Đánh giá kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Quân Y 175

Mục tiêu: đánh giá kết quả điều trị SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện

Quân y 175.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu tiến cứu, từ

01/2018 đến 12/2018, chúng tôi đã phẫu thuật nội soi 25 ca được chẩn đoán xác định

tổn thương SLAP.

Kết quả: Với 25 ca tổn thương SLAP, trong đó 10 ca (40%) tổn thương SLAP

đơn thuần và 15 ca (60%) có tổn thương phối hợp, bao gồm: 01 ca trật khớp cùng đòn,

01 ca trật khớp vai tái hồi,13 ca rách chóp xoay. Với kết quả điều trị: thời gian điều trị

hậu phẫu trung bình 4-5 ngày, đánh giá sau 12 tháng theo thang điểm UCLA (tốt & rất

tốt) đạt 92%.

pdf 9 trang phuongnguyen 540
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Quân Y 175", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Quân Y 175

Đánh giá kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Quân Y 175
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
66
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 
TỔN THƯƠNG SLAP BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI 
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Nguyễn Hà Ngọc1, Võ Văn Nguyên1, Vũ Ngọc Vương1
Nguyễn Võ Sỹ Trung1, Bùi Chí Khang1, Từ Bảo Ngọc1
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá kết quả điều trị SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện 
Quân y 175.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu tiến cứu, từ 
01/2018 đến 12/2018, chúng tôi đã phẫu thuật nội soi 25 ca được chẩn đoán xác định 
tổn thương SLAP.
Kết quả: Với 25 ca tổn thương SLAP, trong đó 10 ca (40%) tổn thương SLAP 
đơn thuần và 15 ca (60%) có tổn thương phối hợp, bao gồm: 01 ca trật khớp cùng đòn, 
01 ca trật khớp vai tái hồi,13 ca rách chóp xoay. Với kết quả điều trị: thời gian điều trị 
hậu phẫu trung bình 4-5 ngày, đánh giá sau 12 tháng theo thang điểm UCLA (tốt & rất 
tốt) đạt 92%.
Kết luận: Tổn thương SLAP là tổn thương sụn viền bờ trên ổ chảo xương cánh 
tay từ trước ra sau. Việc ứng dụng nội soi khâu sụn viền rách đạt kết quả điều trị tốt và 
rất tốt cao: chiếm 92% (theo UCLA), thời gian điều trị hậu phẫu trung bình ngắn: 4-5 
ngày. Báo cáo này nhằm mục đích bước đầu đánh giá kết quả điều trị SLAP tại Bệnh 
viện Quân y 175, nói lên vai trò nội soi khớp vai trong việc phát hiện và điều trị các tổn 
thương phối hợp khác trong quá trình phẫu thuật.
EVALUATION OF RESULTS FROM ARTHROSCOPIC
 REPAIR OF SLAP AT MILITARY HOSPITAL 175
SUMARY
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Hà Ngọc ([email protected])
Ngày nhận bài: 29/4/2020, ngày phản biện: 10/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
67
Objectives: Evaluation of results from arthroscopic repair of SLAP at Military 
Hospital 175
Subjects and methods: Prospective study 25 patients for a SLAP lesion repair by 
arthroscopy, from January 2018 to December 2018.
Result: With 25 patients for a SLAP lesion repair by arthroscopy, 40% SLAP 
lesion and 60% SLAP combined with another lesions. To include: 01 case dislocation 
AC joint, 01 case dislocation of shoulder, 13 cases rotator cuff tears. Results treatment: 
post-op mean at 4-5 days, results with UCLA 92% (good and exellent).
Conclusion: SLAP lesion is Superior Labrum Anterior to Posterior tears. 
Arthroscopic repair of SLAP (suture labrum lesion) good treatment: post-op mean at 4-5 
days, results with UCLA 92% (good and exellent). This study evaluate the preliminary 
results arthroscopic SLAP repair at 175 Hospital, they showed that shoulder arthroscopy 
is very important at dignosis and treatment SLAP combined with another lesions.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị trí sụn viền và đầu dài gân nhị 
đầu ở nơi bám vào bờ trên ổ chảo xương 
cánh tay gọi là SLAP (Superior Labrum 
Anterior to Posterior). Cấu trúc này dễ 
bị thương tổn khi lực của gân nhị đầu tác 
động vào chỗ bám ở bờ trên ổ chảo gây 
nên thương tổn. Theo Snyder tổn thương 
SLAP chiếm khoản 6% các bệnh lý ở khớp 
vai. Cơ chế chấn thương thường gặp là 
khớp vai xoay trong, kết hợp giật mạnh, 
đột ngột, thường gặp trong động tác ném 
bóng, khiêng vác vật nặng hoặc dạng như 
phát bóng trong tennis. Chấn thương có 
thể gây tổn thương ngay lập tức hoặc tăng 
dần do bị tác động lặp đi lặp lại.
Theo Snyder tổn thương SLAP 
chiếm khoảng 6% các bệnh lý ở khớp vai. 
Với tần suất bệnh không nhiều, kết hợp 
với các triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, 
vấn đề chẩn đoán sớm ra bệnh là một bài 
toán hóc búa và khó khăn với nhiều phẫu 
thuật viên. Việc ứng dụng nội soi can thệp 
trong điều trị tổn thương SLAP là một chỉ 
định bắt buộc, thể hiện rõ tính ưu việc.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng 
tôi thực hiện đề tài với mục tiêu:
- Đánh giá kết quả điều trị tổn 
thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi tại 
Bệnh viện Quân Y 175.
- Nhận xét về tổn thương phối hợp 
và một số vấn đề hay gặp trong quá trình 
điều trị SLAP .
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
25 bệnh nhân (BN) được nội soi 
điều trị và chẩn đoán xác định tổn thương 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
68
SLAP tại Bệnh viện 175 từ 01/1018 đến 
12/2018.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bao gồm 
các bệnh nhân được chẩn đoán xác định 
tổn thuơng SLAP và được phẫu thuật nội 
soi khớp vai tại Bệnh viện Quân Y 175, 
có đầy đủ hồ sơ bệnh án, phim ảnh cùng 
xét nghiệm, và trực tiếp khám xét, tham 
gia điều trị trước – trong – sau mổ. Chẩn 
đoán xác định tổn thương SLAP dựa vào 
các tiêu chí sau:
- Cơ năng: đau khi nâng tay, đặc 
biệt ở tư thế tay cao quá đầu, Yếu vai bị 
tổn thương, đôi khi nghe thấy tiếng kêu bất 
thường trong vai.
- Thực thể: có trên 2 test dương tính 
ở các nghiệm pháp thăm khám tổn thương 
sụn viền chuyên sâu, bao gồm: O’Brien test, 
Biceps load test II, Mimori pain provocation 
test, Crank test, Dynamic Labral Shear 
Test, Compression rotation test.
- MRI: kết quả có tổn thương SLAP.
Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Các BN được chẩn đoán và phẫu 
thuật điều trị tổn thương SLAP không phải 
tại Bệnh viện Quân Y 175.
- BN không đồng ý tham gia 
nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, theo 
dõi dọc 
Phương pháp phẩu thuật:
Vô cảm: nội khí quản.
Tư thế: BN nằm nghiêng, treo tay.
Đường vào khớp: 3 cổng vào cơ 
bản: sau (Posterior portal), trước (Anterior 
portal), trước trên (Anterior-superior 
portal). Tuy nhiên, tùy tổn thương phối 
hợp, chúng tôi có mở thêm các cổng khác 
để thực hiện trong quá trình phẫu thuật.
Các bước phẫu thuật:
Vào khớp và đánh giá tất cả các 
tổn thương trong khớp vai.
• Xác định vị trí tổn thương sụn 
viền, dùng trợ cụ bóc tách vùng sụn tổn 
thương với bờ ổ chảo, loại bỏ phần xơ sợi 
ở giữa, cắt lọc tổ chức sụn viền bị tưa tướt. 
• Làm mới diện bong tróc (chúng 
tôi hay dùng Shaver ăn mòn làm rướm 
máu vùng sụn tổn thương).
• Đóng chỉ neo ở cực trên ổ chảo (1 
đến 4 chỉ neo tùy kích thước tổn thương). 
Chúng tôi hay dùng cây đẩy chỉ trung gian 
(Accupast của hãng Smith-Nephew), luồn 
chỉ xuyên qua sụn viền từ sau ra trước, rồi 
qua sợi chỉ trung gian, luồn kéo chỉ neo và 
buột chỉ ở mặt sau đầu dài gân nhị đầu. 
• Xử lý tổn thương SLAP: trong 
nhóm BN nghiên cứu, có 21 tổn thương 
SLAP độ II và 4 BN tổn thương SLAP độ IV
- Nhóm BN SLAP độ II: khâu từ 
1-4 chỉ neo (tùy diện tổn thương).
- Nhóm BN SLAP độ IV: cắt 
lọc sụn viền tổn thương, đốt co bằng 
Arthroscare, cắt đầu dài gân nhị đầu, và 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
69
đính lại đầu dài gân nhị đầu.
Xử lý các tổn thương khác: 
• Trật khớp vai tái hồi: khâu sụn 
viền trước làm vững bao khớp vai.
• Rách chóp xoay: khâu chóp xoay rách.
• Hẹp khoang dưới mõm cùng: 
mài mặt dưới mõm cùng.
• Trật khớp cùng đòn: đặt lại khớp 
cùng đòn, tái tạo dây chằng quạ đòn (cả 
dây chằng nón và dây chằng thang) bằng 
cơ bán gân.
Điều trị sau mổ: 
• Thời gian hậu phẫu 4-5 ngày.
• Chườm đá.
• Cắt chỉ sau 10 ngày.
• Đeo đai DeSault & treo tay: 05-
06 tuần.
• Tập PHCN thụ động và chủ động 
theo hướng dẫn (theo phác đồ tập của khoa 
vật lý trị liệu Bệnh viện Quân Y 175) .
• Bệnh nhân được hoạt động bình 
thường trở lại sau 03 tháng, và chỉ được 
chơi thể thao và các hoạt động thể lực 
nặng sau 09 tháng.
Đánh giá kết quả sau mổ:
• Tình trạng vết mổ.
• Tai biến, biến chứng trong và sau mổ.
• Đánh giá khớp vai sau mổ ở các 
thời điểm 3, > 12 tháng, theo thang điểm 
VAS và UCLA (UCLA Shoulder rating 
scale).
• Với bảng điểm UCLA, có kết 
quả đánh giá như sau:
- Rất tốt: 34-35 điểm.
- Tốt: 28-33 điểm.
- Khá: 21-27 điểm.
- Xấu: 0-20 điểm.
3. KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu:
Đặc điểm bệnh nhân:
Có tất cả 25 BN, trong đó nam giới chiếm 76% (19 BN), nữ 24% (06 BN).
Tuổi:
 Nhóm tuổi 21-30 31-40 41-50 51-60 > 60
Số BN 06 05 04 05 05
Đặc điểm tổn thương:
Phân độ SLAP:
 SLAP Độ I Độ II Độ III Độ IV
Số BN (người) 0 21 0 4
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
70
Vị trí tổn thương:
Vai trái: 09 BN (chiếm 36%), vai 
phải: 16 BN (chiếm 64%), tất cả BN trong 
nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều thuận 
tay (P).
Tổn thương phối hợp:
Trong đó lô nghiên cứu của chúng 
tôi, tổn thương SLAP đơn thuần 10 BN 
(chiếm 40%), và tổn thương phối hợp có 
15 BN (chiếm 60%), trong đó:
Trật khớp cùng đòn: 01 BN.
Trật khớp vai tái hồi: 01 BN.
Rách chóp xoay: 13 BN.
Tai biến trong mổ (2 BN):
Tuột chỉ neo trong quá trình buột: 
01 BN.
Vỡ thành ổ chảo khi đóng neo: 01 BN.
Kết quả điều trị:
100% BN liền sẹo kỳ đầu, không 
có trường hợp nhiễm trùng vết mổ.
Đánh giá kết quả theo UCLA (tốt 
& rất tốt): 
- Sau mổ 03 tháng: 84%.
- Sau mổ12 tháng: 92%.
Thời gian phẫu thuật:
Nhanh nhất: 60 phút.
Lâu nhất: 150 phút.
Thời gian trung bình: 100,35 phút.
4. BÀN LUẬN:
Về tuổi và giới:
Trong lô nghiên cứu của chúng 
tôi, BN chủ yếu là nam giới (19/25 BN), 
chiếm 76%, trong đó vai (P) bị 16/25 BN, 
chiếm 64%, và độ tuổi bị tổn thương đa 
phần dưới 60 tuổi. 20/25 BN dưới 60 tuổi 
(chiếm 80%.)
Qua những con số trên, chúng tôi 
nhận thấy tổn thương SLAP dạng bệnh lý 
hay gặp trong độ tuổi lao động, đối tượng 
trong độ tuổi chơi các môn thể thao có 
yếu tố va chạm và đối kháng cao, trực tiếp 
tham gia các phương tiện giao thông...
Với cơ chế chấn thương dễ gây 
tổn thương SLAP hay gặp như: 
Ngã chống tay ra trước 300 và 
dạng 750, bàn tay xoay ngoài.
Các động tác với lực mạnh, đột 
ngột và tay vòng cao quá đầu như ném vật 
nặng, phát bóng, giật dây, khiêng vác vật 
nặng...
Do vậy, khi khai thác bệnh sử cần 
tìm hiểu kỹ cơ chế chấn thương và quan 
tâm đến độ tuổi, nghề nghiệp, tình huống 
xuất hiện đau để tránh bỏ sót tổn thương.
Về kỹ thuật khâu SLAP: tùy loại 
và mức độ tổn thương mà chúng tôi dùng 
từ 1 đến 4 neo, với các loại nút khâu sau:
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
71
Nút đơn (Simple) Nút ngang (mattress) 
Theo báo cáo tại ESSKA 2014 
(European Society of Sports Traumatology, 
Knee Surgery, Arthroscopy), Alessandro 
Castagna (một phẫu thuật viên tại Milan-
Italia) đã đưa ra kỹ thuật mới về khâu 
SLAP. Ông sử dụng mối khâu ngang 
(mattress) ở phía sau gân nhị đầu và mối 
khâu đơn (Simple) ở phía trước. Với kỹ 
thuật này, sau khâu sẽ làm tăng hơn diện 
bám của sụn viền bong tróc vào bờ ổ chảo, 
tôn trọng hơn về lực cơ sinh học của đầu 
dài gân nhị đầu tác động và điểm bám sụn 
viền ổ chảo, bệnh nhân sau phẫu thuật sớm 
cải thiện biên độ vận động khớp vai và 
sớm quay lại các hoạt động thể lực.
Với tổn thương độ SLAP IV, 
chúng tôi cắt đầu dài gân nhị đầu, có 2 
ca chúng tôi khâu đính lại qua nội soi tại 
rãnh nhị đầu, 2 ca chúng tôi chuyển mổ 
mở tối thiểu khâu đầu dài gân nhị đầu vào 
cơ ngực lớn.
Về tổn thương phối hợp:
Trong số lô nghiên cứu của chúng 
tôi có 15/25 bệnh nhân SLAP có tổn thương 
phối hợp, với 13 ca rách chóp xoay, đặc 
Hình ảnh mô phỏng kỹ thuật 
khâu SLAP của A. Castagna
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
72
biệt trong đó có 1 ca trật khớp cùng đòn và 
1 ca trật khớp vai tái hồi.
Về cơ chế chấn thương: khi BN 
ngã chống tay tư thế ra trước 300, dạng 750 
và bàn tay xoay ngoài (như hình ảnh), sẽ 
là nguyên nhân gây trật khớp cùng đòn, 
sai khớp vai tái diễn, và cơ chế này cũng 
luôn là nguyên nhân tìm ẩn gây tổn thương 
SLAP. Do vậy, tại hội nghị SECEC-ESSSE 
ở Berlin 2017 đã khuyến cáo, nên ứng dụng 
nội soi trong điều trị sai khớp vai tái hồi và 
trật khớp cùng đòn, cho dù có chỉ định mổ 
mở, nhằm tránh bỏ sót tổn thương.
Tai biến trong mổ: 
Trong quá trình phẫu thuật, chúng 
tôi có 2 BN bị tai biến trong mổ:
1 bệnh nhân bị tuột 1 sợi chỉ neo 
(nguyên nhân: định hướng sai trong quá 
trình luồn kéo theo chỉ trung gian). Tuy 
nhiên, vì neo có 2 sợi chỉ, nên chúng tôi 
đã dùng sợi chỉ dự phòng còn lại của neo. 
Cách khắc phục: theo chúng tôi, với các vị 
trí neo quan trọng, nên sử dụng neo 2 sợi 
để dự phòng các trường hợp sự cố khi cố 
định (tuột chỉ, lỏng chỉ, đứt chỉ).
Ngã chống tay tư thế ra trước 300, dạng 750, bàn tay xoay ngoài
Nguyên tắc kỹ thuật: xác định 
đúng góc nghiêng 450
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
73
1 BN đóng neo bị trượt (vỡ thành 
bờ ổ chảo) trong quá trình đóng neo: nguyên 
nhân được rút ra là đóng sai kỹ thuật, lại 
không dùng khoan mà dùng búa đóng để 
tạo lổ trước khi tarô. Về nguyên tắc kỹ 
thuật: cần xác định đúng góc nghiêng 450 
cả 2 bình diện (như hình vẽ), cách bờ mép 
mặt khớp 2-3 mm về phía trong, và đặt biệt 
phải khoan bằng mũi 2.4 dẫn đường trước, 
mục đích tạo đường hầm để khi taro tránh 
bị vỡ, hạn chế đóng tạo lổ kiểu như khâu 
chóp xoay). Cách khắc phục: 1- dùng cây 
trung gian để tính táo góc, trước khi quyết 
định điểm đóng chính thức, 2- dùng khoan 
để tạo đường hầm trước khi đóng neo.
Thời gian hậu phẫu sau mổ: 
100% BN không bị nhiễm trùng 
vết mổ, thời gian điều trị hậu phẫu trung 
bình 05 ngày.
Có 8 BN bị hạn chế vận động khớp 
vai ở thời điểm 10 tuần, cả 8 BN đều thuộc 
nhóm tổn thương phối hợp, nhưng BN đã 
tái khám và kịp thời phát hiện, hướng dẫn 
tập PHCN tích cực, kết quả 7/8 BN đạt 
tầm vận động khớp vai tốt sau 4 tháng. 
02 BN bị đau khớp vai kéo dài trên 
6 tháng, đều thuộc BN nữ, > 50 tuổi, cả 2 
trường hợp này được chích PRP và điều trị 
chống loãng xương, có cải thiện giảm đau 
sau 06 tuần điều trị.
 Do vậy, cần dặn dò BN tái khám 
định kỳ nghiêm túc trong 10 tuần đầu, 
hướng dẫn cụ thể, chi tiết các động tác tập 
PHCN tại nhà. Riêng những BN lớn tuổi, 
theo chúng tôi, sau mổ cần theo dõi và bổ 
sung liệu trình điều trị chống loãng xương 
cho người bệnh.
Kết quả điều trị xa:
Thời điểm thăm khám
UCLA
03 tháng
(24/25 BN tái khám)
>12 tháng
( 20/25 BN tái khám)
> 28 điểm
(Tốt + rất tốt)
84% (21/25BN) 92% (23/25 BN)
Năm 2007, Nguyễn Trọng Anh 
đã có báo cáo về kết quả điều trị SLAP 
với 13/14 BN đạt UCLA > 30 điểm sau 6 
tháng. Tác giả có nhận xét, với những BN 
tổn thương SLAP mà có rách chóp xoay, 
thời gian phục hồi sẽ chậm hơn.
Theo Peter N. Chalmers (2015), 
thì nhóm BN tổn thương SLAP có tổn 
thương gân nhị đầu và được cắt-đính lại 
gân nhị đầu, sẽ đau kéo dài kiểu dạng viêm 
gân, và thời gian phục hồi chậm hơn.
Xử lý SLAP độ IV:
Với 2 BN chúng tôi khâu lại đầu 
dài gân nhị đầu tại rãnh nhị đầu, 2 BN 
chuyển mổ mở khâu vào gân cơ ngực 
lớn. Lý do tại sao có sự khác nhau đó: đó 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
74
là do thời gian phẫu thuật. Chúng tôi có 
quan điểm, thời gian vàng trong xử lý các 
bệnh lý khớp vai qua nội soi chỉ 120 phút, 
nếu quá thời gian này, tổ chức dễ phù nề 
& chảy máu, dẫn đến rất khó thực hiện 
thao tác trong nội soi. Chính vì vậy, nếu 
tiên lượng thời gian nội soi kéo dài (>120 
phút), chúng tôi sẽ chuyển mổ mở, đính/
khâu đầu dài gân nhị đầu vào cơ ngực lớn.
KẾT LUẬN
Với 25 bệnh nhân tổn thương 
SLAP được phẫu thuật tại Bệnh viện 175 
từ 01/2018 đến 12/2018, chúng tôi nhận 
thấy:
- 100% bệnh nhân liền sẹo kỳ đầu, 
thời gian điều trị hậu phẫu trung bình 4-5 
ngày. Kết quả điều trị sau 12 tháng theo 
thang điểm UCLA (tốt & rất tốt) đạt 92%.
- Vấn đề tái khám, mang đai cố 
định và hướng dẫn tập PHCN trong 10 
tuần đầu sau mổ hết sức quan trọng. Kỹ 
thuật và phương pháp khâu sụn viền tổn 
thương đóng vai trò khá lớn giúp cải thiện 
kết quả sau mổ. Cần mở rộng ứng dụng 
nội soi khớp vai (trật khớp cùng đòn, trật 
khớp vai tái hồi) nhằm hạn chế bỏ sót 
tổn thương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Hồng Thiên Khanh: “Tổn 
thương sụn viền trên từ trước ra sau”. Bài 
giảng ĐHYD thành phố Hồ Chí Minh, 2013.
2. Alessandro Castagna, Silvana 
De Giorgi, Raffaele Garofalo (2014): “A 
new anatomic technique for type II SLAP 
lesions repair”. European Society of Sports 
Traumatology, Knee Surgery, Arthroscopy 
(ESSKA) 2014.
3. Arai R., Kobayashi M., Harada 
H. (2014): “Anatomical study for SLAP 
lesion repair”. Knee Surg Sports Traumatol 
Arthrosc 22:435–441.
4. Peter N. Chalmers, Brett 
Monson, Rachel M. Frank (2015): 
“Combined SLAP repair and biceps 
tenodesis for superior labral anterior–
posterior tears”. European Society of 
Sports Traumatology, Knee Surgery, 
Arthroscopy (ESSKA) 2015.
5. Yilihamu Tuoheti, M.D., Eiji 
Itoi, M.D., Hiroshi Minagawa, M.D. 
(2005), “Attachment Types of the Long 
Head of the Biceps Tendon to the Glenoid 
Labrum and Their Relationships with the 
Glenohumeral Ligaments”. The Journal of 
Arthroscopic and Related Surgery, Vol 21, 
No 10 (October), 2005: pp 1242-1249.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_ton_thuong_slap_bang_phau_thuat_no.pdf