video-Assisted Thoracic 
Surgery in the Treatment of Lung Cancer. The 
Oncologist 2007;12:1205–1214. 
11. Shigemura N, Akashi A, Funaki S et 
al. Long-term outcomes after a variety of video-
assisted thoracoscopic lobectomy approaches for 
clinical stage IA lung cancer: A multi-
institutional study. J Thorac Cardiovasc Surg 
2006;132:507–512. 
12. Shiraishi T et al. A Completely 
Thoracoscopic Lobectomy Segmentectomy for 
Primary Lung Cancer – Technique Feasibility and 
Advantages. Thorac Cardiov Surg 2006; 54: 
202–207. 
13. Sugi K, Sudoh M, Hirazawa K et al. 
Intrathoracic bleeding during videoassisted 
thoracoscopic lobectomy and segmentectomy. 
Kyobu Geka 2003;56:928 –931. In Japanese. 20 
14. Sugiura H, Morikawa T, KajiM et 
al. Long-term benefits for the quality of life after 
video-assisted thoracoscopic lobectomy in 
patients with lung cancer. Surg Laparosc Endosc 
1999;9:403– 408. 21 
15. Walker WS, Codispoti M, Soon SY 
et al. Long-term outcomes following VATS 
lobectomy for non-small cell bronchogenic 
carcinoma. Eur J Cardiothorac Surg 
2003;23:397– 402. 23. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_cat_thuy_phoi_qua_noi_soi_long_n.pdf