Đánh giá kết quả điều trị laser nội tĩnh mạch trong bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới tại Bệnh viện Trung ương Huế với laser bán dẫn bước sóng 1470nm

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phương pháp điều trị laser nội tĩnh mạch để điều trị bệnh lý suy giãn tĩnh mạch

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang các bệnh nhân suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới được chẩn đoán bằng siêu âm Doppler mạch máu.

Kết quả: Từ 11/2014 đến 12/2015 Có 72 trường hợp laser nội tĩnh mạch được chọn nghiên cứu độ tuổi từ 20 – 78, tỉ lệ nữ / nam là 4/1, 71 trường hợp can thiệp trên tĩnh mạch hiển lớn chiếm tỉ lệ 98,6%, chỉ có 1 trường hợp tĩnh mạch hiển bé (1,4%). Đa số được thực hiện laser nội tĩnh mạch với bước sóng 1470 nm, công suất 6 – 10 w. Có 4 trường hợp phải kết hợp với Muller và 8 trường hợp phối hợp tiêm xơ bọt. Phần lớn trường hợp gây tê tại chỗ chỉ có 4 trường hợp gây tê tủy sống ( 8%). Kết quả bước đầu rất tốt, không có biến chứng trong quá trình thao tác. Đánh giá lâm sàng sau can thiệp đa số bệnh nhân không đau hoặc đau nhẹ không cần dùng thuốc giảm đau, một trường hợp đau nhiều cần phải dùng thuốc giảm đau mạnh khoảng 5 ngày. Siêu âm sau can thiệp 1 tuần: 100% trường hợp tĩnh mạch được can thiệp teo nhỏ và không có dòng chảy bên trong, không có huyết khối tĩnh mạch sâu và nông. Một số bệnh nhân tái khám sau 3 tháng, sau 6 tháng vẫn cho kết quả rất tốt hầu như không có tái phát.

Kết luận: Phương pháp laser nội tĩnh mạch trong điều trị suy giãn tĩnh mạch là phương pháp được ưa chuộng trong thập niên gần đây vì tính ưu việt như: ít xâm lấn, tỉ lệ thành công cao, ít biến chứng và có tính thẩm mỹ cao, nhanh chóng đưa người bệnh về cuộc sống thường nhật

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị laser nội tĩnh mạch trong bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới tại Bệnh viện Trung ương Huế với laser bán dẫn bước sóng 1470nm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả điều trị laser nội tĩnh mạch trong bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới tại Bệnh viện Trung ương Huế với laser bán dẫn bước sóng 1470nm

Đánh giá kết quả điều trị laser nội tĩnh mạch trong bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới tại Bệnh viện Trung ương Huế với laser bán dẫn bước sóng 1470nm
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG BỆNH LÝ SUY GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 19 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG BỆNH LÝ SUY GIÃN 
TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ VỚI LASER BÁN DẪN 
BƯỚC SÓNG 1470NM 
Nguyễn Thị Cẩm Vân*, Tôn Thất Thắng*, Đặng thị Thanh Vân* Phan Hà Thùy Trang* 
 Trần Thanh Thái Nhân*, Trần Hoài Ân*
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phương pháp điều trị 
laser nội tĩnh mạch để điều trị bệnh lý suy giãn tĩnh mạch 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 
mô tả cắt ngang các bệnh nhân suy giãn tĩnh mạch nông chi 
dưới được chẩn đoán bằng siêu âm Doppler mạch máu. 
Kết quả: Từ 11/2014 đến 12/2015 Có 72 trường 
hợp laser nội tĩnh mạch được chọn nghiên cứu độ tuổi 
từ 20 – 78, tỉ lệ nữ / nam là 4/1, 71 trường hợp can thiệp 
trên tĩnh mạch hiển lớn chiếm tỉ lệ 98,6%, chỉ có 1 
trường hợp tĩnh mạch hiển bé (1,4%). Đa số được thực 
hiện laser nội tĩnh mạch với bước sóng 1470 nm, công 
suất 6 – 10 w. Có 4 trường hợp phải kết hợp với Muller 
và 8 trường hợp phối hợp tiêm xơ bọt. Phần lớn trường 
hợp gây tê tại chỗ chỉ có 4 trường hợp gây tê tủy sống ( 
8%). Kết quả bước đầu rất tốt, không có biến chứng 
trong quá trình thao tác. Đánh giá lâm sàng sau can 
thiệp đa số bệnh nhân không đau hoặc đau nhẹ không 
cần dùng thuốc giảm đau, một trường hợp đau nhiều cần 
phải dùng thuốc giảm đau mạnh khoảng 5 ngày. Siêu 
âm sau can thiệp 1 tuần: 100% trường hợp tĩnh mạch 
được can thiệp teo nhỏ và không có dòng chảy bên 
trong, không có huyết khối tĩnh mạch sâu và nông. Một 
số bệnh nhân tái khám sau 3 tháng, sau 6 tháng vẫn cho 
kết quả rất tốt hầu như không có tái phát. 
Kết luận: Phương pháp laser nội tĩnh mạch trong 
điều trị suy giãn tĩnh mạch là phương pháp được ưa 
chuộng trong thập niên gần đây vì tính ưu việt như: ít 
xâm lấn, tỉ lệ thành công cao, ít biến chứng và có tính 
thẩm mỹ cao, nhanh chóng đưa người bệnh về cuộc 
sống thường nhật. 
EVALUATING THE RESULTS OF ENDOVENOUS 
LASER TREATMENT FOR LOWER LIMB 
VENOUS INSUFFICIENCY IN HUE CENTRAL 
HOSPITAL BY 1470NM DIODE LASER 
SUMMARY 
Objective: to evaluate the result of endovenous laser 
treatment for venous insufficiency. 
Methods: this is a cross-sectional study including 
the patient with venous insufficiency who underwent 
diagnose and treatment at hue central hospital 
Results: 
Lower limb venous insufficency (VI) is common. 
This disease is diagnosed by clinical symptoms and 
echodoppler. The surgical treatment remains a main 
method for this disease. Recently, there are many 
alternative methods for this disease such as 
sclerotherapy, radiofrequnce and laser ablation. Laser is 
one of effective methods for VI. Between december 
2014 and november 2015, there were 72 patients with 
VI at stage C2-3 (CEAP classification) underwent 
endovenous laser ablation. Patients were from 20 to 78 
years old with female and male ratio at 4/1. Patients 
with internal saphenous insufficency were 98,6% (71 
cases) and only 1.4% with external saphenous diease. 
Most of them were treated with laser wavelength at 
1470mm, power at 6-10W. There were 4 patients 
needed phlebectomy and 8 patients associated with 
sclerotherapy. Most of cases underwent local anesthesia, 
except for 4 patients needed spinal anesthesia (8%). 
The initial results were good, there were no 
complication related to the procedure. Most of patient 
were no pain after procedure. The number of patient 
with mild (no need of antalgics) and severe pain 
(needed fort antalgics for 5 days) after laser ablation 
were 4 cases and 1 case, respectively. 46 patients could 
return to daily activities at the day later. * 
Post procedure echography results at one week 
period: 100% of cases presented sclerosant veins and no 
intravenous flow, no deep venous thrombose. There 
were no recurrence at 3 and 6 month of medical revisit. 
Conclusion: endovenous laser treatment is a 
method of preference for VI because of its advandtages 
such as miniinvasive technique, high successive 
percentage, minime complication, high aesthetics and 
early to return daily activities. 
*Bệnh viện Trung Ương Huế 
Người chịu trách nhiệm khoa học: ThS. Trần Hoài Ân 
Ngày nhận bài: 10/01/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/02/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 20 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới là bệnh lý khá 
phổ biến. Chẩn đoán bệnh dựa vào các dấu chứng lâm 
sàng và siêu âm Doppler mạch máu. Trước đây phẫu 
thuật stripping gần như là lựa chọn duy nhất. Trong 
những năm gần đây, với sự tiến bộ của Y học có nhiều 
phương pháp điều trị như tiêm xơ bọt, sóng cao tầng và 
laser nội tĩnh mạch để điều trị bệnh lý này. Laser nội 
tĩnh mạch là một trong những phương pháp điều trị 
bệnh lý suy dãn tĩnh mạch nông chi dưới hiệu quả. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: Đánh 
giá kết quả phương pháp laser nội tĩnh mạch trong điều 
trị bệnh lý suy giãn tĩnh mạch 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Bao gồm 72 tĩnh mạch hiển được chẩn đoán suy 
dãn tĩnh mạch nông chi dưới nguyên phát điều trị nội trú 
tại bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 12/2014 đến 
11/2015. 
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
Các bệnh nhân được chẩn đoán suy giãn tĩnh mạch 
nông chi dưới nguyên phát qua siêu âm doppler mạch 
máu có đường kính tĩnh mạch từ 5mm trở lên. 
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ: 
Các bệnh nhân được chẩn đoán suy giãn tĩnh mạch 
nông chi dưới kèm huyết khối tĩnh mạch, tĩnh mạch 
nông giãn kèm uốn lượn nhiều, bệnh dị dạng mạch máu, 
bệnh về máu, có thai. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu:tiến cứu, theo dõi 
dọc theo thời gian 12 tháng. 
2.2.1. Phương tiện nghiên cứu: 
Máy VenaCure 1470 Laser bước sóng 1470 nm; 
Máy siêu âm Zonnare; kim chụp mạch máu 18G, dây 
dẫn (Guide-wire) 0.035; ống dẫn (Sheath) 5F; dung dịch 
Lidocaine 0,25% (100 – 120ml). Dung dịch Lidocaine 
1% để gây tê tại chỗ 
2.2.2. Các bước tiến hành 
- Khám lâm sàng và các xét nghiệm cơ bản. 
- Siêu âm doppler mạch máu đánh giá đường kính 
tĩnh mạch nông, dòng phụt ngượt, các nhánh xuyên, các 
nhánh bên, các tĩnh mạch hệ sâu. 
- Siêu âm vẽ đường đi tĩnh mạch và đánh dấu vị trí 
đâm kim. 
- Laser nội tĩnh mạch qua da dưới hướng dẫn của 
siêu âm. 
- Theo dõi bệnh nhân sau thủ thuật ghi nhận kết quả 
thủ thuật trong khoảng thời gian 12 tháng. 
2.4. Xử lí số liệu thống kê 
3. KẾT QUẢ 
Từ tháng 12/2014 đến 11/2015 có 52 bệnh nhân suy 
giãn tĩnh mạch nông chi dưới nhập bệnh viện Trung 
Ương Huế để điều trị laser. Chúng tôi đã can thiệp laser 
nội tĩnh mạch trên 72 tĩnh mạch hiển 
3.1. Đặc điểm chung 
Đặc điểm bệnh nhân Số lượng Tỉ lệ 
Tuổi trung bình 58,4 ± 12,1 
Nam 11 21,1% Giới Nữ 41 78,9% 
Số người 
mắc bệnh 
Ở một chi 32 61,5% 
 Ở hai chi 20 38,5% 
3.2. Đặc điểm lâm sàng: 
Triệu chứng Số lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
Đau chân 53 73,6 
Nặng chân, cảm giác nặng trong 
bắp chân 
72 100 
Bị sưng chân, căng bắp chân 46 63,9 
Ngứa chân 22 30,5 
Cảm giác nóng rát ở bắp chân 21 29,1 
Triệu chứng tăng lên khi đứng lâu 
một chỗ bất động 
72 100 
Tĩnh mạch dãn nổi ngoằn ngoèo 
trên chân 
72 100 
Loạn dưỡng da vùng cổ chân 3 4,2 
3.3. Đặc điểm siêu âm doppler 
3.3.1. Đường kính tĩnh mạch hiển 
TMH có đk 
từ 5 – 10 mm 
TMH có 
đường 
kính>10 mm Vị trí Số 
lượng 
(n) 
Tỉ lệ 
(%) 
Số 
lượng 
(n) 
Tỉ lệ 
(%) 
Chỗ nối hiển lớn – đùi 60 83,3 12 16,7 
Chỗ nối hiển bé – khoeo 1 1,4 0 0 
Đoạn trên gối 2cm 68 94,4 4 5,5 
Đoạn dưới gối 2 cm 72 100 1 1,4 
Đoạn cẳng chân 21 29,2 0 0 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG BỆNH LÝ SUY GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 21 
3.3.2. Dòng chảy ngược: 100% có dòng chảy ngược phân bố đều trên suốt đường đi của tĩnh mạch với thời 
gian hồi lưu trên 1 giây 
3.3.3. Đặc điểm của các tĩnh mạch bên và tĩnh mạch xuyên 
5mm 
Đường kính tĩnh mạch 
N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ (%) 
Tĩnh mạch bên 60 83,3 8 11,1 4 5,6 
Tĩnh mạch xuyên 65 90,3 3 0,13 4 5,6 
3.5. Phân loại can thiệp 
3.6. Phương pháp vô cảm 
3.7. Kết quả can thiệp: 
3.7.1. Kết quả lâm sàng sau thủ thuật 
1 tuần 1 tháng 3 tháng > 6 tháng 
Đặc điểm 
N % N % N % N % 
Không đau chân hoặc đau nhẹ 71 98,6 72 100 72 100 72 100 
Cảm giác dễ chịu, không có dị cảm 71 98,6 72 100 72 100 72 100 
Vết thâm tím dọc theo thân tĩnh mạch 3 4,1 0 0 0 0 0 0 
Không còn tĩnh mạch dãn nổi rõ trên da 0 0 0 0 2 2,8 1 1,4 
Nhiễm trùng chỗ đâm kim 0 0 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 22 
3.7.2. Kết quả siêu âm doppler sau thủ thuật 
1 tuần 1 tháng 3 tháng > 6 tháng 
Đặc điểm 
N % N % N % N % 
Thân tĩnh mạch được làm laser teo nhỏ 72 100 72 100 72 100 72 100 
Không còn tồn tại dòng chảy bên trong thân tĩnh 
mạch được làm laser 
72 100 72 100 72 100 72 100 
Huyết khối tĩnh mạch sâu 0 0 0 0 0 0 0 0 
Huyết khối tĩnh mạch nông 0 0 0 0 0 0 0 0 
Tụ máu quanh thân thĩnh mạch 3 4,1 0 0 0 0 0 0 
Giãn tĩnh mạch vùng cẳng chân tái phát 0 0 0 0 2 2,8 1 1,4 
3.7.3. Thời gian nằm viện 
83%
13%
4%
1 ngày 2 ngày 7 ngày
Kết quả bước đầu rất tốt, không có biến chứng trong quá trình can thiệp. Đa số bệnh nhân không có cảm giác 
đau hoặc chỉ đau nhẹ sau can thiệp mà không cần dùng thuốc giảm đau. Tuy nhiên chỉ có một bệnh nhân đau nhiều 
cần phải uống giảm đau sau can thiệp 5 ngày. Siêu âm doppler hầu hết các tĩnh mạch được can thiệp đều teo nhỏ, 
hòan toàn không có dòng chảy bên trong, không có huyết khối tĩnh mạch sâu và nông. Theo dõi sau điều trị suốt 12 
thángvẫn cho kết quả rất tốt hầu như không có tái phát. 
4. BÀN LUẬN 
Bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới được biết 
từ thời Hippocrates (khoảng 460 – 377 BC), trải qua 
nhiều thế kỷ có nhiều khám phá mới về bệnh học, sinh 
lý bệnh, chẩn đoán và phương pháp điều trị. Bệnh 
thường gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, tỉ lệ nữ 
mắc bệnh nhiều hơn nam. Theo nghiên cứu của của 
giáo sư Văn Tần (1998) tỉ lệ mắc bệnh suy tĩnh mạch 
mạn tính là 43,97% ở bệnh nhân trên 50 tuổi, tại thành 
phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu chúng tôi độ tuổi mắc 
bệnh trung bình là 58,4 +/- 12,1. 
Hiện nay, Siêu âm Doppler đã trở thành phương 
pháp đượcchọn lựa và được xem là tiêu chuẩn vàng 
trong chẩn đoán bệnh suy dãn tĩnh mạch [12]. 
Phương pháp điều trị kinh điển là phẫu thuật 
stripping loại bỏ thân tĩnh mạch hiển. Phương pháp 
phẫu thuật cho kết quả tốt. Nhưng có nhiều hạn chế 
như sau: sử dụng phương pháp vô cảm bằng gây tê 
tủy sống hoặc gây mê toàn thân, thời gian nằm viện 
kéo dài, thời gian hồi phục để lao động kéo dài, có tỉ 
lệ nhiễm trùng vết mổ, đau và dị cảm sau mổ và tính 
thẩm mỹ không cao. 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG BỆNH LÝ SUY GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 23 
 Từ cuối thập niên 80 – 90, nhiều phương pháp 
điều trị mới ít xâm lấn, ít đau, ít biến chứng, thời gian 
hồi phục nhanh bắt đầu được báo cáo trong điều trị 
bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông chi dưới. Đó là các 
phương pháp can thiệp nội tĩnh mạch: tia laser nội 
mạch, sóng cao tần nội mạch, tiêm xơ bọt. Các 
phương pháp này hiệu quả, an toàn được áp dụng 
ngày càng nhiều trên thế giới. 
Đến năm 1999, Bone người Tây Ban Nha đã thực 
hiện trường hợp laser nội mạch đầu tiên, sau đó là Mỹ 
(năm 2000) và Pháp (năm 2002). Đây là phương pháp 
mới, ít xâm lấn, thời gian thực hiện và hồi phục nhanh, đặc 
biệt là tính thẩm mỹ rất cao. Từ đó đến nay, phương pháp 
này đã được thực hiện trên nhiều nước trên thế giới. 
Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện phương pháp 
này vào năm 2008 với tỉ lệ thành công cao 97 – 98% và 
ít tai biến. 
Tại Bệnh viện Trung Ương Huế chúng tôi đã thực 
hiện trường hợp laser nội mạch đầu tiên vào năm 2005 
tại Hội thảo quốc tế Việt – Pháp lần thứ 3 về bệnh lý tim 
mạch nội ngoại khoa. Mười năm sau, chúng tôi mới 
được trang bị máy móc và tháng 12/2014 phương pháp 
này mới được đưa vào thực hiện một cách thường qui 
với kết quả ban đầu rất tốt, chưa thấy tai biến. Tính đến 
nay chúng tôi đã thực hiện khoảng 52 bệnh nhân với 72 
chân được điều trị laser nội tĩnh mạch tỉ lệ thành công 
100%. Các bước sóng laser có thể sử dụng được là 
810nm, 940nm, 980nm, 1470nm. Trong đó bước sóng 
810nm được sử dụng phổ biến nhất [5]. Trung tâm Y 
khoa MEDIC thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng laser 
bước sóng 810nm [2], tại bệnh viện Trung Ương Huế 
chúng tôi đã thực hiện với máy laser VENACURE bước 
sóng 1470nm. 
Trên thế giới nhiều báo cáo khoa học đánh giá hiệu 
quả của laser nội tĩnh mạch trong điều trị bệnh lý suy 
dãn tĩnh mạch nông mạn tính ở nhiều thời điểm khác 
nhau đều cho thấy tỉ lệ thành công khá cao. Năm 
2001 tại Mỹ hai nghiên cứu của Min và Navarro tỉ lệ 
thành công sau 6 tháng là 96% và 100% [8][9]. Theo 
nghiên cứu của các tác giả người Pháp, tỉ lệ thành 
công của Gerard sau 1 tháng là 100% và Sadick sau 2 
năm là 97% [4] 
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy 100% có kết quả tốt trên siêu âm cũng phù hợp với 
tác giả Hồ Khánh Đức thành phố Hồ Chí Minh. [2] 
Việc lựa chọn phương pháp can thiệp phối hợp 
chúng tôi dựa vào đặc điểm và số lượng các tĩnh mạch 
xuyên và các tĩnh mạch bên. Nếu các tĩnh mạch xuyên 
và bên có đường kính lớn hơn 5mm, có suy van tĩnh 
mạch thì sau khi laser thân tĩnh mạch chúng tôi rút bỏ 
tĩnh mạch bằng Muller (đường rạch da nhỏ), có 8 trường 
hợp đường kính tĩnh mạch bên từ 3 – 5mm chúng tôi 
tiến hành tiêm xơ bọt phối hợp cho kết quả tốt sau 1 
tháng còn các trường hợp còn lại (đường kính <3mm) tự 
teo nhỏ sau laser thân tĩnh mạch. Nhờ sự chọn lựa 
phương pháp điều trị phối hợp tốt nên kết quả can thiệp 
của chúng tôi rất khả quan. 
Xác định vị trí đâm kim cũng cần đưa ra để bàn 
luận. Chúng tôi có 3 nhóm bệnh nhân: nhóm chọn vị trí 
đâm kim ở trên gối 2 cm, nhóm hai chọn dưới gối 2cm 
và nhóm 3 vị trí đâm kim ở vùng cẳng chân (cách mắc 
cá trong 10cm). Ở nhóm 1 có 2 trường hợp phải làm 
laser nội tĩnh mạch lần hai trên đoạn thân tĩnh mạch 
chưa được làm laser vùng cẳng chân sau 3 tháng và 10 
tháng. Nhóm 3 cho kết quả tốt nhất các nhánh tĩnh mạch 
xuyên và bên xẹp hoàn toàn sau thủ thuật,phần nào hạn 
chế thủ thuật phối hợp như thắt tĩnh mạch xuyên hay 
Muller bóc tĩnh mạch. Tuy nhiên, sự chọn lựa vị trí đâm 
kim ở vùng cẳng chân còn tùy thuộc nhiều yếu tố như 
đường kính tĩnh mạch tại vị trí đâm kim, độ uốn lượn 
của tĩnh mạch, bề dày mô mỡ dưới da (từ tĩnh mạch đến 
da)Do đó nếu chọn lựa vị trí đâm kim tốt thì sự can 
thiệp rất thuận lợi và trở nên đơn giản. 
Biến chứng xảy ra trong và sau thủ thuật là rất 
hiếm. Hầu hết chúng tôi gây tê tại chỗ nên hạn chế được 
các biến chứng do gây mê hay gây tê tủy sống. Trong 
quá trình thủ thuật bệnh nhân không đau là do chúng tôi 
tiêm dung dịch thuốc tê xung quanh thân tĩnh mạch 
dưới hướng dẫn của siêu âm. 
Kenneth Myer báo cáo trên 404 tĩnh mạch hiển 
được làm laser nội tĩnh mạch có hai trường hợp huyết 
khối tĩnh mạch sâu và 1 trường hợp thuyên tắc phổi. [5] 
Các nghiên cứu khác tỉ lệ này < 1% [6]. Người ta cho 
rằng biến chứng huyết khối tĩnh mạch sâu chỉ xảy ra khi 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 24 
đầu dây laser đặt sai vị trí đi vào tĩnh mạch sâu [8]. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi chưa thấy trường hợp 
nào có biến chứng này. 
Cũng như các nghiên cứu khác chúng tôi không có 
biến chứng bỏng, dị cảm ở da và nhiễm trùng ở vị trí 
đâm kim. 
Một số nghiên cứu trước đây có đề chúng tôi vẫn 
cập đến vấn đề bỏng do can thiệp nhưng với chúng tôi 
chưa thấy có trường hợp nào có thể do chúng tôi sử 
dụng máy với bước sóng cao 1470 nm nên ít thương tổn 
đến các mô xung quanh. 
Về biến chứng thương tổn mạch máu, thuyên tắc 
tĩnh mạch sâu hoặc gây tê quanh tĩnh mạch chúng tôi 
kiểm soát được do quá trình làm đều dưới sự hướng dẫn 
của siêu âm 
Hầu hết trường hợp nghiên cứu bệnh nhân đều có 
thể vận động được ngay sau khi can thiệp, thời gian nằm 
viện ngắn bệnh nhân có thể đi làm việc trở lại ngay 
ngày hôm sau. 
Đặc biệt, bộ dụng cụvà sợi dây phát tia laser chúng 
tôi có thể tái sử dụng sau khi cắt phần đã bị đốt cháy đi 
bằng dao đặc chủng (được làm bằng kim cương) sau đó 
đem tiệt trùng bằng phương pháp plasma nên giá thành 
điều trị giảm nhiều so với những nơi khác. 
5. KẾT LUẬN 
Phương pháp laser nội tĩnh mạch đã và đang là 
hướng đi mới trong điều trị suy giãn tĩnh mạch nông chi 
dưới. Chúng tôi nhận thấy đây là phương pháp điều trị ít 
xâm lấn, ít biến chứng và đặc biệt là tỉ lệ thành công 
cao. Ưu điểm của phương pháp này là có thể điều trị 
ngoại trú, tĩnh thẫm mỹ cao, thời gian hồi phục nhanh 
và với những cải tiến của chúng tôi đã làm giá thành 
điều trị xuống mức thấp nhất có thể. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ môn ngoại, Phân môn ngoại lồng ngực-tim mạch 
Trường đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
(2008), “Suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính”, 
Điều trị học ngoại khoa lồng ngực-tim mạch, Nhà 
xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 72-84. 
2. Hồ Khánh Đức (2010), Điều trị suy tĩnh mạch nông 
chi dưới bằng phương pháp laser nội tĩnh mạch với 
laser bán dẫn bước sóng 810nm, tạp chí Y học Việt 
Nam, Tổng hội Y học Việt Nam, Tr.315-322. 
3. Nguyễn Phước Bảo Quân (2012), “Phân tích thông tin 
trong siêu âm Doppler tĩnh mạch”, Siêu âm Doppler 
mạch máu, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 156-170. 
4. Gerard JL, Desgranges P, Becquemine J. Feasibility 
of endovenous laser fort the treatment of greater 
saphenous varicose veins: one month outcome in a 
series of 20 outpatients. J Mal Vasc 2002;27:222-5 
5. Kenneth Myers, Rokert fris and Damien Jolley. 
Treatment of varicose veins by endovenous laser 
therapy: assessment of results by ultrasound 
surveillance, MJA 2006; 185 (4): 199-202. 
6. Mark H, Meissner, Pannier F. Primary chronic 
venous disorders. J Vasc sur 2007;46:54s-65s. 
7. Meissner M.H. et al (2007), “The hemodynamic and 
diagnosis of venous disease”, J Vasc Surg, 46(S), 
pp. 4S-24S. 
8. Min R, Zimmet S, Isaacs M, Forrestal M. 
Endovenous laser treatment of the incompetent 
greater saphenous vein. J Vasc Interv Radiol 2001; 
vol 12 1167 – 71 
9. Navarro L, Min R, Bone C. Endovenous laser: a 
new minimally invasive method of treatment for 
varicose veins – preliminary observation using an 
810nm diode laser. Dermatol Surg 2001; 27: 117-22 
10. Pannier F, Rabe E. Mid-term results following 
endovenous laser abation of saphenous veins with a 
980nm diode laser. International Angiology – vol 
27-12/200, p 475 – 481. 
11. Thrush A., Hartshorne T. et al (2005), “Anatomy of 
the limb venous system and assessment of venous 
insufficiency”, Peripheral Vascular Ultrasound-How, 
When and Why, 2nd Edition, Elsevier, pp.163-188. 
12. Zygmunt J.Jr. (2009), “What is new in duplex 
scanning of venous system”,Perspect Vasc Surg 
Endovasc Ther, 21(2), pp. 94-104. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_laser_noi_tinh_mach_trong_benh_ly.pdf