Đánh giá kết quả điều trị vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp Swim-Out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn

Kết quả điều trị các trường hợp vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị

dạng nặng - SOAT (severe-oligo-astheno-teratozoospermia) sau xuất

tinh chưa được đề cập trong các nghiên cứu trong nước.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các trường

hợp vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp

swim out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn tại Bệnh viện Phụ sản

Trung ương từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2017.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt

ngang gồm 30 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm có nguyên nhân vô sinh do

chồng tinh trùng xuất tinh có mật độ tinh trùng < 0,1="" triệu/ml,="">< 5%="">

trùng di động và/hoặc < 4%="" tinh="" trùng="" có="" hình="" dạng="" bình="">

Kết quả: Tỷ lệ thụ tinh 76,45%. Tỷ lệ phôi phân chia 94.43 ± 11.31. Tỷ

lệ phôi tốt 55.56 ± 32.69. Tỷ lệ có thai chuyển phôi tươi 41,7% (10/24),

tỷ lệ có thai chuyển phôi đông lạnh 66,7% (4/6).

Kết luận: Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các trường hợp vô

sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng ở trung tâm Hỗ trợ sinh sản

Bệnh viện Phụ sản Trung ương khá tốt về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ có thai

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp Swim-Out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả điều trị vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp Swim-Out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn

Đánh giá kết quả điều trị vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp Swim-Out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
NGUYỄN XUÂN HỢI, NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
142
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nguyễn Xuân Hợi, Nguyễn Thị Liên Hương 
Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH NAM
DO TINH TRÙNG ÍT YẾU DỊ DẠNG NẶNG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP SWIM-OUT
VÀ TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Xuân Hợi, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: Tinh trùng ít yếu dị 
dạng nặng, kết quả thụ tinh 
ống nghiệm. 
Keyword: SOAT, IVF outcome.
Tóm tắt
Kết quả điều trị các trường hợp vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị 
dạng nặng - SOAT (severe-oligo-astheno-teratozoospermia) sau xuất 
tinh chưa được đề cập trong các nghiên cứu trong nước.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các trường 
hợp vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng bằng phương pháp 
swim out và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2017. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt 
ngang gồm 30 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm có nguyên nhân vô sinh do 
chồng tinh trùng xuất tinh có mật độ tinh trùng < 0,1 triệu/ml, < 5% tinh 
trùng di động và/hoặc < 4% tinh trùng có hình dạng bình thường. 
Kết quả: Tỷ lệ thụ tinh 76,45%. Tỷ lệ phôi phân chia 94.43 ± 11.31. Tỷ 
lệ phôi tốt 55.56 ± 32.69. Tỷ lệ có thai chuyển phôi tươi 41,7% (10/24), 
tỷ lệ có thai chuyển phôi đông lạnh 66,7% (4/6). 
Kết luận: Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các trường hợp vô 
sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng ở trung tâm Hỗ trợ sinh sản 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương khá tốt về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ có thai.
Từ khóa: Tinh trùng ít yếu dị dạng nặng, kết quả thụ tinh ống nghiệm.
Abstract 
MALE INFERTILITY DUE TO SEVERE OLIGO-
ASTHENO-TETAROZOOSPERMIA TREATED BY SWIM 
OUT AND ICSI 
Recently, there are no study on the outcome of IVF/ICSI cycles 
using fresh ejaculated sperm from men with extreme SOAT (severe 
oligo-astheno-teratozoospermia) in Viet nam.
Objective: To investigate the IVF oucome after intracytoplasmic 
sperm injection (ICSI) using ejaculated extreme severe oligo-astheno-
teratozoospermia sperm in National Hospital of Obstetric and 
Gynecology from April to June 2017.: 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 142 - 145, 2017
143
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Materials and methods: A reprospective, cross-section study included 30 IVF/ICSI cycles using 
fresh ejaculated sperm from men with extreme SOAT with total sperm count < 0,1 mill/ml, < 5% rapid 
progressive type A motility and/or < 4% morphologically normal spermatozoa. 
Results: The fertilization rate 76,45%. The cleavage rate 94.43 ± 11.31%. The good embryo quality 
rate 55.56 ± 32.69%. The pregnancy rate (fresh embryo transfer) 41,7% (10/24), the pregnancy rate 
(frozen embryo transfer) 66,7% (4/6). 
Conclusions: The outcome of SOAT/ICSI cycles in National Hospital of Obstetric and Gynecology 
was quite good interms of fertilization and the pregnancy rates.
Key words: SOAT, IVF outcome.
1. Đặt vấn đề
Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intra 
cytoplasmic sperm injection- ICSI) hiện nay đang là 
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến nhất giúp những 
nam giới có chất lượng tinh trùng kém có thể có 
con của chính mình. Tỷ lệ vô sinh nam có tinh 
trùng ít yếu dị dạng nặng - SOAT (severe-oligo-
astheno-teratozoospermia) sau xuất tinh rất thấp 
nhưng hiện tại cũng không hiếm gặp. Thực hiện kỹ 
thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn với các 
trường hợp này vẫn luôn luôn là thách thức vì khả 
năng không tìm đủ tinh trùng. Vấn đề chính là với 
số lượng tinh trùng quá ít, kèm theo hình thái bất 
thường nhiều nên rất khó lựa chọn đủ tinh trùng có 
khả năng thụ tinh. Tỷ lệ thụ tinh thấp hơn hẳn với 
những mẫu tinh trùng ít nặng có mật độ < 1 triệu/
ml so với mẫu ít vừa (> 1 triệu/ml) (Hashimoto, 
2010) [1], với mẫu có tinh trùng bất thường nặng 
(Verza & Esteves, 2008) [2]. Hơn nữa, tỷ lệ làm tổ 
cũng giảm khi tinh trùng dị dạng nặng. (De Vos et 
al., 2003) [3]. Có nghiên cứu đã cho thấy có mối 
liên quan giữa mật độ tinh trùng thấp với nguy cơ 
cao sai sót trong quá trình phân chia giảm nhiễm 
hình thành tinh trùng. Tỷ lệ bất thường nhiễm sắc 
thể và mảnh vỡ DNA cũng tăng rõ trong các trường 
hợp tinh trùng ít yếu dị dạng nặng [4]. Tuy nhiên, 
thực tế, các nghiên cứu về mối liên quan tinh trùng 
ít yếu dị dạng nặng vẫn còn cho nhiều kết quả về 
phôi và tỷ lệ có thai khác nhau, do số tinh trùng tìm 
được dùng để tiêm tinh trùng vào bào tương noãn 
có mức độ bình thường hay bất thường rất khác 
nhau [5], [6], [7]. Ngoài ra, số lượng nghiên cứu 
cũng rất hạn chế vì các trường hợp tinh trùng kém 
nặng là khá hiếm.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên các 
trường hợp có mật độ < 0,1 triệu/ml. Chuẩn bị tinh 
trùng cho ICSI cho trong trường hợp này cần có kỹ 
thuật thích hợp, hiệu quả để sau lọc rửa không bị 
mất tinh trùng và có thể tìm hết được những tinh 
trùng sống có khả năng thụ tinh. Chúng tôi đã thực 
hiện kỹ thuật chuẩn bị đĩa swim-out (đĩa tìm tinh 
trùng) thường qui chuẩn bị cho SOAT/ ICSI từ năm 
2005, tuy nhiên chưa thực hiện nghiên cứu nào 
đánh giá kết quả của kỹ thuật này. Do vậy chúng 
tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu: Đánh giá 
kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của các trường 
hợp vô sinh nam do tinh trùng ít yếu dị dạng nặng 
bằng phương pháp swim out và tiêm tinh trùng 
vào bào tương noãn tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2017.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
1. Đối tượng: Nghiên cứu gồm 30 cặp vợ 
chồng vô sinh do chồng tinh trùng ít yếu dị dạng 
nặng - xuất tinh có mật độ tinh trùng < 0,1 triệu/
ml kết hợp < 5% tinh trùng di động và/hoặc < 4% 
tinh trùng có hình dạng bình thường; vợ không có 
nguyên nhân gây vô sinh trong thời gian 3 tháng 
NGUYỄN XUÂN HỢI, NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
144
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
từ tháng 4/2017-6/2017 tại Trung tâm hỗ trợ sinh 
sản, Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang.
2. Các bước tiến hành
Thực hiện qui trình thụ tinh trong ống nghiệm:
- Kích thích buồng trứng bằng phác đồ ngắn 
antagonist. Theo dõi sự phát triển của nang noãn 
bằng siêu âm và xét nghiệm nội tiết E2, Progesteron 
ngày 7 và ngày tiêm hCG. Gây trưởng thành noãn 
bằng 10 000 IU hCG khi có ít nhất 1 nang noãn 
18mm. Chọc hút noãn sau tiêm hCG 36-38 giờ.
- Chuẩn bị tinh trùng bằng phương pháp swim 
out: Các mẫu tinh trùng được rửa trong các tube 
5mlđáy tròn chứa 1 ml G-IVF (Vitrolife) quay ly tâm 
1500 vòng trong 15 phút để lấy cặn. Cặn thu được 
load vào giữa các cột môi trường phủ dầu trong 
đĩa petri 60mm (hình 1) trước ICSI 30 phút, ủ đĩa 
này trong tủ ấm 370C, CO2 6%. Nếu số lượng tinh 
trùng quá ít có thể chuẩn bị them nhiều đĩa petri 
như vậy để rà tìm hết tinh trùng trong cặn thu được.
- Thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào 
tương của noãn (ICSI). Kiểm tra thụ tinh sau 14-
18h. Chuyển 1-4 phôi ngày 3. Đông phôi toàn 
bộ cho các trường hợp quá kích buồng trứng hoặc 
phôi dư sau chuyển phôi tươi.
- Hỗ trợ pha hoàng thể.
- Thử β hCG 14 ngày sau chuyển phôi để xác 
định có thai và siêu âm theo dõi sự phát triển của thai.
Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong 
nghiên cứu
- Phôi chất lượng tốt: Phôi ngày 2 có 3-4 tế bào, 
bào tương sáng, tỷ lệ mảnh vỡ < 25%, không có 
phôi bào đa nhân hoặc có không bào.
- Có thai được tính khi βhCG sau 14 ngày 
chuyển phôi ≥ 5 IU/ml.
Hình 1. Đĩa swim-out tìm tinh trùng.
3. Phân tích số liệu: Các thông tin nghiên 
cứu được cập nhật liên tục vào phiếu thu thập số 
liệu. Nhập các biến số và xử lý số liệu trên SPSS 
20.0. Tính các tỷ lệ, các giá trị trung bình được 
biểu diễn dưới dạng Mean ± SD.
4. Đạo đức nghiên cứu: 
- Nghiên cứu chỉ hồi cứu trên bệnh án, không 
can thiệp trên người bệnh, không làm sai lệch kết 
quả điều trị của bệnh nhân.
- Nghiên cứu chỉ với mục đích phục vụ chăm 
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, không nhằm 
mục đích nào khác. Đảm bảo quy định về đạo đức 
trong nghiên cứu y học của Bộ đã quy định.
- Các thông tin về bệnh nhân sẽ được bảo mật 
theo đúng qui định của pháp luật hiện hành.
3. Kết quả
Tuổi trung bình của vợ khá thấp 29.7 ± 4.9, AMH 
trung bình 4.9 ± 3.3, số nang thứ cấp 10.4 ± 2.9 và 
số noãn thu được trung bình khá cao 11.4 ± 5.6.
Tỷ lệ thụ tinh trung bình 76,45%, tỷ lệ phôi 
phân chia 94,43%, tỷ lệ phôi tốt 55,56%. Số phôi 
chuyển trung bình 2.4 ± 1.4.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu X ± SD
Tuổi vợ trung bình 29.7 ± 4.9
Thời gian vô sinh trung bình 4.8 ± 2.9
Số nang thứ cấp trung bình 10.4 ± 2.9
AMH trung bình 4.9 ± 3.3
Số chu kỳ IVF thất bại trung bình 1.3 ± 0.7
Tổng liều dùng FSH trung bình 1953.1 ± 818.2
Số noãn sau chọc hút trung bình 11.4 ± 5.6
Số noãn MII trung bình 9.5 ± 5.0
Bảng 1. Đặc điểm người vợ trong mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ thụ tinh và phôi X ± SD
Tỷ lệ thụ tinh (%) 76.45 ± 19.35
Tỷ lệ phôi (%) 94.43 ± 11.31
Tỷ lệ phôi tốt (%) 55.56 ± 32.69
Số phôi chuyển trung bình 2.4 ± 1.4
Bảng 2. Kết quả thụ tinh và phôi
Bảng 3. Kết quả có thai
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 142 - 145, 2017
145
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nghiên cứu gồm 30 ca SOAT/ICSI (trong đó có 
3 ca tinh trùng bất động hoàn toàn phải thực hiện 
HOST test – có thai 2/3), 100% có phôi chuyển, 24 
ca chuyển phôi tươi, 6 ca chuyển phôi đông lạnh.
4. Bàn luận
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn với 
cách chuẩn bị tinh trùng thích hợp, chuyên viên phôi 
học giàu kinh nghiệm và tay nghề cao có thể giúp 
cho các trường hợp tinh trùng ít yếu dị dạng nặng 
có cơ hội tối đa chọn đủ tinh trùng có khả năng thụ 
tinh. Có nhiều mức độ kém khác nhau về chất lượng 
tinh trùng của các trường hợp này, nghiêm trọng là 
chỉ có một vài tinh trùng bất động hoặc bất thường 
toàn bộ. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi 
đã chọn những trường hợp tình trùng ít yếu dị dạng 
nặng, đặc biệt là số lượng rất ít < 0,1 triệu/ml. Tuy 
nhiên, vì chỉ cần tìm đủ vài cho đến vài chục tinh 
trùng tương đối bình thường trong một mẫu tinh 
trùng là đủ thụ tinh cho số noãn tương ứng, do vậy 
rất khó để xác định chất lượng tinh trùng có ảnh 
hưởng đến thụ tinh, phôi phân chia, chất lượng phôi 
hay tỷ lệ có thai hay không. Nghiên cứu của Chang 
2011 trên 65 trường hợp tiêm tinh trùng vào bào 
tương noãn với tinh trùng ít yếu dị dạng nặng cho 
thấy tỷ lệ thụ tinh là 90,8%, cao hơn nghiên cứu của 
chúng tôi; tỷ lệ có thai chuyển phôi tươi là 42,9%, 
tương đương với nghiên cứu của chúng tôi [6]. Một 
nghiên cứu khác trên 89 trường hợp tinh trùng OAT, 
ít yếu dị dạng tại Đức năm 2015 có kết quả thụ tinh 
khá thấp 49,63%, tỷ lệ thai 38,82%, trong đó thai 
sinh hóa rất cao 17,65% [7]. Tỷ lệ có thai khá thấp 
này có thể do tuổi mẹ trung bình trong nghiên cứu 
này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi. Tại trung tâm 
của chúng tôi, tỷ lệ có thai chung sau thụ tinh ống 
nghiệm ở độ tuổi 30-35 là 53,5%.
Thực tế cho thấy, kết quả thụ tinh và chất lượng 
phôi trong các trường hợp tinh trùng ít yếu dị dạng 
nặng ngoài dựa vào chât lượng tinh trùng còn phụ 
thuộc rất lớn vào kỹ thuật chuẩn bị tinh trùng, tay nghề 
và kinh nghiệm của chuyên viên phôi học. Hiện tại có 
một số phương pháp trợ giúp để tìm tinh trùng có khả 
năng thụ tinh như sử dụng axit hyaluronic chọn tinh 
trùng không có phân mảnh DNA và có nhân bình 
thường hoặc IMSI (intra cytoplasmic morphologically 
selected sperm) dùng kính phóng đại để phát hiện 
không bào ở đầu tinh trùng. Tuy nhiên, với mẫu tinh 
trùng ít yếu dị dạng nặng, các biện pháp hỗ trợ này 
cũng ít có tác dụng. Chúng tôi đã sử dụng phương 
pháp rửa mẫu ly tâm lấy cặn để thu được toàn bộ 
tinh trùng, sau đó cho vào các dải môi trường trên 
đĩa swim-out (đĩa tìm) để có thể dễ dàng phát hiện 
thấy tinh trùng sống hơn. Kinh nghiệm của chuyên 
viên phôi học khi lựa chọn tinh trùng để tiêm vào bào 
tương noãn đóng vai trò then chốt, đặc biệt với những 
trường hợp tinh trùng bất thường hoàn toàn. 
5. Kết luận
Chuẩn bị tinh trùng cho các trường hợp SOAT/
ICSI bao gồm rửa mẫu tinh dịch lấy cặn và đĩa 
chuẩn bị swim-out là kỹ thuật hiệu quả, tỷ lệ thụ 
tinh, tỷ lệ phôi và kết quả có thai tốt 
Tài liệu tham khảo
1. Hashimoto H, Ishikawa T, Goto S, Kokeguchi S, Fujisawa M & Shiotani 
M. (2010) The effects of severity of oligozoospermia on Intracytoplasmic 
Sperm Injection (ICSI) cycle outcome. Syst Biol Reprod Med 56, 91–95
2. Verza S Jr & Esteves SC. (2008) Sperm defect severity rather 
than sperm Source is associated with lower fertilization rates after 
intracytoplasmic sperm injection. Int Braz J Urol 34, 49–56.
3. De Vos A, Van De Velde H, Joris H, Verheyen G, Devroey P & 
Van Steirteghem A. (2003) Influence of individual sperm morphology 
on fertilization, embryo morphology, and pregnancy outcome of 
intracytoplasmic sperm injection. Fertil Steril 79, 42–48.
4. Plastira, K., Angelopoulou, R., Mantas, D., Msaouel, P., Lyrakou, S., 
Plastiras, A. et al. The effects of age on the incidence of aneuploidy rates 
in spermatozoa of oligoasthenozoospermic patients and its relationship 
with ICSI outcome. Int J Androl. 2007; 30: 65–72
5. Svalander, P., Jakobsson, A.H., Forsberg, A.S., Bengtsson, A.C., and 
Wikland, M. The outcome of intracytoplasmic sperm injection is unrelated 
to “strict criteria” sperm morphology. Hum Reprod. 1996; 11: 1019–1022
6. Ching-Chang, TsaiFu-Jen Huang,Li-Jung Wang, et al. (2011). Clinical 
outcomes and development of children born after intracytoplasmic sperm 
injection (ICSI) using extracted testicular sperm or ejaculated extreme 
severe oligo-astheno-teratozoospermia sperm: a comparative study. Fertil 
Steril. September 2011, Volume 96, Issue 3, Pages 567–571.
7. V. Nordhoff, R. K. Fricke, A. N. Schüring et al. (2015). Treatment 
strategies for severe oligoasthenoteratozoospermia (OAT) (<0.1 million/
mL) patients. American Society Andrology, Volume 3, Issue 5, September 
2015 , 856–863

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_vo_sinh_nam_do_tinh_trung_it_yeu_d.pdf