Đánh giá kết quả điều trị nội và ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở 104 trẻ trước 2 tuổi

mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị nội khoa và

ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở trẻ dưới 2

tuổi. Đối tượng và phương pháp: 104 trẻ có tinh

hoàn không xuống bìu được theo dõi từ sơ sinh tới 2

tuổi. Tiêm bắp human Gonadotrophin 2 đợt, 7 mũi,

tuần 3 mũi, đợt 2 cách đợt 1 từ 1,5-2 tháng. Tinh hoàn

không xuống bìu sẽ mổ sau 3 tháng. Kết quả: Bên dị

tật: phải 44(42,3%), trái 33(31,7%), hai bên:27(26%).

Vị trí của131 tinh hoàn: Lỗ bẹn ngoài 44(33,6%), ống

bẹn 70(53,4%), lỗ bẹn trong 10(7,6%), ổ bụng 7(5,4%).

Điều trị nội xuống bìu hoàn toàn 25(24%), xuống 1

phần 33(31,7%), không xuống 46(44,2%). Mổ hạ tinh

hoàn ở ống bẹn và lỗ bẹn nông thành công 100%, ổ

bụng và lỗ bẹn sâu có 13 tinh hoàn thì không thấy 2

tinh hoàn, xuống bìu 9/11, xuống 1 phần 2/11 không

gặp biến chứng phẫu thuật. Kết luận: Phát hiện sớm

và điều trị THKXB trước 2 tuổi cho tỷ lệ thành công cao

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị nội và ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở 104 trẻ trước 2 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả điều trị nội và ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở 104 trẻ trước 2 tuổi

Đánh giá kết quả điều trị nội và ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở 104 trẻ trước 2 tuổi
Lê Minh TráC, Trần ngọC BíCh, nguyễn phú ĐạTPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
114
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI VÀ NGOẠI KHOA 
TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU 
Ở 104 TRẺ TRƯỚC 2 TUỔI
Lê Minh Trác(1), Trần ngọc Bích(2), nguyễn phú Đạt(3)
 (1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2 ) Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức- Hà Nội, (3) Đại học Y Hà Nội
tóm tắt
mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị nội khoa và 
ngoại khoa tinh hoàn không xuống bìu ở trẻ dưới 2 
tuổi. Đối tượng và phương pháp: 104 trẻ có tinh 
hoàn không xuống bìu được theo dõi từ sơ sinh tới 2 
tuổi. Tiêm bắp human Gonadotrophin 2 đợt, 7 mũi, 
tuần 3 mũi, đợt 2 cách đợt 1 từ 1,5-2 tháng. Tinh hoàn 
không xuống bìu sẽ mổ sau 3 tháng. Kết quả: Bên dị 
tật: phải 44(42,3%), trái 33(31,7%), hai bên:27(26%). 
Vị trí của131 tinh hoàn: Lỗ bẹn ngoài 44(33,6%), ống 
bẹn 70(53,4%), lỗ bẹn trong 10(7,6%), ổ bụng 7(5,4%). 
Điều trị nội xuống bìu hoàn toàn 25(24%), xuống 1 
phần 33(31,7%), không xuống 46(44,2%). Mổ hạ tinh 
hoàn ở ống bẹn và lỗ bẹn nông thành công 100%, ổ 
bụng và lỗ bẹn sâu có 13 tinh hoàn thì không thấy 2 
tinh hoàn, xuống bìu 9/11, xuống 1 phần 2/11 không 
gặp biến chứng phẫu thuật. Kết luận: Phát hiện sớm 
và điều trị THKXB trước 2 tuổi cho tỷ lệ thành công cao.
từ khóa: Tinh hoàn không xuống bìu
ABStRACt
evaluaTing The resulT oF medical TreaTmenT 
and orchidoPexy oF cryPTorchidism in 104 
children under 2 years
Objectives: To evaluate the results of Hormon 
therapy and early orchidopexy of crytorchidism in 
children <2 years of age.
materials and methods: descriptive, prospective 
study on 104 cases with 131 undescended testes were 
followed up from birth to 2 years. Hormone treatment: 
300UI of HCG, 7doses, 2 periods, the seconds was after 
the first 1.5-2 months, after 3 months of Hormonal 
therapy testes still undecided, orchidopexy had been 
done. Results: right 44 (42.3%), left 33 (31.7%), 
2side 27(26%). Positions of131 undescended testes: 
Extra inguinal ring 44 (33.6%), inguinal canal 70 
(53.4%), intrainguinal ring 10 (7.6%) abdomen 7 
(5.4%). Hormonal therapy descended 25(24%), partly 
descended 33 (31.7%), undescended 46 (44.2%). If testes 
in extrainguinal ring and inguinal canal, Orchidopexy 
successed in 100%. If testes in intrainguinal ring, 
abdomen, that successes in 9/11, imperfectly 2/11, 
did not find 2 testes. Had not seen any side effects. 
Conclusion: Finding & treating cryptorchidism in 
children <2 years had highly successful rate
Key words: Cryptorchidism 
i/ Đặt vấn Đề : 
Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) là một dị tật 
phổ biến ở trẻ nam. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả 
tỉ lệ mắc ở trẻ mới sinh 3-5%, trẻ non tháng 17-36%. Tới 
khi 3 tháng tuổi tỉ lệ còn khoảng 0,8 – 1 %, sau đó tinh 
hoàn hầu như không di chuyển xuống bìu thêm [1,2,3].
Tinh hoàn muốn thực hiện được chức năng đầy đủ, 
đòi hỏi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể khoảng 2 độ 
C. Những bằng chứng đã chỉ ra rằng tinh hoàn không 
xuống bìu gây ra những biến chứng : giảm khả năng 
sinh sản , vô sinh , nguy cơ ung thư hóa , xoắn tinh 
hoàn, chấn thương và tác động tâm lí khi lớn. Trên thế 
giới việc điều trị nội khoa bằng HCG từ năm 1930 cho 
tới nay, nhưng hiện phác đồ vẫn còn chưa thống nhất. 
Tại Châu Âu ưu tiên sử dụng HCG, GnRH hoặc phối hợp 
cà hai cho tỉ lệ thành công từ 14 – 65 % , sau 3 tuổi thấy 
đáp ứng tốt hơn trước 3 tuổi [4]. Điều trị ngoại khoa 
tuổi mổ hạ tinh hoàn theo Campell 1950 – 1967 là sáu 
tuổi. Nhưng từ nghiên cứu của Melgen 1981, Cooper, 
Hadziselimovic 1983 đã chỉ ra rằng các tinh nguyên 
bào sẽ bị thoái hóa nhanh chóng lúc 2 tuổi [5], và các 
tác giả đề nghị mổ trước 2 tuổi. 
Tại Việt nam theo Nguyễn Thị Ân ( 2000 ) điều trị 
nội khoa hạ tinh hoàn xuống bìu hoàn toàn 22,2 %. 
Điều trị ngoại khoa trước 2 tuổi tại các bệnh viện lớn 
dưới 10 % , tuổi mổ trung bình thường từ 5,8 – 13,6 
tuổi [6,7,4]. Chưa có công trình nào công bố điều trị 
nội và ngoại khoa cho trẻ trước 2 tuổi. Chính vì vậy 
Không sờ thấy 17 (13%)
2. vị Trí ThKxb Theo siêu âm.
 Ống bẹn 70(53,4 %), lỗ bẹn nông44 (33,6 %), lỗ 
bẹn sâu và ổ bụng17(13%)
3. KếT quả Điều Trị.
3.1. số ThKxb được điều trị
Bảng 1. Số ThKXB được điều trị
Số tinh hoàn được điều trị nội 104 (79,4 %), đã mổ 
53 (40,5 %), chưa điều trị 7 (5,3 %)
3.2 Kết quả điều trị nội khoa
Bảng 2. Kết quả điều trị nội khoa
Tinh hoàn ở lỗ bẹn ngoài điều trị nội xuống 62,5 %, 
ở ống bẹn 8,9 %, lỗ bẹn trong đến ổ bụng không xuống.
3.3. Kết quả theo thể lâm sàng 
Bảng 3. Kết quả theo thể lâm sàng
Tỉ lệ tinh hoàn không xuống bìu sờ thấy điều trị 
nội xuống 28,4 %, không sờ thấy không thấy xuống 
hoàn toàn.
3.4. Kết quả khi điều trị ngoại 
Bảng 4. Kết quả điều trị ngoại 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
115
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 114 - 117, 2013
với mục đích đánh giá kết quả điều trị nội và ngoại 
khoa tinh hoàn không xuống bìu trước 2 tuổi chúng 
tôi tiến hành đề tài này với 2 mục tiêu : 
• Đánh giá kết quả điều trị HCG ở trẻ dưới 2 tuổi 
• Kết quả sớm của điều trị ngoại khoa
ii/ Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu 
 1.Đối Tượng: 
 Bao gồm 104 trường hợp sinh ra tại bệnh viện Phụ 
Sản Trung Ương từ tháng 1/ 2010 – 1/ 2012 khám phát 
hiện, theo dõi có THKXB từ sau sinh đến 12 tháng. 
Loại trừ những trường hợp không rõ giới tính, 
hoặc không đến khám lại
2.Phương PháP nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
- Cách thức tiến hành:
	 •	Chỉ	định	điều	trị	nội	khoa	:	
Khi trẻ 12 tháng tuổi, không kèm dị tật như thoát 
vị bẹn, nước màng tinh hoàn.
- Sử dụng phác đồ Job tiêm bắp 300 đv, tuần 3 
lần, 7 mũi, nhắc lại sau 1,5 – 2 tháng nếu tinh hoàn 
vẫn chưa xuống.
	 •	Chỉ	định	điều	trị	ngoại	khoa	:
+Trẻ điều trị nội nhưng tinh hoàn vẫn chưa xuống bìu 
+Trẻ dưới 12 tháng tuổi có kèm theo dị tật thoát vị 
bẹn mổ hạ luôn tinh hoàn
-Đánh giá kết quả điều trị nội :
+Tinh hoàn xuống hoàn toàn nằm ở bìu- kết quả tốt.
+Xuống không hoàn toàn, có xuống nhưng dừng 
lại trên đường di chuyển xuống bìu - kết quả khá. 
+Không xuống vẫn ở nguyên vị trí - không kết quả.
Đánh giá kết quả điều trị ngoại :
- Tốt là tinh hoàn ở túi bìu
- Trung bình là nằm lỗ bẹn ngoài đến gốc dương vật
- Xấu là nằm ống bẹn trở lên hoặc phải loại bỏ
Xử lí số liệu theo thuật toán thống kê y học
iii/ Kết quả
1. Khám lâm sàng.
104 bệnh nhân có 131THKXB được phát hiện và 
theo dõi từ lúc sinh tới 12 tháng, tuổi điều trị HCG đợt 
1( 12± 0.7 tháng), HCG đợt 2 (14± 0.5 tháng), tuổi mổ 
hạ tinh hoàn (19± 1.5 tháng)
Bên phải 44 (42.3%)
Bên trái 33 (31.7%)
Hai bên 27 (26%) 
Sờ thấy 114 (87%)
Số tinh hoàn điều trị n %
Điều trị nội 104 79,4
Mổ sau điều trị nội không xuống 53 40,5
Mổ kèm thoát vị bẹn 7 5,3
Mổ không có điều trị nội 13 9,9
Đang tiếp tục theo dõi 7 5,3
Tổng số 131 100 %
ThKXB Số tinh hoàn Xuống bìu hoàn toàn Xuống một phần Không xuống
Sờ thấy 88 25 (28,4 %) 24 (27,3 %) 39 (44,3 % )
Không sờ thấy 16 0 9 (56,3 %) 7 (43,7 % )
Vị trí Số tinh hoàn Xuống và cố định vào bìu Xuống một phần Không tìm thấy
Lỗ bẹn ngoài 10 7 ( 100 % ) 0 0
ống bẹn 47 47 ( 100 % ) 0 0
Lỗ bẹn trong đến 
ổ bụng 13 9 2 2
Mổ kèm thoát vị bẹn 7 7 0 0
Vị trí ThKXB Số tinh hoàn Xuống bìu hoàn toàn Xuống một phần Không xuống
Lỗ bẹn nông 32 20 ( 62,5 % ) 0 12 ( 37,5 % )
ống bẹn 56 5 ( 8,9 % ) 24 ( 42,8 % ) 27 ( 48,2 % )
Lỗ bẹn sâu 10 0 6 ( 60 % ) 4 ( 40 % )
Ổ bụng 6 0 3 ( 50 % ) 3 ( 50 % )
Tổng số 104 25 ( 24 % ) 33 ( 31,7 % ) 46 ( 44,2 % )
Lê Minh TráC, Trần ngọC BíCh, nguyễn phú ĐạTPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
116
Với 53 THKXB sau điều trị nội và 13 THKXB chưa 
điều trị nội, thì chúng tôi thấy tỉ lệ hạ tinh hoàn ở vị 
trí lỗ bẹn nông và ống bẹn là 100 % , tinh hoàn ở ổ 
bụng và lỗ bẹn sâu mổ hạ được 9/11 , và 2 tinh hoàn 
không tìm thấy.
Biến chứng ngoại khoa hiện chưa gặp ngoài 2 
trường hợp hạ được xuống một phần.
iv/ Bàn luận
Vì sao chúng ta phải quan tâm đến THKXB 
trong khi những đứa trẻ mắc cả 2 bên vẫn dậy 
thì và lớn được bình thường. Những công trình 
nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thuyết phục khi 
tinh hoàn từ lỗ bẹn nông đến ổ bụng thì không 
thể tạo được tinh trùng. Nếu tinh hoàn được hạ 
xuống bìu có nhiệt độ thấp hơn cơ thể 2 độ C thì 
số lượng tinh nguyên bào được cải thiện rõ rệt. Vì 
vậy để đảm bào chức năng và tránh biến chứng 
chúng ta cần phải hạ tinh hoàn xuống bìu. THKXB 
một bên thường chiếm từ 75 – 80 % , Nguyễn Thị 
Ân ( 2000 ) thấy THKXB hai bên 25,6 % , của chúng 
tôi 26 % . Như vậy cũng phù hợp với các tác giả. 
Riêng vị trí tinh hoàn nằm ở lỗ bẹn ngoài Nguyễn 
Thị Ân có 2,7 % , ổ bụng 31,3 % , lỗ bẹn trong 19,6 
% trong khi đó chúng tôi thấy tỉ lệ này là 33,6 % 
, 5,4 % và 7,6 %. Như vậy ở lỗ bẹn nông chúng 
tôi cao hơn, lỗ bẹn sâu và ổ bụng chúng tôi thấp 
hơn rất nhiều. Sở dĩ như vậy có thể do chúng tôi 
khám và tư vấn tầm quan trọng của việc theo dõi 
và điều trị sau khi sinh nên những trường hợp mà 
tinh hoàn ở lỗ bẹn ngoài gia đình vẫn đưa trẻ tới 
khám làm cho tỉ lệ này cao. Của Nguyễn Thị Ân 
và các tác giả trong nước khi gia đình không thấy 
tinh hoàn thì mới đưa trẻ tới khám, còn tinh hoàn 
ở lỗ bẹn nông họ sờ thấy và nghĩ sẽ xuống nên 
không đưa tới khám [6,7,1].
Mục đích điều trị là đưa tinh hoàn xuống bìu 
để bảo vệ chức năng và tránh biến chứng sau này. 
Từ nhiều năm nay có 2 phương pháp điều trị đó 
là Hormon ( HCG, GnRH ) và phẫu thuật hạ tinh 
hoàn. Không có nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên 
nào giữa 2 biện pháp này. Chính vì vậy ở Mỹ ưu 
tiên mổ hạ tinh hoàn nhiều hơn, Châu Âu ưu tiên 
Hormon trước, nếu không thành sẽ mổ hạ tinh 
hoàn. Nhiều tác giả thông báo tỉ lệ thành công 
của điều trị nội khoa rất khác nhau từ 14 – 65 %, 
nó phụ thuộc vào vị trí của tinh hoàn, điều trị 1 
thuốc hay phối hợp 2 thuốc, nhưng gộp lại thì tỉ lệ 
xuống bìu của tinh hoàn khỏang 20 – 25 %[6,1,8]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy xuống hoàn 
toàn 24 % , nhưng trường hợp ở lỗ bẹn ngoài 
xuống bìu 62,5 %, ống bẹn 8,9 %, lỗ bẹn sâu và 
ổ bụng chưa thấy trường hợp nào mà chủ yếu 
xuống một phần ( 60 % ). Số liệu của chúng tôi 
cũng phù hợp với Nguyễn Thị Ân ( 2000 ) có 4 ở 
lỗ bẹn ngoài thì xuống 3, ống bẹn xuống 8,4 %, lỗ 
bẹn trong và ổ bụng xuống một phần 79,2 %. Có 
thể đây chính là vấn đề thuận lợi cho phẫu thuật 
nếu điều trị nội không thành [6]. Tuy nhiên một 
số nghiên cứu gần đây thấy rằng ngay sau điều trị 
Hormon tế bào gốc sinh tinh có tăng so với không 
điều trị nhưng khi theo dõi tới tuổi trưởng thành 
thì có tới 50 % tinh hoàn có thể tích nhỏ hơn. Liệu 
có khả năng HCG làm tổn thương tế bào sinh tinh 
sau này hay không? Một số nghiên cứu khác lại 
thấy không có bằng chứng HCG làm tổn thương, 
vì vậy còn đang cân nhắc lựa chọn mổ ngay hay 
không [1,9,10].
Mổ thì có làm hồi phục chức năng tinh hoàn 
hay không? Hiện nay còn thiếu nghiên cứu đối 
chứng, tuy vậy xu hướng mổ sớm vẫn được nhiều 
tác giả đồng tình. Tại Mỹ, năm 1986 khuyến cáo 
mổ khi trẻ 4 – 6 tuổi, nhưng đến năm 1996 thì 
lại khuyến cáo mổ lúc 1 tuổi vì tinh hoàn không 
xuống bìu vẫn bình thường lúc 1 – 2 tuổi và bắt 
đầu thoái hóa nhanh chóng sau tuổi này. Kollin C 
và cộng sự ( 2006 ) theo dõi sau mổ từ 1 – 2 năm 
thấy rằng những trẻ mổ trước 2 tuổi có thể tích 
tinh hoàn to hơn rõ rệt so với mổ sau 2 tuổi [2]. 
Okuyama A và cộng sự ( 1989 ) thấy rằng mổ sớm 
còn có tác dụng duy trì tốt chức năng tinh hoàn 
bên lành so với mổ muộn. Đặc biệt 2008 Châu Âu 
đưa ra đồng thuận nên mổ trước 1 tuổi (4,11) Vì 
vậy lựa chọn mổ hạ tinh hoàn của chúng tôi 1 – 2 
tuổi là phù hợp với khuyến cáo của các tác giả trên 
thế giới. Kết quả phẫu thuật của chúng tôi ( bảng 
4 ) thấy lỗ bẹn và ống bẹn mổ đưa xuống bìu được 
hoàn toàn, nhưng ổ bụng và lỗ bẹn trong có 13 
tinh hoàn thì đưa xuống bìu được 9, 2 tinh hoàn cố 
định vào ống bẹn chờ mổ thì 2 và không tìm thấy 
2 tinh hoàn. Theo nghiên cứu của Hoàng Tiến Việt 
(2007) [7] hạ được tinh hoàn xuống bìu 100% ở 
trẻ ẩn tinh hoàn được mổ trước 2 tuổi. Nhận định 
của Joel M Sumfest và cộng sự ( 2012 ) THKXB sờ 
thấy tỉ lệ thành công là 95 – 96 %, ở đây chúng tôi 
chưa gặp trường hợp nào không thành công. Biến 
chứng sau mổ : cắt vào mạch máu, teo tinh hoàn, 
nhiễm trùng, phù nề tinh hoànchúng tôi chưa 
gặp nhưng theo y văn tỉ lệ này từ 1 – 5 % và chúng 
tôi cần phải theo dõi thêm [1,11].
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
117
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 114 - 117, 2013
v/ Kết luận : 
Qua theo dõi và điều trị 104 trường hợp tinh 
hoàn không xuống bìu từ sơ sinh đến 2 tuổi chúng 
tôi rút ra một số kết luận : 
- Điều trị HCG xuống bìu hoàn toàn 24 % , xuống 
1 phần 31,7 % , không xuống 44,2 % 
- Tinh hoàn ở lỗ bẹn ngoài điều trị HCG xuống 
bìu hoàn toàn 62,5 % , ống bẹn xuống 8,9 % 
- Tinh hoàn ở lỗ bẹn nông và ống bẹn mổ hạ 
thành công 100 % , ổ bụng và lỗ bẹn sâu xuống 9/11 
tinh hoàn, xuống một phần 2/11, không tìm thấy 
2/13 THKXB không sờ thấy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Minh Sâm. Kỹ thuật kéo dài thừng tinh 
trong điều trị tinh hoàn ẩn thể cao; Luận án tiến sỹ y 
học. ĐH Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 2006.
2. Kaleva M, Arsalo A, Lonhimo I, Rapola J, et all. 
Treatment with Human chorionic gonadotrophin 
for cryptorchidism: clinical and histological 
effects. International Journal of andrology, 
1996,19(5):293-298.
3. Sekabira. J, Kaggwa.S, Birabwa Male. D. 
Prevalence and patterns of undescended testis 
among primary school pupils in Kampala, Uganda. 
East and central African Journal of Surgery; 
2005,P 13-17.
4. Lê Tất Hải. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật 
nội soi điều trị tinh hoàn không xuống bìu, không sờ 
thấy. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II 
Trường ĐHY Hà Nội; 2006.
5. E Martin Rit zen et al. Undescended testes: 
a consensus on management. The 5th Ferring 
International paediatric Edocrinology Symposium, 
Baveno, Italy 2008 .
6. Nguyễn Thị Ân. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 
và hiệu quả của HCG trong điều trị THKXB ở trẻ em. 
Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ y khoa – Trường ĐHY Hà 
Nội, 2000.
7. Hoàng Tiến Việt. Đánh giá kết quả điều trị phẫu 
thuật tinh hoàn không xuống bìu tại Bệnh viện Việt 
Đức. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyên khoa cấp 
II – Trường ĐHY Hà Nội; 2007.
8. Steven G Docimo, Richard I Silver, William 
Crome. The undescended testical: Diagnosis 
and management. Published by the American 
Academy of family physicians. November 1. 2000; 
Vol 62, No 9, P 2037-47
9. Hadziselinovic F. Cryptorchidism: Management 
and implication. Berlin, 1983, Springer 11-13
10. Joel M Sumfest, Edward David Kim. 
Cryptorchidism treatment & management. 
http:// emedicine.medscape.com/article/438378-
treatment#a28, Jan 20,2012
11. Kollin C, Hesser U, Ritzen EM, Karpe B. 
Testicular growth from birth to 2 years of age, 
and the effect of orchidopexy at age nine moths: a 
randomized, controlled study; pubMed, 2006 Mar, 
95(3):318-24.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_noi_va_ngoai_khoa_tinh_hoan_khong.pdf