Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 năm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 năm của

bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Khảo sát một số yếu tố có

thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp

trastuzumab.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 197 trường hợp được hóa trị hỗ trợ kết hợp

trastuzumab sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi khác)

được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016)

pdf 11 trang phuongnguyen 400
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2

Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
459 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA HÓA TRỊ HỖ TRỢ KẾT HỢP 
TRASTUZUMAB TRONG UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN I, II, III CÓ 
BIỂU HIỆN QUÁ MỨC CỦA HER2 
TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2, LÊ THỊ HỒNG VÂN3 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 nĕm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 nĕm của 
bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Khảo sát một số yếu tố có 
thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp 
trastuzumab. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 197 trường hợp được hóa trị hỗ trợ kết hợp 
trastuzumab sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi khác) 
được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016). 
Kết quả: SCKB 5 nĕm là 92,5%, SCTB 5 nĕm là 98,2%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
SCKB 5 nĕm theo độ tuổi, tình trạng kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai đoạn sau mổ và phác đồ 
hóa trị. Tình trạng di cĕn hạch là yếu tố tiên lượng độc lập với SCKB. Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được 
xác lập đối với SCTB. Các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm 
TC (2,5%)) không đáng kể và có thể kiểm soát được. Độc tính tim mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, 
chỉ có 1,5% giảm LVEF có ý nghĩa. 
Kết luận: Hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab có hiệu quả cao và độc tính thấp. 
ABSTRACT 
Effect of adjuvant trastuzumab plus chemotherapy for human epidermal growth factor 
receptor 2 - positive breast cancer stage I, II, III 
Purpose: We aimed to assess 5-year disease-free survival (DFS), 5-year overall survival (OS), factors 
influencing 5 - year DFS, 5-year OS. Evaluating the safety of trastuzumab plus chemotherapy. 
Methods: In this retrospective nonrandomized study, the authors reviewed records of 197 patients with 
adjuvant trastuzumab plus chemotherapy after mastectomy/lumpectomy in HCM oncology hospital from 
01/01/2014 to 31/12/2016. 
Results: 5 - year DFS was 92,5%, 5 - year OS was 98,2%. We found no significant differences in DFS 
according to age, menopausal status, tumor size, grade, stage, types of chemotherapy. Presence of lymph 
node metastasis was the major independent factors that had effect on DFS. The independent prognostic 
factors for OS was not determined. Grade 3/4 hematologic toxicities (Febrile neutropenia (6,09%), anemia 
(2,5%), thrombocytopenia (2,5%)) was negligible and they could be controlled. Cardiac toxicity: There was no 
case for heart failure, only 1,5% significant asymptomatic LVEF decline. 
Conclusion: It has shown high efficacy and low toxicity in trastuzumab plus chemotherapy. 
1
 BSCKII. Trưởng Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
2
 TS.BS. Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 
 Bác sĩ điều trị Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu Ung Bướu TP. HCM 
3
 ThS.BSCKI. Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp. 
Ung thư vú đứng hàng thứ nhất ở nữ giới (25,1%) 
theo GLOBOCAN 2012 và là nguyên nhân gây 
tử vong đứng hàng thứ hai ở nước phương Tây. 
Tại Việt Nam, ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mới mắc 
cao nhất trong các ung thư ở nữ giới. Tỉ lệ mới mắc 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
460 
chuẩn theo tuổi nĕm 2010 ước tính là 28,1/100.000 
phụ nữ[2]. 
Tại Việt Nam, trastuzumab có mặt từ nĕm 2006, 
được chỉ định cho bệnh nhân ung thư vú có HER2 
dương tính ở giai đoạn sớm cũng như giai đoạn di cĕn, 
đã làm phong phú thêm các phác đồ hóa trị hỗ trợ ung 
thư vú, góp phần nâng cao tỉ lệ sống còn cho bệnh 
nhân. Tuy nhiên do giá thành thuốc cao, bảo hiểm y tế 
chỉ chi trả 50%, thời gian điều trị hỗ trợ kéo dài 01 nĕm 
nên thực tế số lượng bệnh nhân được điều trị 
trastuzumab tại Việt Nam không cao. Hiện nay, chưa 
có nghiên cứu đánh giá kết quả cũng như độc tính của 
trastuzumab kết hợp hóa trị trong điều trị hỗ trợ ung 
thư vú tại TP. HCM. Chúng tôi đặt ra câu hỏi: Vậy kết 
quả điều trị của trastuzumab trong trường hợp điều trị 
hỗ trợ ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I, II, III tại 
bệnh viện Ung Bướu TP. HCM như thế nào? 
Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi đã tiến hành 
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ 
trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, 
II, III có biểu hiện quá mức của HER2”. Để thực hiện 
đề tài này, chúng tôi có các mục tiêu sau: 
1. Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh 5 nĕm, tỉ 
lệ sống còn toàn bộ 5 nĕm của bệnh nhân carcinôm 
vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp 
trastuzumab. 
2. Khảo sát một số yếu tố có thể ảnh hưởng 
đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. 
3. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết 
hợp trastuzumab ở bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn 
I, II, III. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Tiêu chuẩn thu nhận 
Bệnh nhân nữ, tuổi ≥18. 
Ung thư vú giai đoạn I, II, III theo AJCC 7 
(2010) sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc 
phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi 
khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 
01/01/2014 đến tháng 31/12/2016). 
Giải phẫu bệnh là carcinôm, có xâm lấn, ống 
tuyến hoặc tiểu thùy. 
Hóa mô miễn dịch có HER2 (+++) hoặc HER2 
(++) kèm theo FISH (+). 
Hoá trị hỗ trợ có kết hợp trastuzumab. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân không thuộc tiêu chuẩn thu nhận. 
Bệnh nhân mắc ung thư thứ 2. 
Bệnh nhân ngừng điều trị không phải vì lý do 
chuyên môn. 
Xử lý số liệu 
Dùng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu. 
Khảo sát sống còn bằng phương pháp Kaplan - 
Meier. 
Phân tích tương quan bằng phép kiểm Log - 
rank. 
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Trong thời gian từ 01/01/2014 đến 31/12/2016 chúng tôi khảo sát được 197 trường hợp carcinôm vú giai 
đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab tại BVUB TP. HCM thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu 
chuẩn loại trừ đề ra. 
2,3
20,1 28 31,3 10,3
0
20
40
≤ 30 31-39 40-49 50-59 ≥ 60T
ỷ lệ
 %
Độ tuổi
Biểu đồ 1. Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
461 
Bảng 1. Lý do nhập viện 
Lý do nhập viện n (N = 197) Tỉ lệ % 
Bướu vú 193 98 
Bướu vú + tiết dịch núm vú 2 1 
Tiết dịch núm vú 1 0,5 
Đau vú 1 0,5 
Bảng 2. Các đặc điểm lâm sàng của bướu vú 
Đặc điểm n (N = 197) Tỉ lệ % 
Vú mang bướu 
Vú (T) 100 50,8 
Vú (P) 97 49,2 
Vị trí bướu 
Trên ngoài 116 58,9 
Trên trong 39 19,8 
Dưới ngoài 10 5,1 
Dưới trong 10 5,1 
Trung tâm 8 4,1 
Nhiều vị trí 14 7,1 
Số lượng bướu 
Đơn ổ 183 92,9 
Đa ổ 14 7,1 
Kích thước bướu 
Trung bình ± độ lệch chuẩn: 3,36 ± 1,3cm 
Lớn nhất: 8cm Nhỏ nhất: 1cm 
T1 (≤ 2cm) 51 25,9 
T2 (2 - 5cm) 128 65 
T3 (> 5cm) 17 8,6 
T4 (kích thước bất kỳ: xâm nhiễm 
da, thành ngực) 1 0,5 
Vị trí bướu ưu thế ở bên trái (50,8%). 
Kích thước bướu vú trung bình là 3,36 ± 1,3cm, 
trong đó kích thước bướu trong khoảng 2 - 5cm 
chiếm chủ yếu (65%). 
Hầu hết các trường hợp ở giai đoạn T2 (65%), 
25,9% là giai đoạn T1, còn lại T3 và T4 lần lượt là 
8,6% và 0,5%. 
Bảng 3. Tình trạng di cĕn hạch nách sau mổ 
Số hạch nách di cĕn n (N = 197) Tỉ lệ % 
pN0 (0 hạch) 119 60,4 
pN1 (1 - 3 hạch) 33 16,8 
pN2 (4 - 9 hạch) 29 14,7 
pN3 (≥10 hạch) 15 8,1 
Có 60,4% không di cĕn hạch và 39,6% có di 
cĕn hạch nách sau mổ. 
Số hạch trung vị được nạo là 12 hạch, thấp 
nhất 2 hạch, nhiều nhất 25 hạch. Trong đó 91,4% 
nạo được từ 10 hạch trở lên. 
Bảng 4. Giai đoạn bệnh sau mổ theo T, N 
Giai đoạn sau mổ (T, N) n (N = 197) Tỉ lệ % 
T1N0 32 16,2 
T2N0 80 40,6 
T3N0 9 4,6 
T1N1 6 3 
T2N1 25 12,7 
T3N1 3 1,5 
T1N2 2 1 
T2N2 22 11,2 
T3N2 3 1,5 
T2N3 9 4,6 
T4N3 1 0,5 
T1N3 4 2 
T3N3 1 0,5 
Hầu hết các trường hợp là giai đoạn II (60,9%), 
giai đoạn I và III với tỷ lệ lần lượt là 17,3% và 21,8%. 
Trong đó 56,8% trường hợp là T1N0 và T2N0. 
Bảng 5. Đặc điểm giải phẫu bệnh 
Giải phẫu bệnh n (N = 197) Tỉ lệ % 
Carcinôm ống tuyến vú 193 98 
Carcinôm ống tuyến vú + Paget núm vú 1 0,5 
Carcinôm tiểu thùy xâm lấn 3 1,5 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
462 
Biểu đồ 2. Phân bố grad mô học 
Bảng 6. Tình trạng thụ thể nội tiết 
Thụ thể nội tiết n (N = 197) Tỉ lệ % 
ER dương tính, PR dương tính 78 39,6 
ER dương tính, PR âm tính 21 10,7 
ER âm tính, PR dương tính 1 0,5 
ER âm tính, PR âm tính 97 49,2 
50,3%49,7%
luminal B
HER2
Biểu đồ 3. Phân nhóm sinh học 
Bảng 7. Phân bố các loại phẫu thuật 
Loại phẫu thuật n (N = 197) Tỉ lệ 
Phẫu thuật bảo tồn 2 1 
Đoạn nhũ nạo hạch 150 76,2 
Đoạn nhũ tiết kiệm da - tái tạo vú tức thì 35 17,8 
Đoạn nhũ - sinh thiết hạch lính gác 3 1,5 
Sinh thiết hạch lính gác - đoạn nhũ nạo hạch - tái tạo 6 3 
Đoạn nhũ làm sạch 1 0,5 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
463 
Biểu đồ 4. Thời gian từ khi phẫu trị đến lúc bắt đầu hóa trị hỗ trợ 
Bảng 8. Các phác đồ hóa trị 
Phác đồ n (N = 197) Tỉ lệ % 
TCH 163 82,7 
AC - TH 34 17,3 
Theo dõi 197 trường hợp đến ngày 30/07/2019, 
ngắn nhất là 32 tháng, dài nhất là 62 tháng, trung vị 
45 tháng. Có 10 trường hợp (5,07%) mất dấu. 
Kết thúc nghiên cứu có 188 trường hợp còn 
sống không bệnh (95,43%), 7 trường hợp tái phát 
và/hoặc di cĕn (6 trường hợp còn sống, 1 trường 
hợp tử vong) (3,55%), 3 trường hợp tử vong 
(1,53%). 
Có 7 ca tái phát (3,5%) trong thời gian theo dõi, 
chủ yếu di cĕn phổi, xương. Thời gian từ lúc phẫu 
thuật đến khi tái phát của 7 bệnh nhân lần lượt là: 
3 tháng, 18 tháng, 25 tháng, 35 tháng, 41 tháng, 44 
tháng, 55 tháng. 
Bảng 9. Vị trí tái phát 
Vị trí tái phát n (N = 7) 
Hạch trên đòn cùng bên 1 
Phổi 2 
Xương 2 
Gan 1 
Não 1 
Trung vị thời gian tái phát/ di cĕn: 35 tháng. 
Biểu đồ 5. Sống còn không bệnh 5 nĕm 
Trung bình thời gian sống còn không bệnh 
(DFS) ước tính theo Kaplan Meier: 60,1 tháng (95% 
CI 58,8 - 61,3). Tỷ lệ sống còn không bệnh 1 nĕm, 2 
nĕm, 3 nĕm, 4 nĕm, 5 nĕm tương ứng là: 99%; 98%; 
96,9%; 95,2%; 92,5%. 
Bảng 10. Phân tích đa biến liên quan đến 
sống còn không bệnh 
Đặc điểm Phân nhóm 
so sánh 
Phân tích 
đơn biến 
Phân tích 
đa biến 
Tuổi ≤ 35 / >35 0,96 0,83 
Kinh nguyệt Mãn kinh/còn kinh 0,17 0,2 
pT pT1 / pT2 / pT3 0 0,72 
pN pN (-) / pN (+) 0,01 0,32 
pN pN0/ pN1/ pN2/ pN3 0,06 0,39 
Giai đoạn 
sau mổ I / II / III 0,22 0,55 
Grad mô học 1 / 2 / 3 0,47 0,29 
Phác đồ hóa 
trị TCH AC - TH 0,12 0,59 
Tính đến thời điểm 31/7/2019, có 3 bệnh nhân 
tử vong. Thời gian từ lúc phẫu thuật đến khi tử vong 
của 3 bệnh nhân lần lượt là: 8 tháng, 16 tháng, 41 
tháng. 
92,5% 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
464 
Biểu đồ 6. Sống còn toàn bộ 
Trung bình thời gian sống thêm toàn bộ ước 
tính là 61,3 tháng (95% CI 60,5 - 62). Tỉ lệ sống còn 
toàn bộ 1 nĕm, 2 nĕm, 3 nĕm, 4 nĕm, 5 nĕm tương 
ứng là: 99,5%; 99%; 98,2%; 98,2%. 
Một số tác dụng không mong muốn của phác đồ 
điều trị 
Có 2 bệnh nhân có phản ứng thuốc 
trastuzumab ở chu kỳ đầu tiên (1,01%), mức độ 
phản ứng nhẹ (ngứa da). 
Bảng 11. Độc tính trên hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân 
Độ 
Giảm BC 
Số trường hợp 
(%) 
Giảm BCĐNTT 
Số trường hợp 
(%) 
Giảm TC 
Số trường hợp 
(%) 
Giảm Hb 
Số trường hợp 
(%) 
0 76 (38,6) 56 (28,4) 141 (71,6) 137 (69,5) 
1 15 (7,6) 21 (10,7) 42 (21,3) 30 (15,2) 
2 45 (22,8) 13 (6,6) 9 (4,6) 25 (12,7) 
3 47 (23,9) 26 (13,2) 4 (2) 4 (2) 
4 14 (7,1) 81 (41,1) 1 (0,5) 1 (0,5) 
Bảng 12. Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân(1) 
Độ Nôn, buồn nôn 
n (%) 
Viêm niêm mạc miệng 
n (%) 
Tiêu chảy 
n (%) 
Phù ngoại vi 
n (%) 
 N = 197 
0 183 (92,9) 174 (88,3) 168 (85,3) 195 (99) 
1 12 (6,1) 21 (10,7) 22 (11,2) 2 (1) 
2 2 (1) 2 (1) 7 (3,6) 0 (0) 
Bảng 13. Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân(2) 
Độ Đau cơ 
n (%) 
Rối loạn thần kinh ngoại vi 
n (%) 
Tĕng men gan 
n (%) 
Độc tính thận 
n (%) 
 N = 197 
0 190 (96,4) 187 (94,9) 154 (78,2) 0 (0) 
1 5 (2,5) 8 (4,1) 26 (13,2) 0 (0) 
2 2 (1) 2 (1) 13 (6,6) 0 (0) 
3 0 (0) 0 (0) 4 (2) 0 (0) 
4 0 (0) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 
98,2% 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
465 
Bảng 14. Trì hoãn hóa trị do độc tính hóa trị hỗ trợ 
 Theo tổng số trường hợp nghiên cứu 
(N = 197) n (%) 
Theo phác đồ TCH 
(N = 163) n (%) 
Theo phác đồ AC-TH 
(N = 34) n (%) 
Số trường hợp bị trì hoãn 122 (61,9) 109 (66,87) 13 (38,23) 
Lý do trì hoãn 
Giảm tế bào máu 116 (58,8) 105 (64,41) 11 (32,35) 
Giảm tế bào máu + tĕng men gan 4 (2,02) 4 (2,46) 0 (0) 
Tĕng men gan 2 (1,01) 0 (0) 2 (5,88) 
Độc tính tim mạch 
Suy tim 
Phân tích trên 197 bệnh nhân, không có bệnh nhân nào bị suy tim. 
Bảng 15. Biến đổi phân suất tống máu thất trái (LVEF) qua các thời điểm đánh giá so với giá trị ban đầu 
Biến đổi LVEF (%) Sau 3 tháng n (%) Sau 6 tháng n (%) Sau 9 tháng n (%) Sau 12 tháng n (%) 
Không giảm 149 (75,6) 165 (84,2) 168 (86,2) 170 (87,2) 
Giảm <10% 46 (23,4) 30 (15,3) 27 (13,8) 25 (12,8) 
Giảm 10 - 5% 1 (0,5) 1 (0,5) 0 (0) 0 (0) 
Giảm > 15% 1 (0,5) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 
Tổng số bệnh nhân 197 196 195 195 
Chỉ có 1,5% trường hợp giảm LVEF >10%. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
biến đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến 
nhóm tuổi, tiền sử mắc bệnh tim mạch, đái tháo 
đường tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 
12 tháng. 
Có 19% trường hợp dùng TCH và 50% trường 
hợp dùng AC - TH giảm LVEF tại thời điểm 3 tháng, 
điều này có ý nghĩa thống kê (p = 0). Tuy nhiên, 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến 
đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến phác 
đồ điều trị tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu 
Tuổi trung vị trong nghiên cứu của chúng tôi là 
49 tuổi, khoảng tuổi 40 - 60 tuổi chiếm 59,3%, tương 
tự kết quả các nghiên cứu trước đây có liên quan 
đến ung thư vú HER2 dương tính tại Việt Nam[3,4]. 
Khối bướu ở vị trí ¼ trên ngoài là thường gặp 
nhất (58,9%), theo sau đó là ¼ trên trong (19,8%). 
Tác giả Phùng Thị Huyền ghi nhận có 54% bướu ở 
¼ trên ngoài[3]. Ung thư thường xảy ra ở vị trí ¼ trên 
ngoài do đây là vị trí có mô tuyến vú nhiều nhất. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước 
bướu chủ yếu là T2 (65%), bướu T1 25,9%, kích 
thước bướu vú trung bình là 1,84 ± 0,5cm, hầu hết 
bướu vú ở giai đoạn T1 - 2 (90,9%). So sánh với 
kết quả trong nghiên cứu của tác giả Cung Thị Tuyết 
Anh[1] hồi cứu 508 trường hợp giai đoạn I - IIIA ghi 
nhận 25,2% bướu giai đoạn T1, 71,7% bướu giai 
đoạn T2 và 3% bướu giai đoạn T3. Hầu như các 
bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam khi phát hiện 
bệnh đều ở giai đoạn bướu T2, tỉ lệ bướu T1 thấp 
hơn nhiều so với các nước phát triển khác trên 
thế giới. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 
hạch âm tính sau mổ (N0) chiếm tỉ lệ cao (60,4%), 
chỉ 39,6% có hạch nách dương tính. Tác giả Phùng 
Thị Huyền nghiên cứu 63 trường hợp tại Hà Nội 
cũng ghi nhận kết quả tương tự với tỉ lệ hạch 
âm tính là 60,3% và hạch dương tính là 39,7%. 
Trong nghiên cứu BCIRG - 006[10] khảo sát 3222 
trường hợp ghi nhận tỉ lệ N0 là 28,6%, N1 là 38,3%, 
N2 (di cĕn 4 - 9 hạch) là 23%, N3 (di cĕn ≥10 hạch) 
là 10%. Trong nghiên cứu NSABP B - 31 đối tượng 
nghiên cứu là các trường hợp có hạch nách dương 
tính, nghiên cứu NCCTG N9831 tỉ lệ di cĕn hạch 
nách chiếm 84,6% và 86,3% lần lượt ở nhóm chứng 
và nhóm điều trị với trastuzumab[8]. Nghiên cứu 
HERA, số trường hợp có hạch nách âm tính là 32%, 
dương tính là 57%, và có 11% không đánh giá tình 
trạng hạch do được hóa trị tân hỗ trợ[6]. Lý giải cho 
sự khác biệt này, có thể do các nghiên cứu trước 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
466 
đây ở nước ngoài khi nghiên cứu tiền cứu đánh giá 
hiệu quả của trastuzumab thì tiêu chuẩn nhận bệnh 
của họ là những trường hợp hạch dương tính hoặc 
hạch âm tính có nguy cơ cao còn nghiên cứu của 
chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu chỉ ghi nhận lại tất 
cả trường hợp có sử dụng trastuzumab trong điều trị 
hỗ trợ. 
Các mô thức điều trị 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ 1% trường 
hợp được phẫu thuật bảo tồn, còn lại 99% là đoạn 
nhũ. Giải thích cho điều này có lẽ do việc khó khĕn 
trong việc xác định bờ khối u cả trên lâm sàng, hình 
ảnh học, tâm lý bệnh nhân e ngại khi chỉ phẫu thuật 
bảo tồn, bệnh nhân không muốn xạ trị thêm sau 
phẫu thuật bảo tồn. 
Trastuzumab được FDA chấp thuận trong điều 
trị ung thư vú di cĕn nĕm 1998, còn điều trị hỗ trợ 
ung thư vú nĕm 2006. Hóa trị hỗ trợ kết hợp 
trastuzumab đã trở thành điều trị chuẩn đối với ung 
thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính. Phác đồ 
hóa trị kết hợp với trastuzumab dù có anthracycline 
hay không anthracycline đều được chấp thuận trong 
các hướng dẫn điều trị của quốc tế, nhưng độc tính 
tim mạch sẽ cao hơn đối với phác đồ có 
anthracycline. 
Nghiên cứu Sống còn toàn bộ 5 nĕm (%) 
Seferina (N = 476)[84] 90,7 
BCIRG - 006 
(N = 3222)[88] 
92 (AC - TH) 
91 (TCH) 
Conte (N = 627)[24] 95,2 
Vici (N = 925)[104] 96 
Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 98,4 
Nghiên cứu này (N = 197) 98,2 
Không nên điều trị đồng thời trastuzumab 
và anthracycline mà nên sử dụng tuần tự do độc tính 
tim mạch sẽ tĕng cao khi sử dụng đồng thời 2 
thuốc này. 
Theo tác giả Katherine nghiên cứu trên 1077 
trường hợp tại Hoa Kỳ, ghi nhận hiện nay đang có 
khuynh hướng giảm dần sử dụng phác đồ AC - TH 
so với trước đây, chỉ còn 15% vào nĕm 2011 so với 
nĕm 2005 là 88%, đồng thời tĕng sử dụng phác đồ 
TCH[9]. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về độc tính liên quan hóa trị giữa 2 phác đồ này 
(AC - TH 34% so với TCH 36,5%; p = 0,46). 
Bệnh nhân điều trị phác đồ TCH thì có khả nĕng 
hoàn tất 1 nĕm liệu trình trastuzumab cao hơn 
AC-TH (89% so với 77%), sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê p = 0,001). 
Kết quả điều trị 
Tỉ lệ tái phát là 7/197 trường hợp (3,5%). 
Tái phát chủ yếu là di cĕn xa (xương, phổi, gan, 
não), chỉ có 1 trường hợp tái phát tại vùng (hạch trên 
đòn cùng bên). Điều này phù hợp với y vĕn khi tái 
phát trong ung thư vú khoảng 72,5% là di cĕn xa, chỉ 
27,5% là tái phát tại chỗ tại vùng[11]. 
Bảng 16. Sống còn không bệnh 5 nĕm so với các 
tác giả khác 
Nghiên cứu Sống còn không bệnh 5 nĕm (%) 
Seferina (N = 476)[84] 80,7 
BCIRG - 006 
(N = 3222)[88] 
84 (AC - TH) 
81 (TCH) 
Conte (N = 627)[24] 88 
Vici (N = 925)[104] 88,6 
Adusumilli (N = 212)[10] 92 
Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 92,1 
Nghiên cứu này (N = 197) 92,5 
Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88] cho thấy 
DFS 5 nĕm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là 
84% (HR 0,64; p <0,001), 81% (HR 0,75; 
p = 0,04),và 75%. 
Xác suất sống còn không bệnh 5 nĕm trong 
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu 
khác, cao hơn cả nghiên cứu tương tự ở Hà Nội của 
tác giả Phùng Thị Huyền. Nhiều yếu tố có thể ảnh 
hưởng sự khác biệt về kết quả giữa các nghiên cứu: 
Do quần thể nhóm nghiên cứu của chúng tôi 
không ngẫu nhiên nên có thể có các đặc điểm lâm 
sàng và cận lâm sàng tốt hơn. Cụ thể là sự khác 
nhau về tỉ lệ kích thước bướu, di cĕn hạch, grad mô 
học, thụ thể nội tiết ở nghiên cứu của chúng tôi so 
với các nghiên cứu khác. Trong đó di cĕn hạch là 
yếu tố tiên lượng quan trọng nhất đối với sống còn, 
tỉ lệ di cĕn hạch trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ 
39,6% trong khi hầu hết các nghiên cứu khác dao 
động từ 60 - 70%. 
Đặc điểm tái phát, di cĕn xa, nhất là di cĕn 
những cơ quan sinh tử (gan, phổi, não) và cách thức 
điều trị sau khi bệnh tái phát, di cĕn. 
Cỡ mẫu và thời gian theo dõi. 
Bảng 17. Sống còn toàn bộ 5 nĕm so với 
các nghiên cứu khác 
Nghiên cứu Sống còn toàn bộ 5 nĕm (%) 
Seferina (N = 476)[84] 90,7 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
467 
BCIRG-006 
(N = 3222)[88] 
92 (AC - TH) 
91 (TCH) 
Conte (N = 627)[24] 95,2 
Vici (N = 925)[104] 96 
Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 98,4 
Nghiên cứu này (N = 197) 98,2 
Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88] cho thấy 
OS 5 nĕm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là 
92% (HR 0,63; p <0,001), 91% (HR 0,77; 
p = 0,04) và 87%. 
Xác suất sống còn toàn bộ 5 nĕm trong nghiên 
cứu của chúng tôi hơi cao hơn các nghiên cứu khác, 
có thể do không được phân bố ngẫu nhiên và các lý 
do như đã nêu trên. 
Trong phân tích đơn biến, có di cĕn hạch nách 
là yếu tố có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cho 
sống còn không bệnh 5 nĕm (p = 0,01), điều này phù 
hợp với y vĕn[10]. 
Trong phân tích đa biến thì không có yếu tố nào 
là các yếu tố tiên lượng độc lập đến sống còn không 
bệnh 5 nĕm, có lẽ do số lượng biến cố trong 
nghiên cứu của chúng tôi quá ít. 
Bảng 18. Độc tính huyết học độ 3, 4 
so với tác giả khác 
Độc tính 
Nhóm có trastuzumab (%) 
Slamon[88] 
Phùng Thị 
Huyền[8] 
Nghiên 
cứu này 
Giảm BC 54,25 6,4 31 
Giảm BCĐNTT 68,7 23,7 54,3 
Giảm BCĐNTT có 
sốt 
10,25 16 6,09 
Giảm TC 4,45 0 2,5 
Giảm Hb 4,1 4,8 2,5 
Tỉ lệ giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3, 4 
trong nghiên cứu của chúng tôi gần tương đồng với 
nghiên cứu của Slamon (BCIRG - 006) nhưng cao 
hơn nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền. 
Nguyên nhân do nhóm nghiên cứu của tác giả 
Phùng Thị Huyền có sử dụng thuốc kích thích tủy dự 
phòng nguyên phát ngay từ đầu còn nghiên cứu của 
chúng tôi và Slamon thì không. Chỉ định sử dụng 
kích thích tủy dự phòng nguyên phát được đưa vào 
hướng dẫn điều trị của NCCN từ nĕm 2017 đối với 
phác đồ TCH (nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt 
>20%) còn nghiên cứu của chúng tôi lấy nhóm 
nghiên cứu được điều trị nĕm 2014, 2015, 2016. 
Bảng 19. Độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 so với 
tác giả khác 
Độc tính 
Nhóm có trastuzumab (%) 
Slamon[88] 
Phùng Thị 
Huyền[8] 
Nghiên cứu 
này 
Nôn, buồn nôn 5,1 0 0 
Tiêu chảy 5,5 0 0 
Đau cơ 3,5 1,6 0 
Rối loạn thần 
kinh ngoại vi 
25,4 0 0 
Tĕng men gan Không ghi 
nhận 
4,8 2 
Độc tính thận 0,2 0 0 
Kết quả độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 
trong nghiên cứu chúng tôi tương tự nghiên cứu của 
tác giả Phùng Thị Huyền nhưng ít hơn nghiên cứu 
của Slamon có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ và 
nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu, độc 
tính ngoài hệ tạo huyết chỉ có thể ghi nhận dựa trên 
hồ sơ bệnh án. 
Bảng 20. Tỉ lệ suy tim trong các nghiên cứu 
Nghiên cứu Suy tim có triệu chứng 
(%) 
Nghiên cứu này 0 
HERA (N = 5102)[31] 
Hóa trị 0 
Hóa trị -> trastuzumab 1 nĕm 0,8 
Hóa trị -> trastuzumab 2 nĕm 0,8 
NSABP B-31 (N = 2101)[11] 
AC-T 0,9 
AC-TH 2,6 
BCIRG-006 (N = 3222)[88] 
AC-T 0,7 
AC-TH 2 
TCH 0,4 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có 
trường hợp nào bị suy tim. Có thể do đặc điểm 
nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi vốn ít có 
những yếu tố nguy cơ tĕng độc tính tim mạch của 
trastuzumab: chỉ có 3,6% >65 tuổi, 1,5% có 
BMI >30kg/m2, 12,2% trường hợp có bệnh lý tim 
mạch trước đó (tĕng huyết áp, thiếu máu cơ tim) 
nhưng tất cả những trường hợp này được khám và 
điều trị thuốc tim mạch đầy đủ, tỉ lệ dùng phác đồ có 
không anthracycline là 82,7% còn phác đồ có 
anthracycline (AC - TH) chỉ 17,3%. Trong nghiên 
cứu BCIRG - 006, tỉ lệ suy tim ở nhóm TCH là 0,4%, 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
468 
thậm chí còn thấp hơn cả nhóm chứng AC - T 
(0,7%). 
Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng lớn nghiên 
cứu trastuzumab trong điều trị hỗ trợ cho thấy tỉ lệ 
suy tim khoảng 0,6 - 3,8%[5,6,7]. 
Biến đổi phân suất tống máu thất trái qua các 
thời điểm điều trị 
Trong nghiên cứu HERA, giảm LVEF có ý nghĩa 
được định nghĩa là LVEF giảm ≥10% so với trước 
điều trị hoặc LVEF < 50% bất cứ thời điểm nào. 
Bảng 21. Tỉ lệ giảm phân suất tống máu thất trái so 
với các nghiên cứu khác 
Nghiên cứu Giảm LVEF có ý nghĩa (%) 
Nghiên cứu này 1,5 
HERA (N = 5102)[31] 
Hóa trị 0,9 
Hóa trị -> trastuzumab 1 nĕm 4,1 
Hóa trị -> trastuzumab 2 nĕm 7,2 
NSABP B - 31 (N = 2101)[11] 
AC - T 15,4 
AC - TH 27,1 
BCIRG - 006 (N = 3222)[88] 
AC - T 11,2 
AC - TH 16,8 
TCH 9,4 
Tỉ lệ giảm LVEF có ý nghĩa trong nghiên cứu 
của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các thử nghiệm 
lâm sàng lớn trên thế giới có lẽ do cỡ mẫu của 
chúng tôi nhỏ và do đặc điểm nhóm bệnh nhân 
nghiên cứu của chúng tôi ít có những yếu tố nguy cơ 
tĕng độc tính tim mạch của trastuzumab như đã nói 
ở trên. 
Liên quan biến đổi phân suất tống máu thất trái 
với một số yếu tố 
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi phân suất 
tống máu thất trái liên quan đến nhóm tuổi (< 50 tuổi, 
≥50 tuổi), tiền sử mắc bệnh lý tim mạch, đái tháo 
đường. Còn với phác đồ điều trị (TCH, AC-TH), 
AC-TH gây giảm LVEF nhiều hơn TCH tại thời điểm 
3 tháng (p = 0) và không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. 
Lý giải kết quả này có lẽ do cỡ mẫu chúng tôi nhỏ, 
cần cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá mối liên quan giữa 
biến đổi phân suất tống máu thất trái với các yếu tố 
nguy cơ. 
KẾT LUẬN 
Qua hồi cứu theo dõi 197 trường hợp bệnh 
nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được điều trị tại 
bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/01/2014 đến 
tháng 31/12/2016, sau khi phân tích chúng tôi rút ra 
một số kết luận như sau: 
Xác suất sống còn không bệnh 5 nĕm là 92,5%, 
xác suất sống còn toàn bộ 5 nĕm là 98,2% ở nhóm 
hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
sống còn không bệnh 5 nĕm theo độ tuổi, tình trạng 
kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai 
đoạn sau mổ và phác đồ hóa trị. 
Tình trạng di cĕn hạch là yếu tố tiên lượng độc 
lập với sống còn không bệnh. 
Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được xác lập 
đối với sống còn toàn bộ. 
Sử dụng hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab 
trong carcinôm vú tương đối an toàn cho bệnh nhân: 
các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có 
sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm TC (2,5%)) không 
đáng kể và có thể kiểm soát được. Độc tính tim 
mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, chỉ có 
1,5% giảm LVEF có ý nghĩa. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Cung Thị Tuyết Anh, Hồ Vĕn Trung, và cs 
(2012), "Xạ trị bổ túc sau phẫu thuật đoạn nhũ 
nạo hạch ung thư vú giai đoạn sớm". Tạp chí 
ung Thư Học Việt Nam, tập 4, tr. 350 - 355. 
2. Bùi Diệu Nguyễn Bá Đức, Trần Vĕn Thuấn và 
cộng sự, (2012), "Gánh nặng bệnh ung thư và 
chiến lược phòng chống ung thư quốc gia đến 
nĕm 2020". Tạp Chí Ung Thư Học, tập 1, 
tr. 13 - 19. 
3. Phùng Thị Huyền (2016), "Đánh giá kết quả hoá 
trị bổ trợ kết hợp trastuzumab trên bệnh nhân 
ung thư vú giai đoạn II, III", Luận án tiến sĩ Y 
học, Trường Đại học Y Hà Nội. 
4. Trần Nguyên Hà (2013), "Bước đầu đánh giá 
điều trị tân hỗ trợ ung thư vú có thụ thể HER 
(+)". Tạp chí ung Thư Học Việt Nam, tập 4, 
tr. 400 - 408. 
5. Advani P. P., Ballman K. V., Dockter T. J et al 
(2016), "Long-term cardiac safety analysis of 
NCCTG N9831 (Alliance) adjuvant trastuzumab 
trial". Journal of Clinical Oncology, vol 34 (6), 
pp. 581. 
6. David C., Martine J., Gelber Ri. D et al. (2017), 
"11 years' follow-up of trastuzumab after 
VÚ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
469 
adjuvant chemotherapy in HER2-positive early 
breast cancer: final analysis of the HERceptin 
Adjuvant (HERA) trial". The Lancet, vol 389 
(10075), pp. 1195 - 1205. 
7. DJ Slamon W., Robert NJ., Giermek J. et al. 
(2016), "Ten year follow-up of BCIRG-006 
comparing doxorubicin plus cyclophosphamide 
followed by docetaxel (AC→T) with doxorubicin 
plus cyclophosphamide followed by docetaxel 
and trastuzumab (AC→TH) with docetaxel, 
carboplatin and trastuzumab (TCH) in HER2+ 
early breast cancer". Cancer Research, vol 76 
(4 Supplement), pp. S5 - 04 - S5 - 04. 
8. Perez E. A., Romond E. H., Suman V. J. et al. 
(2011), "Four - year follow - up of trastuzumab 
plus adjuvant chemotherapy for operable human 
epidermal growth factor receptor 2 - positive 
breast cancer: joint analysis of data from 
NCCTG N9831 and NSABP B - 31". Journal of 
Clinical Oncology, vol 29 (25), pp. 3366. 
9. Reeder - Hayes K. E., Meyer A. M., Hinton S. P. 
et al. (2017), "Comparative Toxicity and 
Effectiveness of Trastuzumab - Based 
Chemotherapy Regimens in Older Women With 
Early-Stage Breast Cancer". Journal of clinical 
oncology: official journal of the American Society 
of Clinical Oncology, vol 35 (29), 
pp. 3298 - 3305. 
10. Slamon D., Eiermann W., Robert Ni. et al. 
(2011), "Adjuvant trastuzumab in HER2 - 
positive breast cancer". New England Journal of 
Medicine, vol 365 (14), pp. 1273 - 1283. 
11. Wu X., Baig A., Kasymjanova G. et al. (2016), 
"Pattern of local recurrence and distant 
metastasis in breast cancer by molecular 
subtype". Cureus, vol 8 (12). 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_cua_hoa_tri_ho_tro_ket_hop_trastuzumab_tron.pdf