Đánh giá kết quả phá thai nội khoa tuổi thai ba tháng giữa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012

mục tiêu: đánh giá hiệu quả phá thai nội khoa tuổi

thai ba tháng giữa tại BVPSTW năm 2012, Tìm hiểu tỷ

lệ tai biến và độ an toàn của phương pháp. Đối tượng

và phương pháp: 144 thai phụ tuổi thai từ 13 đến

22 tuần, đến phá thai tại BVPSTW từ 01/01/2012 đến

30/06/2012, áp dụng phác đồ MSP đơn thuần. Thai 13

- 17 tuần: đặt âm đạo 200 mcg MSP mỗi 4 giờ, tối đa

5 liều đến khi thai sẩy. Thai 18 - 22 tuần: đặt âm đạo

200 mcg MSP mỗi 4 giờ, tối đa 5 liều đến khi thai sẩy.

Mỗi đợt thuốc không quá 3 ngày, tối đa 3 đợt, khoảng

cách giữa các đợt 5 -7 ngày. Kết quả: tỷ lệ thành công:

97,2%, tỷ lệ nạo buồng tử cung: 86,1%, tỷ lệ tai biến:

1,4%. Kết luận: phá thai nội khoa ba tháng giữa bằng

MSP đơn thuần có hiệu quả và độ an toàn cao, tỷ lệ nạo

buồng tử cung sau sổ thai còn cao, cần có thêm các

nghiên cứu nhằm làm giảm tỷ lệ can thiệp vào buồng

tử cung sau sổ thai

pdf 4 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phá thai nội khoa tuổi thai ba tháng giữa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả phá thai nội khoa tuổi thai ba tháng giữa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012

Đánh giá kết quả phá thai nội khoa tuổi thai ba tháng giữa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
121
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 121 - 124, 2013
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
PHÁ THAI NỘI KHOA TUỔI THAI BA THÁNG GIỮA 
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2012
nguyễn Thị Lan hương, Vũ Văn Du, phó Thị Tố Tâm, nguyễn Thị yến Lê
 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
tóm tắt
mục tiêu: đánh giá hiệu quả phá thai nội khoa tuổi 
thai ba tháng giữa tại BVPSTW năm 2012, Tìm hiểu tỷ 
lệ tai biến và độ an toàn của phương pháp. Đối tượng 
và phương pháp: 144 thai phụ tuổi thai từ 13 đến 
22 tuần, đến phá thai tại BVPSTW từ 01/01/2012 đến 
30/06/2012, áp dụng phác đồ MSP đơn thuần. Thai 13 
- 17 tuần: đặt âm đạo 200 mcg MSP mỗi 4 giờ, tối đa 
5 liều đến khi thai sẩy. Thai 18 - 22 tuần: đặt âm đạo 
200 mcg MSP mỗi 4 giờ, tối đa 5 liều đến khi thai sẩy. 
Mỗi đợt thuốc không quá 3 ngày, tối đa 3 đợt, khoảng 
cách giữa các đợt 5 -7 ngày. Kết quả: tỷ lệ thành công: 
97,2%, tỷ lệ nạo buồng tử cung: 86,1%, tỷ lệ tai biến: 
1,4%. Kết luận: phá thai nội khoa ba tháng giữa bằng 
MSP đơn thuần có hiệu quả và độ an toàn cao, tỷ lệ nạo 
buồng tử cung sau sổ thai còn cao, cần có thêm các 
nghiên cứu nhằm làm giảm tỷ lệ can thiệp vào buồng 
tử cung sau sổ thai.
từ khóa: Sẩy thai, Misoprostol.
ABStRACt
Objective: to assess the efficiency and safety of the 
misoprostol (MSP) alone in use for medical abortion 
at the second trimester pregnancy were estimated in 
the National hospital of Obstetrics and Gynecology. 
materials and methods: the cross sectional study is 
applied for 144 pregnant women undergoing abortion 
at 13 - 22 weeks of gestation (from 01/01/2012 to 
30/06/2012) received MSP only. From 13 to 17 weeks of 
gestation: MSP was intravaginal administered 200 mcg 
every 4 hours up to 5 times until abortion. From 18 to 22 
weeks of gestation: MSP was intravaginal administered 
200 mcg every 6 hours up to 5 times until abortion. 
Event each series not exceeding 3 days, maximum 3 
series, serial intervals: 5 – 7 days. Results: Success rate: 
97.2%, uterine curettage rate: 86.1%, complication rate: 
1.4%. Conclusions: medical abortion by MSP alone at 
the second trimester pregnancy has high success rate 
and safe. The rate of uterine curettage is high.
Keywords: Abortion, Misoprostol.
Đặt vấn Đề
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ phá 
thai cao trong khu vực và trên thế giới. Tỷ lệ phá thai/
tổng số đẻ chung toàn quốc là 52%, tỷ lệ phá thai là 
83/1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và tỷ suất phá 
thai là 2,5 lần/phụ nữ [1]. 
Phá thai ba tháng giữa chiếm 10% – 15% tổng số 
các trường hợp phá thai nhưng lại dẫn đến hơn 2/3 
tai biến nặng. Có nhiều phương pháp phá thai ba 
tháng giữa, nhưng gần đây phương pháp phá thai 
nội khoa đã được nghiên cứu và áp dụng tại nhiều cơ 
sở y tế và ngày càng trở nên thường qui trên toàn thế 
giới. Đây là một khuynh hướng mới trong thực hành 
sản khoa, ngày càng hướng tới các biện pháp ít can 
thiệp vào cơ thể người phụ nữ trong quá trình điều 
trị, làm giảm tỷ lệ tử vong và tai biến do các thủ thuật 
phá thai gây ra. Mifepristone và Misoprostol (MSP) là 
những thuốc thường được sử dụng để gây sẩy thai, 
mang lại hiệu quả và độ an toàn cao. Đối với phá thai 
to trên 3 tháng, phác đồ MSP đơn thuần đã được áp 
dụng rộng rãi ở cả trong và ngoài nước, cho thấy đây 
là một phương pháp hiệu quả, an toàn và tiện lợi. Chỉ 
với MSP mà đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra 
nhiều phác đồ khác nhau để mong muốn tìm ra một 
phác đồ ưu việt nhất.
Tại Bệnh viện phụ sản Trung ương, MSP được sử dụng 
trong phá thai quý II từ năm 1999. Các tác giả đã lựa chọn 
nhiều phác đồ khác nhau, tỷ lệ thành công khá cao, từ 
83% - 97%. Gần đây, với Hướng dẫn quốc gia về các dịch 
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2009 [2], phá thai ba 
tháng giữa đã có cơ sở để được thực hiện một cách rộng 
rãi, bài bản hơn và dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc. Để 
đánh giá hiệu quả của phương pháp phá thai bằng MSP 
đơn thuần này, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu kết quả 
phá thai nội khoa ba tháng giữa tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương năm 2012 với hai mục tiêu:
Phá thai hay gặp nhất ở lứa tuổi 20 – 29, tuổi thai 
18 – 22 tuần. Tỷ lệ chưa có chồng khá cao: 40%. Lý do 
phá thai do thai bất thường cao nhất: 43,1%, do chưa 
có chồng: 38,2%. 
2. KếT quả Điều Trị
Bảng 2. Tỷ lệ thành công
Tỷ lệ thành công cao: 97,2%.
Bảng 3. Tỷ lệ thành công theo đợt
Phần lớn thai sẩy sau một đợt điều trị. Trong số 
140 trường hợp sẩy thai thành công, có 92,1% thai 
sẩy sau một đợt MSP. Thời gian gây sẩy thai trung 
bình là 36,44 ± 26,78 giờ. Liều MSP trung bình gây sẩy 
thai là 6,45 ± 4,02 viên.
nguyễn Thị Lan hương, Vũ Văn Du, phó Thị Tố TÂM, nguyễn Thị yến LêPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
122
1. Đánh giá hiệu quả của phương pháp phá thai 
nội khoa bằng MSP đơn thuần tuổi thai ba tháng giữa.
2. Tìm hiểu tỷ lệ tai biến nhằm đánh giá độ an toàn 
của phương pháp.
Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
1. Đối Tượng nghiên cứu:
Tất cả các thai phụ có chỉ định phá thai hoặc xin 
phá thai, tuổi thai từ 13 đến 22 tuần, được phá thai 
bằng MSP đơn thuần tại khoa Điều trị theo yêu cầu 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/01/2012 đến 
30/06/2012.
2. Phương PháP nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 
bằng phương pháp hồi cứu số liệu trên hồ sơ bệnh 
án có sẵn.
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu: n = 144
phương pháp tiến hành: Thuốc nghiên cứu: MSP 
viên nén, hàm lượng 200 mcg.
mô tả phác đồ điều trị: 
Thai 13 – 17 tuần: mỗi 4 giờ đặt âm đạo 1 viên 
MSP 200 mcg cho đến khi thai sẩy, liều tối đa 5 viên 
một ngày.
Thai 18–22 tuần: mỗi 6 giờ đặt âm đạo 1 viên MSP 
200 mcg cho đến khi thai sẩy, liều tối đa 3 viên một ngày.
Mỗi đợt MSP không kéo dài quá ba ngày, tối đa 
dùng 3 đợt, khoảng cách giữ các đợt là 5 - 7 ngày, có 
thể cho bệnh nhân về phép giữa các đợt.
- Đánh giá kết quả:
Thành công: Khi thai được tống ra khỏi buồng tử 
cung chỉ bằng MSP (được xác định bằng lâm sàng và 
siêu âm).
Thất bại: khi dùng 3 đợt MSP mà thai không sẩy, 
khi phải chuyển phương pháp điều trị khác, khi xảy 
ra tai biến.
- Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0.
Kết quả nghiên Cứu 
1. mộT số Đặc Điểm của Đối Tượng nghiên cứu
Bảng 1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
TT Đặc điểm thông tin chung n %
1 nhóm tuổi
< 20 24 16,7
20 – 24 41 28,5
25 – 29 40 27,8
30 – 34 21 14,6
35 – 39 10 6,9
≥ 40 8 5,6
X ± SD 26,17 ± 6,78
Kết quả điều trị n %
Thành công 140 97,2
Thất bại 4 2,8
Tổng 144 100,0
Đợt sảy thành công n % Thời gian gây sảy (giờ) Liều MSp (viên)
Đợt i 129 92,1 31,24 ± 18,61 5,83 ± 3,28
Đợt ii 7 5,0 80,59 ± 13,69 13,14 ± 5,61
Đợt iii 4 2,9 127,10 ± 37,61 21,75 ± 3,95
Tổng 140 100,0 36,44 ± 26,78 6,45 ± 4,02
p (i-ii) p < 0,001 p < 0,001
Min - max 6,33 – 164 2 - 24
2 Tuổi thai
13 - 17 41 28,5
18 – 22 103 71,5
3 Địa dư
hà nội 60 41,7
Tỉnh khác 84 58,3
4 Tình trạng hôn nhân
Có chồng 85 59,0
Chưa chồng 59 40,0
5 Tiền sử sinh đẻ
Chưa có con 90 62,5
1 con 27 18,7
2 con 22 15,3
≥ 3 con 05 3,5
6 Tiền sử nạo phá thai
0 lần 89 61,8
1 lần 27 18,8
≥ 2 lần 28 19,4
7 Lý do phá thai
Chưa chồng 55 38,2
Đủ 2 con 18 12,5
Thai bất thường 62 43,1
Khác 9 6,2
học sinh, sinh viên 37 25,7
Công nhân 18 12,5
Cán bộ 17 11,8
Làm ruộng 19 13,2
Tự do 53 36,8
Bảng 4. hình thức sẩy thai
Tỷ lệ sẩy thai phải kiểm soát tử cung bằng dụng cụ 
khá cao: 86,1%. Hình thức sẩy thai giữa các đợt không 
có sự khác biệt có ý nghĩa với p>0,05.
Bảng 5. Liên quan giữa tỷ lệ thành công của các đợt điều trị với tuổi thai
Sau các đợt điều trị, tỷ lệ thành công không có sự 
khác biệt giữa các nhóm tuổi thai với p>0,05.
3. Tai biến
Bảng 6. Tỷ lệ tai biến và liên quan giữa tỷ lệ tai biến với tuổi thai
Tỷ lệ tai biến chung: 1,4%, gồm 1 trường hợp băng 
huyết, 1 trường hợp rách cổ tử cung, đều gặp ở tuổi 
thai 13 – 17 tuần.
Bảng 7. Tỷ lệ tai biến liên quan với số đợt MSp
Cả hai trường hợp tai biến đều xảy ra ở đợt điều 
trị đầu tiên.
Bàn luận
Qua nghiên cứu 144 khách hàng đến phá thai 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
123
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 121 - 124, 2013
Đợt i Đợt ii Đợt iii Tổng
n % n % n % n %
hoàn toàn 19 14,3 0 0 1 25,0 20 13,9
Kiểm soát tử cung 114 85,7 7 100 3 75,0 124 86,1
Tổng 133 100,0 7 100,0 4 100,0 144 100,0
p p>0,05
Đợt MSp
hình thức sảy
13 - 17 18 - 22 Tổng
n % n % n %
Không 39 95,2 103 100,0 142 98,6
Băng huyết 1 2,4 0 0 1 0,7
Vỡ TC, rách CTC 1 2,4 0 0 1 0,7
Choáng 0 0 0 0 0 0
Tổng 41 100,0 103 100,0 144 100,0
Tuổi thai
Tai biến
Đợt i Đợt ii Đợt iii
n % n % n %
Không 131 98,4 7 100,0 4 100,0
Băng huyết 1 0,8 0 0 0 0
Vỡ TC, rách CTC 1 0,8 0 0 0 0
Choáng 0 0 0 0 0 0
Tổng 133 100,0 7 100,0 4 100,0
Đợt MSp
Tai biến
13 -17 18 - 22
n % n %
Đợt i 36 87,8 97 94,2
Đợt ii 3 7,3 4 3,9
Đợt iii 2 4,9 2 1,9
Tổng 41 100 103 100
p p>0,05
Tuổi thai 
Đợt MSp
ở tuổi thai từ 13 đến 22 tuần, dùng phương pháp 
phá thai bằng MSP đơn thuần, áp dụng theo phác 
đồ của Hướng dẫn chuẩn quốc gia năm 2009, 
chúng tôi nhận thấy phá thai hay gặp nhất ở lứa 
tuổi 20 - 29. Nhóm tuổi vị thành niên cũng chiếm 
tỷ lệ khá cao: 16,7%. Tầng lớp học sinh, sinh viên 
chiếm 25,7%. Tỷ lệ chưa chồng khá cao: 40%. Như 
vậy việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo 
dục về giới tính cũng như các biện pháp kế hoạch 
hóa gia đình nhằm làm giảm tỷ lệ phá thai to ở lứa 
tuổi thanh niên và vị thành niên là hết sức quan 
trọng, cần nhận được sự quan tâm hơn nữa của 
toàn xã hội.
 Tuổi thai 18 – 22 tuần chiếm tỷ lệ 71,5%, cao 
hơn so với tuổi thai 13 -17 tuần. Ở thời điểm đầu 
năm 2012, tại BVPSTƯ vẫn còn áp dụng khá phổ 
biến biện pháp nong và gắp cho tuổi thai nhỏ 
hơn 17 tuần. Đây là lý do số trường hợp phá thai 
nội khoa từ 18 - 22 tuần chiếm tỷ lệ ưu thế.
Lý do phá thai do thai bất thường cao nhất: 
43,1%, cao hơn so với kết quả nghiên cứu của một 
số tác giả như: Phan Thanh Hải (2006): 27,92% [3], 
Nguyễn Thị Lan Hương (2011): 13,08% [4]. Với 
sự tiến bộ vượt bậc của các phương pháp chẩn 
đoán trước sinh, tỷ lệ phá thai do thai bất thường 
đã tăng lên một cách rõ rệt, do đó đã góp phần 
làm tăng đáng kể các trường hợp đình chỉ thai ba 
tháng giữa.
Tỷ lệ thành công của phương pháp là 97,2%. 
Có nhiều phác đồ MSP đơn thuần khác nhau, 
cách đánh giá của các tác giả về sự thành công 
của mỗi phương pháp cũng khác nhau, nhưng so 
sánh với các tác giả trong và ngoài nước thì kết 
quả đã đạt được là rất cao. Tỷ lệ này cao hơn so 
với một số nghiên cứu của các tác giả: Dickinson 
(2003): thành công 85,7% [5], Bunxu Inthapatha 
(2007): 91,2% [6], Nguyễn Thị Lan Hương (2011): 
75,38% [4].
Tỷ lệ sẩy thai phải kiểm soát tử cung bằng 
dụng cụ chiếm 86,1%. Rất nhiều nghiên cứu trên 
thế giới chỉ rõ rằng tỷ lệ nạo buồng tử cung sau 
sẩy không cao, chỉ dao động trong khoảng 8% - 
20%. Theo Gilbert (2001), tỷ lệ nạo buồng tử cung 
của hai nhóm nghiên cứu dùng MSP đơn thuần 
cho tuổi thai ba tháng giữa là 10,8% và 8,2% [7]. 
Theo Feldman (2003), tỷ lệ nạo buồng tử cung là 
18% và 13% [8]. Trái lại các nghiên cứu trong nước 
cho thấy tỷ lệ nạo buồng tử cung trong phá thai 
nội khoa ba tháng giữa rất cao, thậm chí trở thành 
thường qui ngay sau khi sổ thai ở nhiều cơ sở y 
nguyễn Thị Lan hương, Vũ Văn Du, phó Thị Tố TÂM, nguyễn Thị yến Lê PHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
124
tế. Kiểm soát tử cung chiếm tỷ lệ 98,8% - 100% 
theo báo cáo của các tác giả Bùi Sương – Nguyễn 
Huy Bạo (2002) [9], Lê Hoài Chương (2005) [10], 
Bunxu Inthapatha (2006) [6]. Kết quả của chúng 
tôi xác nhận tỷ lệ nạo buồng tử cung sau sổ thai 
còn khá cao. Do đó, cần có thêm những nghiên 
cứu trong nước để chứng minh việc nạo lại buồng 
tử cung thường qui ngay sau sổ thai trong phá 
thai ba tháng giữa là không bắt buộc, chỉ nên nạo 
trong những trường hợp cần thiết. Điều này sẽ 
làm hạn chế những can thiệp vào buồng tử cung, 
làm giảm tỷ lệ tai biến và những nguy cơ về vấn 
đề vô sinh sau này cho người phụ nữ.
Các tai biến có thể xảy ra trong phá thai to là 
choáng, băng huyết, tổn thương đường sinh dục 
và các tạng xung quanh, nhiễm khuẩn, thậm chí 
tử vong. Phá thai nội khoa đã hạn chế đến mức tối 
đa các tai biến này. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, tỷ lệ tai biến chung là 1,4%, gồm một trường 
hợp băng huyết phải truyền máu, một trường hợp 
rách cổ tử cung chảy máu phải khâu phục hồi. Cả 
hai trường hợp này đều xảy ra ở tuổi thai 13 – 
17 tuần và trong đợt điều trị MSP đầu tiên. Điều 
này có vẻ trái ngược với các quan điểm cho rằng, 
tuổi thai càng lớn, liều MSP càng cao càng dễ tai 
biến. Tuy nhiên vì số lượng bệnh nhân nghiên cứu 
không lớn lắm, số trường hợp tai biến ít nên mối 
liên quan giữa tai biến với tuổi thai và số đợt điều 
trị chưa thực sự có ý nghĩa. Tỷ lệ tai biến 1,4% là 
một tỷ lệ rất thấp, phù hợp với kết quả nghiên cứu 
của các tác giả trong và ngoài nước, dao động ở 
mức 0% - 3,89%. Tuy nhiên cả hai trường hợp trên 
đều ở mức độ có thể kiểm soát được và không 
nghiêm trọng. Tất cả các khách hàng đều được tư 
vấn đầy đủ về quy trình phá thai, tác dụng phụ 
của thuốc, được theo dõi và chăm sóc chu đáo. Vì 
vậy họ đều thấy rất yên tâm trong suốt quá trình 
điều trị, điều đó cũng góp phần tạo nên sự thành 
công của phương pháp.
Kết luận
1. Phác đồ MSP đơn thuần trong phá thai ba 
tháng giữa tại BVPSTW áp dụng theo Hướng dẫn 
quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh 
sản năm 2009 có tỷ lệ thành công cao: 97,2%. Tỷ 
lệ nạo buồng tử cung còn kh¸ cao: 86,1%, do đó 
cần có thêm các nghiên cứu nhằm làm giảm tỷ lệ 
can thiệp vào buồng tử cung sau sổ thai.
2. Tỷ lệ tai biến thấp: 1,4%, chứng minh độ an toàn 
cao của phương pháp phá thai ba tháng giữa bằng MSP.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vương Tiến Hòa. Làm mẹ an toàn: những thành 
công và thách thức. Những vấn đề thách thức trong 
sức khỏe sinh sản hiện nay. Nhà xuất bản Y học. 
2004, tr. 7-14.
2. Bộ Y tế. Phá thai bằng thuốc từ tuần 13 đến hết 
tuần 22. Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ 
chăm sóc sức khỏe sinh sản. 2009, tr. 378-380.
3. Phan Thanh Hải. Nghiên cứu một số lý do, đánh 
giá hiệu quả của Misoprostol trong phá thai từ 17 
đến 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 
2008. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II. 
Trường Đại học Y Hà Nội. 2008. 
4. Nguyễn Thị Lan Hương. Nghiên cứu hiệu quả 
phá thai từ 13 đến 22 tuần của misoprostol đơn 
thuần và mifepriston kết hợp misoprostol. Luận án 
tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 2011.
5. Dickinson JE, Evans SF. A comparison of oral 
misoprostol with vaginal misoprostol administration 
in second trimester pregnancy termination for fetal 
abnormality. Obstet. Gynecol. 2003, 101(6), pp. 1294-1299.
6. Bunxu Inthapatha. Nghiên cứu sử dụng 
Misoprostol đơn thuần trong phá thai với tuổi thai từ 
17-24 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2006. 
Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2007.
7. Gilbert A, Reid R. A randomised trial of oral versus 
vaginal administration of misoprostol for the purpose 
of mid-trimester termination of pregnancy. Aust. N. L. 
J .Obstet. Gynaecol. 2001, 41(4), pp. 407-410.
8. Feldman DM, Borgida AF, Rodis JF, Leo MV, 
Cambell WA. A randomized comparison of two 
regimens of misoprostol for second-trimester 
pregnancy termination. Am. J. Obstet. Gynecol. 
2003, 189 (3), pp. 710-713.
9. Bùi Sương, Nguyễn Huy Bạo. Nhận xét qua 439 
tr¬ường hợp phá thai 13 đến 18 tuần tại Bệnh viện 
Phụ sản Hà Nội. Nội san Khoa học công nghệ y học 
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 2002.
10. Lê Hoài Chương. Nghiên cứu tác dụng làm mềm 
mở cổ tử cung và gây chuyển dạ của misoprostol. 
Luận án tiến sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2005.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_pha_thai_noi_khoa_tuoi_thai_ba_thang_giua_t.pdf