Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 năm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 năm của
bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Khảo sát một số yếu tố có
thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp
trastuzumab.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 197 trường hợp được hóa trị hỗ trợ kết hợp
trastuzumab sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi khác)
được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016)
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2
VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 459 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA HÓA TRỊ HỖ TRỢ KẾT HỢP TRASTUZUMAB TRONG UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN I, II, III CÓ BIỂU HIỆN QUÁ MỨC CỦA HER2 TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2, LÊ THỊ HỒNG VÂN3 TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 nĕm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 nĕm của bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Khảo sát một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 197 trường hợp được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016). Kết quả: SCKB 5 nĕm là 92,5%, SCTB 5 nĕm là 98,2%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về SCKB 5 nĕm theo độ tuổi, tình trạng kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai đoạn sau mổ và phác đồ hóa trị. Tình trạng di cĕn hạch là yếu tố tiên lượng độc lập với SCKB. Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được xác lập đối với SCTB. Các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm TC (2,5%)) không đáng kể và có thể kiểm soát được. Độc tính tim mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, chỉ có 1,5% giảm LVEF có ý nghĩa. Kết luận: Hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab có hiệu quả cao và độc tính thấp. ABSTRACT Effect of adjuvant trastuzumab plus chemotherapy for human epidermal growth factor receptor 2 - positive breast cancer stage I, II, III Purpose: We aimed to assess 5-year disease-free survival (DFS), 5-year overall survival (OS), factors influencing 5 - year DFS, 5-year OS. Evaluating the safety of trastuzumab plus chemotherapy. Methods: In this retrospective nonrandomized study, the authors reviewed records of 197 patients with adjuvant trastuzumab plus chemotherapy after mastectomy/lumpectomy in HCM oncology hospital from 01/01/2014 to 31/12/2016. Results: 5 - year DFS was 92,5%, 5 - year OS was 98,2%. We found no significant differences in DFS according to age, menopausal status, tumor size, grade, stage, types of chemotherapy. Presence of lymph node metastasis was the major independent factors that had effect on DFS. The independent prognostic factors for OS was not determined. Grade 3/4 hematologic toxicities (Febrile neutropenia (6,09%), anemia (2,5%), thrombocytopenia (2,5%)) was negligible and they could be controlled. Cardiac toxicity: There was no case for heart failure, only 1,5% significant asymptomatic LVEF decline. Conclusion: It has shown high efficacy and low toxicity in trastuzumab plus chemotherapy. 1 BSCKII. Trưởng Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 2 TS.BS. Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Bác sĩ điều trị Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu Ung Bướu TP. HCM 3 ThS.BSCKI. Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp. Ung thư vú đứng hàng thứ nhất ở nữ giới (25,1%) theo GLOBOCAN 2012 và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở nước phương Tây. Tại Việt Nam, ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mới mắc cao nhất trong các ung thư ở nữ giới. Tỉ lệ mới mắc VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 460 chuẩn theo tuổi nĕm 2010 ước tính là 28,1/100.000 phụ nữ[2]. Tại Việt Nam, trastuzumab có mặt từ nĕm 2006, được chỉ định cho bệnh nhân ung thư vú có HER2 dương tính ở giai đoạn sớm cũng như giai đoạn di cĕn, đã làm phong phú thêm các phác đồ hóa trị hỗ trợ ung thư vú, góp phần nâng cao tỉ lệ sống còn cho bệnh nhân. Tuy nhiên do giá thành thuốc cao, bảo hiểm y tế chỉ chi trả 50%, thời gian điều trị hỗ trợ kéo dài 01 nĕm nên thực tế số lượng bệnh nhân được điều trị trastuzumab tại Việt Nam không cao. Hiện nay, chưa có nghiên cứu đánh giá kết quả cũng như độc tính của trastuzumab kết hợp hóa trị trong điều trị hỗ trợ ung thư vú tại TP. HCM. Chúng tôi đặt ra câu hỏi: Vậy kết quả điều trị của trastuzumab trong trường hợp điều trị hỗ trợ ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I, II, III tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM như thế nào? Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của HER2”. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi có các mục tiêu sau: 1. Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh 5 nĕm, tỉ lệ sống còn toàn bộ 5 nĕm của bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. 2. Khảo sát một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. 3. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab ở bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn thu nhận Bệnh nhân nữ, tuổi ≥18. Ung thư vú giai đoạn I, II, III theo AJCC 7 (2010) sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP. HCM hoặc nơi khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016). Giải phẫu bệnh là carcinôm, có xâm lấn, ống tuyến hoặc tiểu thùy. Hóa mô miễn dịch có HER2 (+++) hoặc HER2 (++) kèm theo FISH (+). Hoá trị hỗ trợ có kết hợp trastuzumab. Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh nhân không thuộc tiêu chuẩn thu nhận. Bệnh nhân mắc ung thư thứ 2. Bệnh nhân ngừng điều trị không phải vì lý do chuyên môn. Xử lý số liệu Dùng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu. Khảo sát sống còn bằng phương pháp Kaplan - Meier. Phân tích tương quan bằng phép kiểm Log - rank. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trong thời gian từ 01/01/2014 đến 31/12/2016 chúng tôi khảo sát được 197 trường hợp carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab tại BVUB TP. HCM thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ đề ra. 2,3 20,1 28 31,3 10,3 0 20 40 ≤ 30 31-39 40-49 50-59 ≥ 60T ỷ lệ % Độ tuổi Biểu đồ 1. Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 461 Bảng 1. Lý do nhập viện Lý do nhập viện n (N = 197) Tỉ lệ % Bướu vú 193 98 Bướu vú + tiết dịch núm vú 2 1 Tiết dịch núm vú 1 0,5 Đau vú 1 0,5 Bảng 2. Các đặc điểm lâm sàng của bướu vú Đặc điểm n (N = 197) Tỉ lệ % Vú mang bướu Vú (T) 100 50,8 Vú (P) 97 49,2 Vị trí bướu Trên ngoài 116 58,9 Trên trong 39 19,8 Dưới ngoài 10 5,1 Dưới trong 10 5,1 Trung tâm 8 4,1 Nhiều vị trí 14 7,1 Số lượng bướu Đơn ổ 183 92,9 Đa ổ 14 7,1 Kích thước bướu Trung bình ± độ lệch chuẩn: 3,36 ± 1,3cm Lớn nhất: 8cm Nhỏ nhất: 1cm T1 (≤ 2cm) 51 25,9 T2 (2 - 5cm) 128 65 T3 (> 5cm) 17 8,6 T4 (kích thước bất kỳ: xâm nhiễm da, thành ngực) 1 0,5 Vị trí bướu ưu thế ở bên trái (50,8%). Kích thước bướu vú trung bình là 3,36 ± 1,3cm, trong đó kích thước bướu trong khoảng 2 - 5cm chiếm chủ yếu (65%). Hầu hết các trường hợp ở giai đoạn T2 (65%), 25,9% là giai đoạn T1, còn lại T3 và T4 lần lượt là 8,6% và 0,5%. Bảng 3. Tình trạng di cĕn hạch nách sau mổ Số hạch nách di cĕn n (N = 197) Tỉ lệ % pN0 (0 hạch) 119 60,4 pN1 (1 - 3 hạch) 33 16,8 pN2 (4 - 9 hạch) 29 14,7 pN3 (≥10 hạch) 15 8,1 Có 60,4% không di cĕn hạch và 39,6% có di cĕn hạch nách sau mổ. Số hạch trung vị được nạo là 12 hạch, thấp nhất 2 hạch, nhiều nhất 25 hạch. Trong đó 91,4% nạo được từ 10 hạch trở lên. Bảng 4. Giai đoạn bệnh sau mổ theo T, N Giai đoạn sau mổ (T, N) n (N = 197) Tỉ lệ % T1N0 32 16,2 T2N0 80 40,6 T3N0 9 4,6 T1N1 6 3 T2N1 25 12,7 T3N1 3 1,5 T1N2 2 1 T2N2 22 11,2 T3N2 3 1,5 T2N3 9 4,6 T4N3 1 0,5 T1N3 4 2 T3N3 1 0,5 Hầu hết các trường hợp là giai đoạn II (60,9%), giai đoạn I và III với tỷ lệ lần lượt là 17,3% và 21,8%. Trong đó 56,8% trường hợp là T1N0 và T2N0. Bảng 5. Đặc điểm giải phẫu bệnh Giải phẫu bệnh n (N = 197) Tỉ lệ % Carcinôm ống tuyến vú 193 98 Carcinôm ống tuyến vú + Paget núm vú 1 0,5 Carcinôm tiểu thùy xâm lấn 3 1,5 VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 462 Biểu đồ 2. Phân bố grad mô học Bảng 6. Tình trạng thụ thể nội tiết Thụ thể nội tiết n (N = 197) Tỉ lệ % ER dương tính, PR dương tính 78 39,6 ER dương tính, PR âm tính 21 10,7 ER âm tính, PR dương tính 1 0,5 ER âm tính, PR âm tính 97 49,2 50,3%49,7% luminal B HER2 Biểu đồ 3. Phân nhóm sinh học Bảng 7. Phân bố các loại phẫu thuật Loại phẫu thuật n (N = 197) Tỉ lệ Phẫu thuật bảo tồn 2 1 Đoạn nhũ nạo hạch 150 76,2 Đoạn nhũ tiết kiệm da - tái tạo vú tức thì 35 17,8 Đoạn nhũ - sinh thiết hạch lính gác 3 1,5 Sinh thiết hạch lính gác - đoạn nhũ nạo hạch - tái tạo 6 3 Đoạn nhũ làm sạch 1 0,5 VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 463 Biểu đồ 4. Thời gian từ khi phẫu trị đến lúc bắt đầu hóa trị hỗ trợ Bảng 8. Các phác đồ hóa trị Phác đồ n (N = 197) Tỉ lệ % TCH 163 82,7 AC - TH 34 17,3 Theo dõi 197 trường hợp đến ngày 30/07/2019, ngắn nhất là 32 tháng, dài nhất là 62 tháng, trung vị 45 tháng. Có 10 trường hợp (5,07%) mất dấu. Kết thúc nghiên cứu có 188 trường hợp còn sống không bệnh (95,43%), 7 trường hợp tái phát và/hoặc di cĕn (6 trường hợp còn sống, 1 trường hợp tử vong) (3,55%), 3 trường hợp tử vong (1,53%). Có 7 ca tái phát (3,5%) trong thời gian theo dõi, chủ yếu di cĕn phổi, xương. Thời gian từ lúc phẫu thuật đến khi tái phát của 7 bệnh nhân lần lượt là: 3 tháng, 18 tháng, 25 tháng, 35 tháng, 41 tháng, 44 tháng, 55 tháng. Bảng 9. Vị trí tái phát Vị trí tái phát n (N = 7) Hạch trên đòn cùng bên 1 Phổi 2 Xương 2 Gan 1 Não 1 Trung vị thời gian tái phát/ di cĕn: 35 tháng. Biểu đồ 5. Sống còn không bệnh 5 nĕm Trung bình thời gian sống còn không bệnh (DFS) ước tính theo Kaplan Meier: 60,1 tháng (95% CI 58,8 - 61,3). Tỷ lệ sống còn không bệnh 1 nĕm, 2 nĕm, 3 nĕm, 4 nĕm, 5 nĕm tương ứng là: 99%; 98%; 96,9%; 95,2%; 92,5%. Bảng 10. Phân tích đa biến liên quan đến sống còn không bệnh Đặc điểm Phân nhóm so sánh Phân tích đơn biến Phân tích đa biến Tuổi ≤ 35 / >35 0,96 0,83 Kinh nguyệt Mãn kinh/còn kinh 0,17 0,2 pT pT1 / pT2 / pT3 0 0,72 pN pN (-) / pN (+) 0,01 0,32 pN pN0/ pN1/ pN2/ pN3 0,06 0,39 Giai đoạn sau mổ I / II / III 0,22 0,55 Grad mô học 1 / 2 / 3 0,47 0,29 Phác đồ hóa trị TCH AC - TH 0,12 0,59 Tính đến thời điểm 31/7/2019, có 3 bệnh nhân tử vong. Thời gian từ lúc phẫu thuật đến khi tử vong của 3 bệnh nhân lần lượt là: 8 tháng, 16 tháng, 41 tháng. 92,5% VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 464 Biểu đồ 6. Sống còn toàn bộ Trung bình thời gian sống thêm toàn bộ ước tính là 61,3 tháng (95% CI 60,5 - 62). Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 nĕm, 2 nĕm, 3 nĕm, 4 nĕm, 5 nĕm tương ứng là: 99,5%; 99%; 98,2%; 98,2%. Một số tác dụng không mong muốn của phác đồ điều trị Có 2 bệnh nhân có phản ứng thuốc trastuzumab ở chu kỳ đầu tiên (1,01%), mức độ phản ứng nhẹ (ngứa da). Bảng 11. Độc tính trên hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân Độ Giảm BC Số trường hợp (%) Giảm BCĐNTT Số trường hợp (%) Giảm TC Số trường hợp (%) Giảm Hb Số trường hợp (%) 0 76 (38,6) 56 (28,4) 141 (71,6) 137 (69,5) 1 15 (7,6) 21 (10,7) 42 (21,3) 30 (15,2) 2 45 (22,8) 13 (6,6) 9 (4,6) 25 (12,7) 3 47 (23,9) 26 (13,2) 4 (2) 4 (2) 4 14 (7,1) 81 (41,1) 1 (0,5) 1 (0,5) Bảng 12. Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân(1) Độ Nôn, buồn nôn n (%) Viêm niêm mạc miệng n (%) Tiêu chảy n (%) Phù ngoại vi n (%) N = 197 0 183 (92,9) 174 (88,3) 168 (85,3) 195 (99) 1 12 (6,1) 21 (10,7) 22 (11,2) 2 (1) 2 2 (1) 2 (1) 7 (3,6) 0 (0) Bảng 13. Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân(2) Độ Đau cơ n (%) Rối loạn thần kinh ngoại vi n (%) Tĕng men gan n (%) Độc tính thận n (%) N = 197 0 190 (96,4) 187 (94,9) 154 (78,2) 0 (0) 1 5 (2,5) 8 (4,1) 26 (13,2) 0 (0) 2 2 (1) 2 (1) 13 (6,6) 0 (0) 3 0 (0) 0 (0) 4 (2) 0 (0) 4 0 (0) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 98,2% VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 465 Bảng 14. Trì hoãn hóa trị do độc tính hóa trị hỗ trợ Theo tổng số trường hợp nghiên cứu (N = 197) n (%) Theo phác đồ TCH (N = 163) n (%) Theo phác đồ AC-TH (N = 34) n (%) Số trường hợp bị trì hoãn 122 (61,9) 109 (66,87) 13 (38,23) Lý do trì hoãn Giảm tế bào máu 116 (58,8) 105 (64,41) 11 (32,35) Giảm tế bào máu + tĕng men gan 4 (2,02) 4 (2,46) 0 (0) Tĕng men gan 2 (1,01) 0 (0) 2 (5,88) Độc tính tim mạch Suy tim Phân tích trên 197 bệnh nhân, không có bệnh nhân nào bị suy tim. Bảng 15. Biến đổi phân suất tống máu thất trái (LVEF) qua các thời điểm đánh giá so với giá trị ban đầu Biến đổi LVEF (%) Sau 3 tháng n (%) Sau 6 tháng n (%) Sau 9 tháng n (%) Sau 12 tháng n (%) Không giảm 149 (75,6) 165 (84,2) 168 (86,2) 170 (87,2) Giảm <10% 46 (23,4) 30 (15,3) 27 (13,8) 25 (12,8) Giảm 10 - 5% 1 (0,5) 1 (0,5) 0 (0) 0 (0) Giảm > 15% 1 (0,5) 0 (0) 0 (0) 0 (0) Tổng số bệnh nhân 197 196 195 195 Chỉ có 1,5% trường hợp giảm LVEF >10%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến nhóm tuổi, tiền sử mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Có 19% trường hợp dùng TCH và 50% trường hợp dùng AC - TH giảm LVEF tại thời điểm 3 tháng, điều này có ý nghĩa thống kê (p = 0). Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến phác đồ điều trị tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. BÀN LUẬN Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu Tuổi trung vị trong nghiên cứu của chúng tôi là 49 tuổi, khoảng tuổi 40 - 60 tuổi chiếm 59,3%, tương tự kết quả các nghiên cứu trước đây có liên quan đến ung thư vú HER2 dương tính tại Việt Nam[3,4]. Khối bướu ở vị trí ¼ trên ngoài là thường gặp nhất (58,9%), theo sau đó là ¼ trên trong (19,8%). Tác giả Phùng Thị Huyền ghi nhận có 54% bướu ở ¼ trên ngoài[3]. Ung thư thường xảy ra ở vị trí ¼ trên ngoài do đây là vị trí có mô tuyến vú nhiều nhất. Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước bướu chủ yếu là T2 (65%), bướu T1 25,9%, kích thước bướu vú trung bình là 1,84 ± 0,5cm, hầu hết bướu vú ở giai đoạn T1 - 2 (90,9%). So sánh với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Cung Thị Tuyết Anh[1] hồi cứu 508 trường hợp giai đoạn I - IIIA ghi nhận 25,2% bướu giai đoạn T1, 71,7% bướu giai đoạn T2 và 3% bướu giai đoạn T3. Hầu như các bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam khi phát hiện bệnh đều ở giai đoạn bướu T2, tỉ lệ bướu T1 thấp hơn nhiều so với các nước phát triển khác trên thế giới. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận hạch âm tính sau mổ (N0) chiếm tỉ lệ cao (60,4%), chỉ 39,6% có hạch nách dương tính. Tác giả Phùng Thị Huyền nghiên cứu 63 trường hợp tại Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tương tự với tỉ lệ hạch âm tính là 60,3% và hạch dương tính là 39,7%. Trong nghiên cứu BCIRG - 006[10] khảo sát 3222 trường hợp ghi nhận tỉ lệ N0 là 28,6%, N1 là 38,3%, N2 (di cĕn 4 - 9 hạch) là 23%, N3 (di cĕn ≥10 hạch) là 10%. Trong nghiên cứu NSABP B - 31 đối tượng nghiên cứu là các trường hợp có hạch nách dương tính, nghiên cứu NCCTG N9831 tỉ lệ di cĕn hạch nách chiếm 84,6% và 86,3% lần lượt ở nhóm chứng và nhóm điều trị với trastuzumab[8]. Nghiên cứu HERA, số trường hợp có hạch nách âm tính là 32%, dương tính là 57%, và có 11% không đánh giá tình trạng hạch do được hóa trị tân hỗ trợ[6]. Lý giải cho sự khác biệt này, có thể do các nghiên cứu trước VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 466 đây ở nước ngoài khi nghiên cứu tiền cứu đánh giá hiệu quả của trastuzumab thì tiêu chuẩn nhận bệnh của họ là những trường hợp hạch dương tính hoặc hạch âm tính có nguy cơ cao còn nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu chỉ ghi nhận lại tất cả trường hợp có sử dụng trastuzumab trong điều trị hỗ trợ. Các mô thức điều trị Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ 1% trường hợp được phẫu thuật bảo tồn, còn lại 99% là đoạn nhũ. Giải thích cho điều này có lẽ do việc khó khĕn trong việc xác định bờ khối u cả trên lâm sàng, hình ảnh học, tâm lý bệnh nhân e ngại khi chỉ phẫu thuật bảo tồn, bệnh nhân không muốn xạ trị thêm sau phẫu thuật bảo tồn. Trastuzumab được FDA chấp thuận trong điều trị ung thư vú di cĕn nĕm 1998, còn điều trị hỗ trợ ung thư vú nĕm 2006. Hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab đã trở thành điều trị chuẩn đối với ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính. Phác đồ hóa trị kết hợp với trastuzumab dù có anthracycline hay không anthracycline đều được chấp thuận trong các hướng dẫn điều trị của quốc tế, nhưng độc tính tim mạch sẽ cao hơn đối với phác đồ có anthracycline. Nghiên cứu Sống còn toàn bộ 5 nĕm (%) Seferina (N = 476)[84] 90,7 BCIRG - 006 (N = 3222)[88] 92 (AC - TH) 91 (TCH) Conte (N = 627)[24] 95,2 Vici (N = 925)[104] 96 Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 98,4 Nghiên cứu này (N = 197) 98,2 Không nên điều trị đồng thời trastuzumab và anthracycline mà nên sử dụng tuần tự do độc tính tim mạch sẽ tĕng cao khi sử dụng đồng thời 2 thuốc này. Theo tác giả Katherine nghiên cứu trên 1077 trường hợp tại Hoa Kỳ, ghi nhận hiện nay đang có khuynh hướng giảm dần sử dụng phác đồ AC - TH so với trước đây, chỉ còn 15% vào nĕm 2011 so với nĕm 2005 là 88%, đồng thời tĕng sử dụng phác đồ TCH[9]. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độc tính liên quan hóa trị giữa 2 phác đồ này (AC - TH 34% so với TCH 36,5%; p = 0,46). Bệnh nhân điều trị phác đồ TCH thì có khả nĕng hoàn tất 1 nĕm liệu trình trastuzumab cao hơn AC-TH (89% so với 77%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p = 0,001). Kết quả điều trị Tỉ lệ tái phát là 7/197 trường hợp (3,5%). Tái phát chủ yếu là di cĕn xa (xương, phổi, gan, não), chỉ có 1 trường hợp tái phát tại vùng (hạch trên đòn cùng bên). Điều này phù hợp với y vĕn khi tái phát trong ung thư vú khoảng 72,5% là di cĕn xa, chỉ 27,5% là tái phát tại chỗ tại vùng[11]. Bảng 16. Sống còn không bệnh 5 nĕm so với các tác giả khác Nghiên cứu Sống còn không bệnh 5 nĕm (%) Seferina (N = 476)[84] 80,7 BCIRG - 006 (N = 3222)[88] 84 (AC - TH) 81 (TCH) Conte (N = 627)[24] 88 Vici (N = 925)[104] 88,6 Adusumilli (N = 212)[10] 92 Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 92,1 Nghiên cứu này (N = 197) 92,5 Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88] cho thấy DFS 5 nĕm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là 84% (HR 0,64; p <0,001), 81% (HR 0,75; p = 0,04),và 75%. Xác suất sống còn không bệnh 5 nĕm trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu khác, cao hơn cả nghiên cứu tương tự ở Hà Nội của tác giả Phùng Thị Huyền. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng sự khác biệt về kết quả giữa các nghiên cứu: Do quần thể nhóm nghiên cứu của chúng tôi không ngẫu nhiên nên có thể có các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tốt hơn. Cụ thể là sự khác nhau về tỉ lệ kích thước bướu, di cĕn hạch, grad mô học, thụ thể nội tiết ở nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Trong đó di cĕn hạch là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất đối với sống còn, tỉ lệ di cĕn hạch trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ 39,6% trong khi hầu hết các nghiên cứu khác dao động từ 60 - 70%. Đặc điểm tái phát, di cĕn xa, nhất là di cĕn những cơ quan sinh tử (gan, phổi, não) và cách thức điều trị sau khi bệnh tái phát, di cĕn. Cỡ mẫu và thời gian theo dõi. Bảng 17. Sống còn toàn bộ 5 nĕm so với các nghiên cứu khác Nghiên cứu Sống còn toàn bộ 5 nĕm (%) Seferina (N = 476)[84] 90,7 VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 467 BCIRG-006 (N = 3222)[88] 92 (AC - TH) 91 (TCH) Conte (N = 627)[24] 95,2 Vici (N = 925)[104] 96 Phùng Thị Huyền (N = 63)[8] 98,4 Nghiên cứu này (N = 197) 98,2 Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88] cho thấy OS 5 nĕm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là 92% (HR 0,63; p <0,001), 91% (HR 0,77; p = 0,04) và 87%. Xác suất sống còn toàn bộ 5 nĕm trong nghiên cứu của chúng tôi hơi cao hơn các nghiên cứu khác, có thể do không được phân bố ngẫu nhiên và các lý do như đã nêu trên. Trong phân tích đơn biến, có di cĕn hạch nách là yếu tố có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cho sống còn không bệnh 5 nĕm (p = 0,01), điều này phù hợp với y vĕn[10]. Trong phân tích đa biến thì không có yếu tố nào là các yếu tố tiên lượng độc lập đến sống còn không bệnh 5 nĕm, có lẽ do số lượng biến cố trong nghiên cứu của chúng tôi quá ít. Bảng 18. Độc tính huyết học độ 3, 4 so với tác giả khác Độc tính Nhóm có trastuzumab (%) Slamon[88] Phùng Thị Huyền[8] Nghiên cứu này Giảm BC 54,25 6,4 31 Giảm BCĐNTT 68,7 23,7 54,3 Giảm BCĐNTT có sốt 10,25 16 6,09 Giảm TC 4,45 0 2,5 Giảm Hb 4,1 4,8 2,5 Tỉ lệ giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3, 4 trong nghiên cứu của chúng tôi gần tương đồng với nghiên cứu của Slamon (BCIRG - 006) nhưng cao hơn nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền. Nguyên nhân do nhóm nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền có sử dụng thuốc kích thích tủy dự phòng nguyên phát ngay từ đầu còn nghiên cứu của chúng tôi và Slamon thì không. Chỉ định sử dụng kích thích tủy dự phòng nguyên phát được đưa vào hướng dẫn điều trị của NCCN từ nĕm 2017 đối với phác đồ TCH (nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt >20%) còn nghiên cứu của chúng tôi lấy nhóm nghiên cứu được điều trị nĕm 2014, 2015, 2016. Bảng 19. Độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 so với tác giả khác Độc tính Nhóm có trastuzumab (%) Slamon[88] Phùng Thị Huyền[8] Nghiên cứu này Nôn, buồn nôn 5,1 0 0 Tiêu chảy 5,5 0 0 Đau cơ 3,5 1,6 0 Rối loạn thần kinh ngoại vi 25,4 0 0 Tĕng men gan Không ghi nhận 4,8 2 Độc tính thận 0,2 0 0 Kết quả độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 trong nghiên cứu chúng tôi tương tự nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền nhưng ít hơn nghiên cứu của Slamon có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ và nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu, độc tính ngoài hệ tạo huyết chỉ có thể ghi nhận dựa trên hồ sơ bệnh án. Bảng 20. Tỉ lệ suy tim trong các nghiên cứu Nghiên cứu Suy tim có triệu chứng (%) Nghiên cứu này 0 HERA (N = 5102)[31] Hóa trị 0 Hóa trị -> trastuzumab 1 nĕm 0,8 Hóa trị -> trastuzumab 2 nĕm 0,8 NSABP B-31 (N = 2101)[11] AC-T 0,9 AC-TH 2,6 BCIRG-006 (N = 3222)[88] AC-T 0,7 AC-TH 2 TCH 0,4 Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có trường hợp nào bị suy tim. Có thể do đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi vốn ít có những yếu tố nguy cơ tĕng độc tính tim mạch của trastuzumab: chỉ có 3,6% >65 tuổi, 1,5% có BMI >30kg/m2, 12,2% trường hợp có bệnh lý tim mạch trước đó (tĕng huyết áp, thiếu máu cơ tim) nhưng tất cả những trường hợp này được khám và điều trị thuốc tim mạch đầy đủ, tỉ lệ dùng phác đồ có không anthracycline là 82,7% còn phác đồ có anthracycline (AC - TH) chỉ 17,3%. Trong nghiên cứu BCIRG - 006, tỉ lệ suy tim ở nhóm TCH là 0,4%, VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 468 thậm chí còn thấp hơn cả nhóm chứng AC - T (0,7%). Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng lớn nghiên cứu trastuzumab trong điều trị hỗ trợ cho thấy tỉ lệ suy tim khoảng 0,6 - 3,8%[5,6,7]. Biến đổi phân suất tống máu thất trái qua các thời điểm điều trị Trong nghiên cứu HERA, giảm LVEF có ý nghĩa được định nghĩa là LVEF giảm ≥10% so với trước điều trị hoặc LVEF < 50% bất cứ thời điểm nào. Bảng 21. Tỉ lệ giảm phân suất tống máu thất trái so với các nghiên cứu khác Nghiên cứu Giảm LVEF có ý nghĩa (%) Nghiên cứu này 1,5 HERA (N = 5102)[31] Hóa trị 0,9 Hóa trị -> trastuzumab 1 nĕm 4,1 Hóa trị -> trastuzumab 2 nĕm 7,2 NSABP B - 31 (N = 2101)[11] AC - T 15,4 AC - TH 27,1 BCIRG - 006 (N = 3222)[88] AC - T 11,2 AC - TH 16,8 TCH 9,4 Tỉ lệ giảm LVEF có ý nghĩa trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các thử nghiệm lâm sàng lớn trên thế giới có lẽ do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ và do đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi ít có những yếu tố nguy cơ tĕng độc tính tim mạch của trastuzumab như đã nói ở trên. Liên quan biến đổi phân suất tống máu thất trái với một số yếu tố Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến nhóm tuổi (< 50 tuổi, ≥50 tuổi), tiền sử mắc bệnh lý tim mạch, đái tháo đường. Còn với phác đồ điều trị (TCH, AC-TH), AC-TH gây giảm LVEF nhiều hơn TCH tại thời điểm 3 tháng (p = 0) và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Lý giải kết quả này có lẽ do cỡ mẫu chúng tôi nhỏ, cần cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá mối liên quan giữa biến đổi phân suất tống máu thất trái với các yếu tố nguy cơ. KẾT LUẬN Qua hồi cứu theo dõi 197 trường hợp bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được điều trị tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016, sau khi phân tích chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: Xác suất sống còn không bệnh 5 nĕm là 92,5%, xác suất sống còn toàn bộ 5 nĕm là 98,2% ở nhóm hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sống còn không bệnh 5 nĕm theo độ tuổi, tình trạng kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai đoạn sau mổ và phác đồ hóa trị. Tình trạng di cĕn hạch là yếu tố tiên lượng độc lập với sống còn không bệnh. Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được xác lập đối với sống còn toàn bộ. Sử dụng hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong carcinôm vú tương đối an toàn cho bệnh nhân: các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm TC (2,5%)) không đáng kể và có thể kiểm soát được. Độc tính tim mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, chỉ có 1,5% giảm LVEF có ý nghĩa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cung Thị Tuyết Anh, Hồ Vĕn Trung, và cs (2012), "Xạ trị bổ túc sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch ung thư vú giai đoạn sớm". Tạp chí ung Thư Học Việt Nam, tập 4, tr. 350 - 355. 2. Bùi Diệu Nguyễn Bá Đức, Trần Vĕn Thuấn và cộng sự, (2012), "Gánh nặng bệnh ung thư và chiến lược phòng chống ung thư quốc gia đến nĕm 2020". Tạp Chí Ung Thư Học, tập 1, tr. 13 - 19. 3. Phùng Thị Huyền (2016), "Đánh giá kết quả hoá trị bổ trợ kết hợp trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III", Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 4. Trần Nguyên Hà (2013), "Bước đầu đánh giá điều trị tân hỗ trợ ung thư vú có thụ thể HER (+)". Tạp chí ung Thư Học Việt Nam, tập 4, tr. 400 - 408. 5. Advani P. P., Ballman K. V., Dockter T. J et al (2016), "Long-term cardiac safety analysis of NCCTG N9831 (Alliance) adjuvant trastuzumab trial". Journal of Clinical Oncology, vol 34 (6), pp. 581. 6. David C., Martine J., Gelber Ri. D et al. (2017), "11 years' follow-up of trastuzumab after VÚ TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 469 adjuvant chemotherapy in HER2-positive early breast cancer: final analysis of the HERceptin Adjuvant (HERA) trial". The Lancet, vol 389 (10075), pp. 1195 - 1205. 7. DJ Slamon W., Robert NJ., Giermek J. et al. (2016), "Ten year follow-up of BCIRG-006 comparing doxorubicin plus cyclophosphamide followed by docetaxel (AC→T) with doxorubicin plus cyclophosphamide followed by docetaxel and trastuzumab (AC→TH) with docetaxel, carboplatin and trastuzumab (TCH) in HER2+ early breast cancer". Cancer Research, vol 76 (4 Supplement), pp. S5 - 04 - S5 - 04. 8. Perez E. A., Romond E. H., Suman V. J. et al. (2011), "Four - year follow - up of trastuzumab plus adjuvant chemotherapy for operable human epidermal growth factor receptor 2 - positive breast cancer: joint analysis of data from NCCTG N9831 and NSABP B - 31". Journal of Clinical Oncology, vol 29 (25), pp. 3366. 9. Reeder - Hayes K. E., Meyer A. M., Hinton S. P. et al. (2017), "Comparative Toxicity and Effectiveness of Trastuzumab - Based Chemotherapy Regimens in Older Women With Early-Stage Breast Cancer". Journal of clinical oncology: official journal of the American Society of Clinical Oncology, vol 35 (29), pp. 3298 - 3305. 10. Slamon D., Eiermann W., Robert Ni. et al. (2011), "Adjuvant trastuzumab in HER2 - positive breast cancer". New England Journal of Medicine, vol 365 (14), pp. 1273 - 1283. 11. Wu X., Baig A., Kasymjanova G. et al. (2016), "Pattern of local recurrence and distant metastasis in breast cancer by molecular subtype". Cureus, vol 8 (12).
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_cua_hoa_tri_ho_tro_ket_hop_trastuzumab_tron.pdf

