Đánh giá kết quả điều trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa bằng kỹ thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp tại Bệnh viện Quân Y 7a

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật và hàn xương trên X quang, xác định các

biến chứng của phương pháp hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp (TLIP) trong điều

trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa.

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, gồm 37 bệnh nhân được phẫu

thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp. Đánh giá lượng máu mất, thời gian nằm

viện và các biến chứng trong và sau mổ. Kết quả lâm sàng được đánh giá bằng thang

điểm VAS, Macnab. Kết quả hàn xương được đánh giá bằng X-quang và CT scan theo

Bridwell.

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa bằng kỹ thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp tại Bệnh viện Quân Y 7a", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả điều trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa bằng kỹ thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp tại Bệnh viện Quân Y 7a

Đánh giá kết quả điều trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa bằng kỹ thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp tại Bệnh viện Quân Y 7a
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
50
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MẤT VỮNG CỘT SỐNG THẮT 
LƯNG DO THOÁI HÓA BẰNG KỸ THUẬT HÀN XƯƠNG LIÊN 
THÂN ĐỐT QUA LỖ LIÊN HỢP TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 7A
Bùi Thanh Hoàng1, Lê Quang Trí1 
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật và hàn xương trên X quang, xác định các 
biến chứng của phương pháp hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp (TLIP) trong điều 
trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa. 
Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, gồm 37 bệnh nhân được phẫu 
thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp. Đánh giá lượng máu mất, thời gian nằm 
viện và các biến chứng trong và sau mổ. Kết quả lâm sàng được đánh giá bằng thang 
điểm VAS, Macnab. Kết quả hàn xương được đánh giá bằng X-quang và CT scan theo 
Bridwell. 
Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình 160 ± 28 phút. Lượng máu mất 230 
± 109 ml. Số ngày nằm viện trung bình sau mổ 8,67 ± 1,66 ngày. Mức độ giảm đau sau 
mổ rõ rệt VAS = 3,72 ± 1,04; sau 1 năm là 1,64 ±1,28. Kết quả sau mổ ở thời điểm ra 
viện tốt chiếm 70.27%; sau 1 năm tỷ lệ tốt và rất tốt là 93,54%. Kết quả hàn xương tốt 
sau 1 năm là 93,34%. 
Kết luận: Điều trị mất vững cột sống thắt lưng do thoái hóa bằng phẫu thuật 
giải ép và hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp là phương pháp an toàn và hiệu quả, 
đạt được kết quả điều trị tốt về mặt lâm sàng, với tỷ lệ hàn xương cao.
SURGICAL TREATMENT OF DEGENERATIVE LUMBAR 
INSTABILITY BY TRANSFORAMINAL LUMBAR INTERBODY FUSION IN 
7A MILITARY HOSPITAL
1 Bệnh viện Quân y 7A
Người phản hồi (Corresponding): Bùi Thanh Hoàng ([email protected])
Ngày nhận bài: 28/4/2020, ngày phản biện: 6/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
51
SUMMARY
Objectives: To evaluate clinical results and bone fusion, complications of 
Transforaminal lumbar interbody fusion (TLIP) technique for treatment of lumbar spine 
instability.
Methods: A prospective cohort study, consisting of 37 patients treated with 
Transforaminal lumbar interbody fusion. Assess blood loss, length of hospital stay and 
complications during and after surgery. Clinical results were assessed using VAS and 
Macnab scale. Bone fusion was assessed by X-ray and CT scan according to Bridwell.
Results: The average surgery time 160 ± 28 minutes. The amount of blood lost 
was 230 ± 109 ml. The average number of days hospitalized after surgery 8.67 ± 1.66 
days. Significant analgesic pain after surgery VAS = 3.72 ± 1.04; after 1 year is 1.64 ± 
1.28. Postoperative results at the time of good discharge accounted for 70.27%; After 
1 year, the good and very good rate is 93.54%. The results of good bone fusion after 1 
year were 93.34%. 
Conclusion: Treatment of vertebral instability by transforaminal lumbar 
interbody fusion is a safe and effective method, achieving good clinical results, with 
high bone fusion rate.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất vững cột sống là tình trạng di 
lệch của đơn vị vận động cột sống vượt 
quá giới hạn vận động bình thường của nó 
[10]. Mất vững cột sống thắt lưng do thoái 
hóa là bệnh lý thường gặp, và là một vấn 
đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, bởi lẽ 
nó làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng 
nguy cơ gây tàn phế cho bệnh nhân. Phẫu 
thuật giải ép thần kinh và làm vững lại cấu 
trúc cho cột sống là vấn đề then chốt trong 
điều trị bệnh lý này. 
Hàn xương liên thân đốt qua lỗ 
liên hợp đã được thực hiện cách nay nhiều 
thập kỷ. Năm 1982 Harm và Rolinger là 
những tác giả đầu tiên mô tả kỹ thuật này 
với mục đích làm giảm các biến chứng, 
rút ngắn thời gian phẫu thuật, giảm lượng 
máu mất trong mổ, nhưng vẫn đạt được 
quá trình liền xương cao. Phương pháp 
này còn được gọi là hàn liên thân đốt lối 
sau một bên (unilateral Posterior Lumbar 
Interbody Fusion), nó bảo tồn hệ thống dây 
chằng phía sau bởi cắt đĩa đệm qua lỗ liên 
hợp sau khi cắt bỏ khối mấu khớp một bên 
nhằm tránh tổn thương thần kinh, tránh mô 
sẹo ngoài màng cứng, ít gây mất vững sau 
mổ do không mở ống sống; dây chằng dọc 
sau, dây chằng vàng, dây chằng liên gai – 
trên gai , bản sống và khối mấu khớp bên 
kia còn nguyên vẹn [2], đồng thời phương 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
52
pháp này có thể tránh được các biến chứng 
mà đường vào lối trước hoặc lối sau hay 
gặp phải.
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu này nhằm: Đánh giá kết quả 
phẫu thuật, mức độ hàn xương và các biến 
chứng của kỹ thuật hàn xương liên thân 
đốt qua lỗ liên hợp trong điều trị mất vững 
cột sống thắt lưng do thoái hóa tại Bệnh 
viện Quân y 7A. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 37 bệnh nhân, tuổi trung 
bình 59,24 ± 7,38 được chẩn đoán mất 
vững cột sống thắt lưng do thoái hóa được 
điều trị phẫu thuật theo phương pháp hàn 
liên thân đốt qua lỗ liên hợp tại Bệnh Viện 
Quân Y 7A, từ 1/2017- 1/2019.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: đoàn hệ 
tiến cứu.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
+ Lâm sàng: bệnh nhân đau thắt 
lưng tái đi tái lại, đau khi thay đổi tư thế; 
giảm khi nghỉ ngơi, mang nẹp lưng; đau 
cách hồi. Đau có thể lan xuống chân theo 
rễ thần kinh bị chèn ép.
 + Hình ảnh học
Phim X quang quy ước và Xquang 
động: đốt sống trên trượt ra trước hoặc ra 
sau ít nhất là 3mm so với đốt sống dưới, 
hoặc hơn 9% bề mặt thân đốt sống trên 
phim X quang chụp tư thế cúi và ngửa; và 
(hoặc) có sự gập góc giữa 2 bề mặt thân 
đốt kế tiếp nhau trên 9°; khí trong đĩa 
đệm, xẹp đĩa đệm, hai mặt khớp cấp kênh 
không đều [10].
Chụp CT scanner hoặc cộng 
hưởng từ (MRI): dấu hiệu hẹp khe mấu 
khớp bên, phì đại mấu khớp bên làm hẹp 
ống sống, khe mấu khớp đổi hướng song 
song với đường giữa, mất sự đối xứng giữa 
2 rãnh mấu khớp bên, kén hoạt dịch mấu 
khớp trong ống sống ngoài màng cứng, 
thoát vị đĩa đệm bên mấu khớp bị nén ép, 
xoay đốt sống.
 Hình ảnh bán trật mấu khớp bên 
một bên, hoặc hẹp khe mấu khớp bên một 
bên và mở rộng khe mấu khớp bên của bên 
kia trên phim MSCT nghiệm pháp xoay 
thân. 
- Kỹ thuật mổ: mê nội khí quản, 
Bệnh nhân nằm sấp, hơi gập người, được 
kê nệm mềm ở hai vai, mạn sườn và hai 
cánh chậu. Xác định mấu gai tầng cần can 
thiệp trên Carm, đường rạch da dọc gai sau 
mấu gai, bóc tách và bộc lộ bản sống, khối 
khớp 2 bên. Đặt ốc chân cung, và thanh 
dọc nắn chỉnh sau đó cắt một phần bản 
sống và mấu khớp, lấy bỏ đĩa đệm, làm 
sạch mặt sụn khớp và hàn xương liên thân 
đốt bằng mảnh ghép PEEK. Chú ý không 
cắt bỏ bản sống hoàn toàn, không cắt bỏ 
dây chằng trên gai và liên gai. 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
53
- Theo dõi và đánh giá sau mổ:
Đánh giá tình trạng đau trước và 
sau mổ theo thang điểm VAS, thời điểm 6 
tháng sau mổ, thời điểm 1 năm sau mổ 
Đánh giá kết quả hồi phục sau mổ 
theo Macnab [12]
Các biến chứng sớm và muộn
Sự hàn xương được đánh giá 
bằng X-quang và CT scanner . Mức độ 
hàn xương được đánh giá theo tiêu chuẩn 
Bridwell [3]
Bảng 1: mức độ hàn xương theo tiêu chuẩn Bridwell
Độ 1 (Tốt) Liền xương vững chắc với các cầu xương mới nối liền hai diện 
xương đốt sống trên và dưới 
Độ 2 (Khá) Mảnh ghép giữ nguyên vị trí, xương tân tạo không hoàn toàn 
nhưng không thấy các đường thấu quang trên phim chụp
Độ 3 (Trung bình) Mảnh ghép giữ nguyên vị trí nhưng có đường thấu quang ở 
phía trên hoặc dưới mảnh ghép 
Độ 4 (Kém) Khớp giả, tiêu xương
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Epi info7.0. Phép kiểm T với mẫu bắt 
cặp so sánh hai số trung bình, giá trị p ≤ 0.05 được xem là có ý nghĩa.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Thời gian phẫu thuật trung bình là 160 ± 28 phút, lượng máu mất trung bình 
trong mổ là 230 ± 109 ml.
Bảng 2: Lâm sàng trước và sau mổ
Triệu chứng Biểu hiện Trước mổ Lần tái khám cuối
Đau thắt lưng 
Đơn thuần 26 6
Đau động 11
Đau cách hồi Đi cách hồi 22 2
Đau theo rễ thần kinh 28 3
Rối loạn vận động
Yếu gấp mu hoặc 
gấp gan chân 7 1
Rối loạn cảm giác Tê chân 18 3
Rối loạn dinh dưỡng Teo cơ 7 1
Rối loạn cơ vòng Tiểu khó 2 0
Nhận xét: có 100% bệnh nhân có biểu hiện đau lưng, trong đó có 11 bệnh nhân 
(29,72%) có biểu hiện đau động. Có 28 bệnh nhân (75,67%) có triệu chứng đau theo rễ 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
54
thần kinh, tình trạng đi cách hồi gặp 59,45%. 
Bảng 3: Hình ảnh tổn thương trên X quang và CHT
Hình ảnh tổn thương n %
X quang
Trượt đốt sống do thoái hóa 12 32,43% 
Trượt đốt sống trên phim X quang động 17 45,95% 
Khí trong đĩa đệm 13 35,14% 
Hẹp khe đĩa đệm 32 86,49% 
Gai cột sống 35 94,59% 
Hai mặt khớp không đều 17 45,95% 
Cộng hưởng từ
Thoát vị đĩa đệm 28 75,68% 
Hẹp ống sống 22 59,46% 
Phì đại mấu khớp 17 45,95% 
Nang hoạt dịch mấu khớp 7 18,92% 
Nhận xét: hình ảnh tổn thương 
hay gặp nhất trên phim Xquang là gai cột 
sống ̣94,59% và hẹp khe đĩa đệm 86,49%, 
trên phim Xquang gặp 12/37 trường hợp 
có trượt đốt sống, tuy nhiên, trên phim 
Xquang động gặp 17/37 trường hợp. Có 13 
bệnh nhân (35,14%) gặp hình ảnh có khí 
trong đĩa đệm. Trên phim CHT tỷ lệ thoát 
vị đĩa đệm gặp nhiều nhất với 28 trường 
hợp, hẹp ống sống gặp 22/37 trường hợp, 
phì đại mấu khớp cũng gặp với tỷ lệ cao là 
17/37 chiếm 45,95%. Có 7 bệnh nhân có 
hình ảnh nang hoạt dịch trong mấu khớp. 
Bảng 4: Vị trí hàn xương
Vị trí hàn xương Số BN Tỷ lệ
N11-N12 1 2,70%
L23 1 2,70%
L23-L34-L45 2 5,41%
L34 2 5,41%
L34-L45 2 5,41%
L34-L45-L5S1 5 13,51%
L45 12 32,43%
L45-L5S1 8 21,62%
L5S1 4 10,81%
Tổng 37 100%
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
55
Biểu đồ 1: Mức độ đau lưng và đau chân trước và sau mổ theo thang điểm VAS
Nhận xét: Mức độ đau chân và đau lưng trước mổ, sau mổ, khám lại sau 6 tháng 
và 1 năm theo thang điểm VAS cho thấy mức độ đau chân và đau lưng giảm dần có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Biểu đồ 2: Kết quả phẫu thuật theo Macnab
Kết quả sau mổ ở thời điểm ra viện có kết quả tốt là 26/37 chiếm 70.27%. có 
9/27 ca có kết quả trung bình chiếm 33,33%, 2 ca có kết quả xấu, chiếm 7,04%. Sau 6 
tháng tỷ lệ đạt kết quả rất tốt là 24/37 chiếm 64,86% và sau 1 năm tỷ lệ này là 22/31 ca 
chiếm 70.96%. Sự cải thiện tình trạng sau mổ có ý nghĩa thống kê với P< 0,05. 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
56
Bảng 5: Kết quả hàn xương
Sau mổ 6 tháng (N= 37) Sau mổ 1 năm (N = 31)
Hàn tốt 10 (27,02%) 29 (93,54%)
Hàn khá 24 (64,86%) 2 (6,45%)
Hàn trung bình 3 (8,1%)
Tổng 37 (100%) 31 (100%)
Nhận xét: Sau mổ 6 tháng, tỷ lệ hàn xương tốt chiếm 10/37 ca, tỷ lệ 27,2%, tỷ 
lệ này sau mổ 1 năm là 29/31 93,54%
- Biến chứng sớm sau mổ: 2 bệnh nhân liệt gấp mu chân nặng hơn trước mổ, 3 
bệnh nhân nhiễm trùng nông sau mổ
4. BÀN LUẬN
4. 1. Chỉ định phẫu thuật: 
- Thời gian bệnh kéo dài lâu, đã 
điều trị bảo tồn đúng mức thời gian dài 
không hiệu quả trên ba tháng: Trong nhóm 
bệnh nhân chúng tôi, thời gian đau thắt 
lưng trung bình là 31,64 ± 13,62 tháng do 
bệnh nhân thường đến muộn sau khi điều 
trị bảo tồn bằng các biện pháp khác nhau 
không hiệu quả.
- Có 100% bệnh nhân có biểu 
hiện đau lưng, trong đó có 11 bệnh nhân 
(29,72%) có biểu hiện đau động. Có 28 
bệnh nhân (75,67%) có triệu chứng đau 
theo rễ thần kinh, tình trạng đi cách hồi 
gặp 59,45%.
- Hình ảnh học mất vững cột sống 
do thoái hóa cột sống thắt lưng rõ (bảng 3): 
dựa trên tập hợp nhiều triệu chứng (ít nhất 
4) trong nhóm triệu chứng sau: gai căng 
(Mc Nab, hẹp đĩa sống, trượt thân đốt sống 
ra trước trên 3mm so sánh cúi ngửa hình X 
quang động ngang, thoái hóa mấu khớp, 
khí trong đĩa đệm, khí trong khe khớp, mất 
vững xoay). 
- Các cử động liên đoạn xương 
sống bất thường và hậu quả mất vững cột 
sống là nguyên nhân gây đau thắt lưng. Sự 
liên hệ rất có ý nghĩ giữa đau thắt lưng do 
nguyên nhân đĩa sống và sự chuyển lực 
quá tải lên đĩa sống thoái hóa và thân sống 
kề bên Khi phẫu thuật bằng hàn liên thân 
đốt sau và cố định ốc chân cung vững phía 
sau sẽ cải thiện sự đau do nguyên nhân đĩa 
sống này.
4. 2. Kết quả phẫu thuật: 
Tất cả BN được phẫu thuật cố 
định cột sống bằng vít qua cuống sống, 
cắt mấu khớp một bên, kết hợp mở một 
phần bản sống , lấy đĩa đệm tầng bệnh lý, 
ghép xương liên thân đốt bằng lồng PEEK 
và xương cung sau tự thân.Trong đó tỷ lệ 
bệnh nhân được hàn xương 1 tầng chiếm 
tỷ lệ cao nhất là 67,57%, tỷ lệ hàn xương 
2 tầng chiếm 21,62%. Vị trí đĩa đệm mất 
vững nhiều nhất là khe L4L5 (29/61 đĩa 
đệm) chiếm 47,54%. 
Hàn xương liên đốt qua lỗ liên hợp 
bằng đường mổ mở kinh điển đã được thực 
hiện từ nhiều thập niên trước đây bởi Harms 
và Rolinger [2], và ngày nay nó vẫn được 
tiếp tục sử dụng như là một phương pháp 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
57
khá an toàn và hiệu quả tại nhiều trung tâm 
phẫu thuật bởi tính đơn giản, dễ thực hiện 
và cho phẫu trường rộng. Với đường vào 
qua lỗ liên hợp (TLIF – Transforaminal 
Lumbar Interbody Fusion): mặt khớp dưới 
được cắt, lỗ liên hợp được mở rộng hoàn 
toàn, rễ thần kinh thoát ra được giải ép một 
cách thỏa đáng. Do đó, để bộc lộ khoảng 
gian đĩa trong đa số các trường hơp không 
cần phải vén rễ thần kinh nhiều, chỉ cần 
vén nhẹ bao màng cứng vào trong nên rất 
ít gây tổn thương rễ thần kinh. 
Trong 37 trường hợp nghiên cứu 
của chúng tôi không có trường hợp nào bị 
tổn thương rễ thần kinh nặng hơn trước 
mổ. Chúng tôi cũng đồng ý với nhiều tác 
giả rằng sự ra đời của phương pháp TLIF 
có thể sẽ thay thế dần cho PLIF [5],[7], bởi 
vì không những cho phép thực hiện được 
HXLTĐ tạo vững chắc cho cột trước, duy 
trì được chiều cao liên thân đốt, giải ép tốt 
cho các yếu tố thần kinh phía sau mà còn 
hạn chế được biến chứng tổn thương rễ sau 
mổ. Kết quả điều trị sau phẫu thuật giải 
ép các yếu tố thần kinh, khôi phục và làm 
vững lại cấu trúc cho cột sống là vấn đề 
then chốt trong điều trị mất vững cột sống 
thắt lưng, mà ở đây phương pháp HXLTĐ 
qua lỗ liên hợp cải biên hoàn toàn có thể 
đạt được.
 Trong nghiên cứu của chúng tôi 
kết quả sau mổ tốt và rất tốt đạt 93.54 %, 
mức độ đau cũng được cải thiện đáng kể, 
VAS cải thiện từ 7,37 + 0,82 đến 1,64 ± 
1,28. Tỷ lệ hàn xương đạt 93.54% sau 1 
năm phẫu thuật. 31/37 ca hết đau lưng; 
2/22 ca hết đau cách hồi, tỷ lệ hồi phục 
vận động là 6/7 ca. 
Kết quả này cũng phù hợp với 
kết quả của Yan [11]. Chúng tôi cho rằng 
phương pháp HXLTĐ qua lỗ liên hợp là 
một lựa chọn thích hợp cho bệnh lý trượt 
mất vững, hẹp ống sống thoái hóa, thoát 
vị đĩa đệm tái phát hoặc khối lớn một bên 
chiếm gần trọn ống sống kèm thoái hóa đĩa 
đệm [4], [6].
4.3. Biến chứng
- 02 trường hợp có tai biến liệt gấp 
mu chân sau mổ thoáng qua. Một trong 2 
bệnh nhân này đã có yếu gấp mu trước mổ, 
trong quá trình mổ, chúng tôi không làm 
rách hay đứt rễ. Tuy vậy, những trường 
hợp này có thể do rễ thần kinh bị căng 
trong quá trình đặt mảnh ghép đĩa đệm. 
Bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc 
tăng dẫn truyền thần kinh và tập vật lý trị 
liệu tích cực và hồi phục sức cơ ở lần khám 
cuối cùng.
- 03 trường hợp nhiễm trùng nông 
sau mổ, đây đều là những bệnh nhân có 
bệnh lý đái tháo đường kèm theo, trước 
mổ và trong mổ bệnh nhân được kiểm soát 
đường huyết, tuy nhiên sau ra viện bệnh 
nhân kiểm soát đường huyết kém. Chúng 
tôi không gặp trường hợp nào nhiễm trùng 
sâu phải tháo bỏ nẹp vít. Các nghiên cứu 
của Humphreys[6] và Mobbs[8] không 
gặp trường hợp nào có tai biến trong mổ.
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 37 trường hợp mất 
vững cột sống thắt lưng do thoái hóa được 
phẫu thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ 
liên hợp, chúng tôi thấy đây là một phương 
pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị mất 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
58
vững cột sống thắt lưng do thoái hóa. Với 
tỷ lệ hàn xương cao, đạt kết quả tốt về mặt 
lâm sàng,lượng máu mất ít, thời gian nằm 
viện ngắn, tỷ lệ biến chứng thấp. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Thành, V.V., Điều trị mất vững 
cột sống thắt lưng do trượt đốt sống thoái hóa 
bằng phẫuthuật cố định ốc chân cung và hàn 
liên thân đốt lối sau bằng nêm peek. Thời sự y 
học, 2016. 09.
2. Harms, J. and H. Rolinger, [A one-
stager procedure in operative treatment of 
spondylolistheses: dorsal traction-reposition 
and anterior fusion (author’s transl)]. Z Orthop 
Ihre Grenzgeb, 1982. 120(3): p. 343-7.
3. Bridwell, K.H., et al., The role of 
fusion and instrumentation in the treatment 
of degenerative spondylolisthesis with spinal 
stenosis. J Spinal Disord, 1993. 6(6): p. 461-72.
4. Hee, H.T., et al., Do autologous 
growth factors enhance transforaminal lumbar 
interbody fusion? Eur Spine J, 2003. 12(4): p. 
400-7.
5. Holly, L.T., et al., Minimally 
invasive transforaminal lumbar interbody 
fusion: indications, technique, and 
complications. Neurosurg Focus, 2006. 20(3): 
p. E6.
6. Humphreys, S.C., et al., 
Comparison of posterior and transforaminal 
approaches to lumbar interbody fusion. Spine 
(Phila Pa 1976), 2001. 26(5): p. 567-71.
7. Lee, C.K., J.Y. Park, and H.Y. 
Zhang, Minimally invasive transforaminal 
lumbar interbody fusion using a single 
interbody cage and a tubular retraction system 
: technical tips, and perioperative, radiologic 
and clinical outcomes. J Korean Neurosurg 
Soc, 2010. 48(3): p. 219-24.
8. Mobbs, R.J., et al., Lumbar 
interbody fusion: techniques, indications 
and comparison of interbody fusion options 
including PLIF, TLIF, MI-TLIF, OLIF/ATP, 
LLIF and ALIF. J Spine Surg, 2015. 1(1): p. 
2-18.
9. Parker, S.L., et al., Utility of 
minimum clinically important difference in 
assessing pain, disability, and health state 
after transforaminal lumbar interbody fusion 
for degenerative lumbar spondylolisthesis. J 
Neurosurg Spine, 2011. 14(5): p. 598-604.
10. White, A.A., 3rd, et al., 
Biomechanical analysis of clinical stability 
in the cervical spine. Clin Orthop Relat Res, 
1975(109): p. 85-96.
11. Yan, D.-l., et al., Comparative 
study of PILF and TLIF treatment in adult 
degenerative spondylolisthesis. European 
spine journal : official publication of the 
European Spine Society, the European Spinal 
Deformity Society, and the European Section 
of the Cervical Spine Research Society, 2008. 
17(10): p. 1311-1316.
12. Gotecha, S., et al., The role of 
transforaminal percutaneous endoscopic 
discectomy in lumbar disc herniations. 
Journal of craniovertebral junction & spine, 
2016. 7(4): p. 217-223.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_mat_vung_cot_song_that_lung_do_tho.pdf