Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động ở người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2013

Đặt vấn đề: Tai biến mạch máu não đang có chiều hướng gia tăng và gây tử vong cao trong

những năm gần đây và để lại hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu nhằm 2 mục tiêu: 1) Đánh giá

kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng vận động trước và sau can thiệp; 3) Tìm hiểu một số

yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân tai biến

mạch máu não.

Phương pháp: Nghiên cứu theo mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp trên 366 bệnh

nhân tai biến mạch máu não có hồ sơ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ

ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013

pdf 6 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động ở người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động ở người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2013

Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động ở người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang năm 2013
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 75 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG 
Ở NGƯỜI BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO 
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂM 2013 
 Nguyễn Duy Tân*, Nguyễn Thị Thanh Hà**, Nguyễn Thị Ngọc Hà** 
TÓM TẮT 
 Đặt vấn đề: Tai biến mạch máu não đang có chiều hướng gia tăng và gây tử vong cao trong 
những năm gần đây và để lại hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu nhằm 2 mục tiêu: 1) Đánh giá 
kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng vận động trước và sau can thiệp; 3) Tìm hiểu một số 
yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân tai biến 
mạch máu não. 
 Phương pháp: Nghiên cứu theo mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp trên 366 bệnh 
nhân tai biến mạch máu não có hồ sơ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ 
ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013. 
 Kết quả: Sự khác biệt mức độ phụ thuộc hoàn toàn các hoạt động sống hàng ngày trước và 
sau khi can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tuổi từ 60 trở lên, nghề nghiệp là hưu trí, 
loại tổn thương xuất huyết não có liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng. 
 Kết luận: Triển khai rộng rãi chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho 
người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ là cần thiết. 
CARE NEED AND ASSESSMENT RESULTS OF MOTOR REHABILITATION AMONG 
STROKE PATIENTS IN AN GIANG, 2013 
 Tan Nguyen Duy, Ha Nguyen Thi Thanh, Ha Nguyen Thi Ngoc 
Abstract 
 Background: Stroke is a tendency to increase and causes high mortality in recent years, and 
serious consequences. The study aimed to: 1) Evaluation of the care and recovery of motor 
function before and after interventions; 3) identify factors related to the outcomes of care and 
recovery of motor function in patients with cerebral vascular accident. 
........ 
(*) Bs. CKII. Nguyễn Duy Tân: Phó Giám đốc Bệnh viện ĐKTT An Giang 
(**) CN Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Ngọc Hà: Khoa Phục hồi chức năng 
 Method: A cross-sectional combined intervention study on 366 stroke patients in An Giang 
Hospital from 01/01/2013 to 31/12/2013. 
 Result: The difference depends entirely level of daily activity before and after the 
intervention has statistically significant (p<001). Age 60 and over, retirement, type of cerebral 
hemorrhage damage is related to outcomes of care and rehabilitation. Conclusion: Widely 
deployed rehabilitation program based in the community for patients with hemiplegia after 
stroke is needed. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 Trong những năm gần đây, tai biến mạch máu não đang có chiều hướng gia tăng cướp đi 
nhiều sinh mạng của nhiều người hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại to lớn cho gia đình 
và xã hội. Tai biến mạch máu não xảy ra đa phần do sự hiểu biết không đầy đủ về căn bệnh này 
và một khi đã xảy ra, việc điều trị sẽ cực kỳ tốn kém. Mặc dù có nhiều tiến bộ đáng kể về 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 76 
phương diện chẩn đoán, điều trị nội khoa hay ngoại khoa, nhưng tỷ lệ tử vong do tai biến mạch 
máu não vẫn còn khá cao ở những nước tiên tiến và rất cao ở Việt Nam. Ở các nước phát triển, 
tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư 
và đứng hàng thứ nhất trong các bệnh thần kinh. Hiện nay, điều trị thành công cho người bệnh 
tai biến mạch máu não bao gồm cả điều trị bằng thuốc và cả chăm sóc tại bệnh viện, trong cộng 
đồng thì cơ may giảm được tử vong và các di chứng, biến chứng. Vì thế, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu đề tài này. 
2. ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
 Nghiên cứu theo mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp trên 366 bệnh nhân tai biến mạch 
máu não có hồ sơ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ ngày 01/01/2013 
đến ngày 31/12/2013. Sau khi người bệnh ra viện về nhà, tiến hành khảo sát người bệnh có nhu 
cầu chăm sóc và phục hồi chức năng để đưa vào mẫu nghiên cứu can thiệp. Xử lý và phân tích 
số liệu bằng mềm SPSS 18.0. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. 
 3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 
 Nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ cao (67%), tuổi nhỏ nhất là 23, tuổi trung bình là 
67,87, tuổi lớn nhất là 97; nữ (50,1%), nam (49,9%); nông dân (8,7%), hưu và trên 60 tuổi 
(61%), nghề khác (30,3%); liệt bên phải (48,9%), liệt bên trái (51,1%); và nhồi máu não chiếm 
tỷ lệ cao (76.9%), xuất máu não chiếm tỷ lệ thấp (23,1%). 
 3.2. Đánh giá kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng sau can thiệp 
 Bảng 1: Đánh giá kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng sau can thiệp 3 tháng 
Thời điểm 
Mức độ 
Trước can thiệp Sau 3 tháng 
p 
n (%) n (%) 
Phụ thuộc hoàn toàn 238 65,0 147 40,2 
< 0,001 
Phụ thuộc một phần 118 32,2 198 54,1 
Độc lập 10 2,7 21 5,7 
Tổng số 366 100 366 100 
 Sự khác biệt mức độ phụ thuộc hoàn toàn các hoạt động sống hàng ngày trước và sau khi 
can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. 
 Bảng 2. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Ogogozo trước và sau 
can thiệp 
Thời điểm 
Đánh giá 
Trước can thiệp Sau 3 tháng 
p 
n % n % 
Phục hồi kém 229 62,2 145 39,6 
< 0,001 Phục hồi khá tốt 127 34,7 198 54,1 
Phục hồi tốt ít di chứng 10 2,7 23 6,3 
Tổng số 366 100 366 100 
 Trước can thiệp, mức độ phục hồi kém là 62,2%. Sau khi can thiệp, mức độ phục hồi kém 
giảm còn 39,6%. Sự khác biệt mức độ phục hồi chức năng trước và sau khi can thiệp có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,001. 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 77 
 Bảng 3. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Fugl-Meyer trước và 
sau can thiệp 
 Thời điểm 
Mức độ 
Trước can thiệp Sau 3 tháng 
p 
n % n % 
Không ngồi được 167 45,6 32 8,7 
< 0,001 Không đứng được 194 53,0 53 14,5 
Không đi được 287 78,4 114 31,1 
 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trước và sau can thiệp 
theo thang điểm Fugl-Meyer Scale.. 
 3.3. Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng 
 Bảng 4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc 
Nhóm tuổi 
Phụ thuộc hoàn 
toàn 
Phụ thuộc một 
phần 
Độc lập 
p 
n % n % n % 
Dưới 60 tuổi 2 0,5 85 23,2 21 5,7 
< 0,001 
Từ 60 tuổi trở lên 145 39,6 113 30,9 0 0 
Nghề nghiệp 
Nông dân 3 0,8 28 7,7 3 0,8 
< 0,001 Hưu, trên 60 tuổi 137 37,4 82 22,4 0 0 
Nghề khác 7 1,9 88 24,0 18 4,9 
Loại tổn thương 
Nhồi máu não 103 28,1 162 44,3 15 4,1 
0,033 Xuất huyết não 44 12,0 36 9,8 6 1,6 
Tổng số 147 40,2 198 54,1 21 5,7 
 Tuổi từ 60 trở lên, nghề nghiệp là hưu trí và loại tổn thương xuất huyết não có kết quả 
chăm sóc kém hơn (p < 0,001). Yếu tố giới tính, bên bị liệt chưa thật sự liên quan đến kết quả 
chăm sóc. 
 Bảng 5. Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm 
Orgogozo 
Nhóm tuổi 
Kém Khá tốt Tốt ít di chứng 
P 
n % n % n % 
<60 tuổi 1 0,3 84 23,0 23 6,3 
< 0,001 
>60 tuổi 144 39,3 114 31,1 0 0 
Nghề nghiệp 
Nông dân 3 0,8 28 7,7 3 0,8 
< 0,001 Hưu, trên 60 tuổi 136 37,2 83 22,7 0 0 
Nghề khác 6 1,6 87 23,8 20 5,5 
Loại tổn thương 
Nhồi máu não 104 28,4 161 44,0 15 4,1 
0,049 Xuất huyết não 41 11,2 37 10,1 8 2,2 
Tổng số 145 39,6 198 54,1 23 6,3 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 78 
 Tuổi từ 60 trở lên,nghề nghiệp là hưu trí và loại tổn thương xuất huyết não phục hồi di 
chứng kém hơn (p < 0,001). Yếu tố giới tính, bên bị liệt chưa thật sự liên quan đến phục hồi 
chức năng. 
 Bảng 6. Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm 
Fulg-Meyer 
Nhóm tuổi 
Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi 
p 
n % n % n % 
Dưới 60 tuổi 0 0 0 0 108 29,5 
< 
0,001 
Từ 60 tuổi trở 
lên 
32 8,7 46 12,6 180 49,2 
Nghề nghiệp 
Nông dân 0 0 0 0 34 9,3 
< 
0,001 
Hưu, trên 60 
tuổi 
31 8,5 46 12,6 142 38,8 
Nghề khác 1 0,3 0 0 112 30,6 
Nhóm tuổi 
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng 
p 
n % n % n % 
Dưới 60 tuổi 0 0,0 3 0,8 105 28,7 
< 
0,001 
Từ 60 tuổi trở 
lên 
53 14,5 67 18,3 138 37,7 
Nghề nghiệp 
Nông dân 0 0,0 4 1,1 30 8,2 
< 
0,001 
Hưu, trên 60 
tuổi 
52 14,2 63 17,2 104 28,4 
Nghề khác 1 0,3 3 0,8 109 29,8 
Nhóm tuổi 
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi 
p 
n % n % n % 
Dưới 60 tuổi 0 0,0 5 1,4 103 28,1 
< 
0,001 
Từ 60 tuổi trở 
lên 
114 31,1 54 14,8 90 24,6 
Tổng số 114 31,1 59 16,1 193 52,7 
Nghề nghiệp 
Nông dân 2 0,5 3 0,8 29 7,9 
< 
0,001 
Hưu, trên 60 
tuổi 
110 30,1 46 12,6 63 17,2 
Nghề khác 2 0,5 10 2,7 101 27,6 
Loại tổn 
thương 
Nhồi máu não 91 24,9 33 9,0 156 42,6 < 
0,001 Xuất huyết não 23 6,3 26 7,1 37 10,1 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 79 
 Tuổi từ 60 trở lên,nghề nghiệp là hưu trí và loại tổn thương xuất huyết não phục hồi di 
chứng kém hơn (p < 0,001). Yếu tố giới tính, bên bị liệt chưa thật sự liên quan đến phục hồi 
chức năng. 
IV. BÀN LUẬN 
 Những năm gần đây, tai biến mạch máu não có chiều hướng gia tăng. Việc cứu chữa và phục 
hồi chức năng đã có nhiều tiến bộ, nhưng tai biến mạch máu não là bệnh nặng, phức tạp nên tỷ 
lệ tử vong còn cao, thường để lại nhiều di chứng, gây trở ngại, khó khăn trong cuộc sống và dễ 
trở thành tàn tật. Qua nghiên cứu 366 bệnh nhân TBMMN tại Bệnh viện ĐKTT An Giang năm 
2013, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân bị tai biến mạch máu não có tỷ lệ di chứng, tàn tật ở 
người bệnh sau tai biến mạch máu não rất cao. Phục hồi chức năng nhằm tăng cường khả năng 
còn lại của cá nhân để giảm hậu quả của tàn tật. Luyện tập phục hồi chức năng giúp cải thiện 
các điều kiện trong giao tiếp, sinh hoạt, để người bệnh có thể đến được nơi họ đến, tạo công ăn 
việc làm, học hành vui chơi. 
 Hiện nay có nhiều phương pháp được thế giới sử dụng rộng rãi để phục hồi chức năng cho 
bệnh nhân TBMMN là phương pháp của Bobath B dựa trên nguyên tắc cơ bản sử dụng các 
mẫu ức chế phản xạ và phương pháp học lại chức năng vận động của Carr và Shepard. 
 Liệt nửa người do tai biến mạch máu não gây ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến việc đứng, 
thăng bằng, đi lại mà còn ảnh hưởng đến việc sử dụng chi trên và bàn tay trong sinh hoạt hàng 
ngày. Bệnh nhân không thể sử dụng bàn tay bên liệt để cầm nắm đồ vật hoặc thực hiện các 
động tác tinh vi do bàn tay bị mất hoặc giảm chức năng [1]. 
 Việc phục hồi một phần hoạt động của bệnh nhân TBMMN không những phụ thuộc vào sự 
cố gắng nỗ lực của bản thân, mà còn phải có sự động viên giúp đỡ của gia đình, cộng đồng xã 
hội. Việc phục hồi chức năng cho người bị TBMMN tại cộng đồng là một việc làm cấp bách, 
để giúp họ tái thích ứng với cuộc sống, không có cảm giác bị bỏ rơi [2]. 
 Kết quả nghiên cứu về di chứng, phục hồi chức năng vận động, tỷ lệ bệnh nhân không tự 
ngồi được, không đứng được của chúng tôi sau can thiệp giảm một cách có ý nghĩa thống kê. 
 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi, nhóm về hưu, tổn thương não liên quan chặt 
chẽ đến tình trạng độc lập chức năng sau TBMMN 3 tháng, dù liệt bên phải hay bên trái, nếu 
tham gia luyện tập PHCN cùng thời gian, cùng chương trình thì không có sự liên quan giữa bên 
liệt nửa người và kết quả chăm sóc các hoạt động sống hàng ngày và ở những người bệnh dưới 
60 tuổi, thường các cơ quan ít bị bệnh hơn nhất là các bệnh lý của hệ vận động, ít có các yếu tố 
nguy cơ, cùng một chương trình và thời gian tập luyện, chúng tôi nhận thấy nhóm tuổi này đạt 
kết quả nhanh hơn những người từ 60 tuổi trở lên [4]. 
 Nhồi máu não và xuất huyết não khi tập luyện cùng thời gian, cùng mức độ tập luyện, cùng 
chương trình với sự nỗ lực của bản thân người bệnh thì kết quả phục hồi có vẻ không thấy khác 
nhau. Nhưng qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ kết quả hồi phục của người bệnh nhồi 
máu não cao hơn xuất huyết não. Điều này có thể lý giải do xuất huyết não thường nặng hơn, 
mức độ tổn thương tế bào não nhiều hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy loại tổn 
thương liên quan chặt chẽ đến kết quả phục hồi chức năng sau TBMMN ba tháng (Theo thang 
điểm Orgogozo và Fugl-meyer scale) [5]. 
V. KẾT LUẬN 
 1. Sau can thiệp tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn giảm còn 40,2% so với trước can thiệp là 65%; tỷ 
lệ phục hồi kém giảm còn 39,6% so với trước can thiệp là 62,6%; tỷ lệ không ngồi được giảm 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Năm 2018 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang Trang 80 
còn 8,7% so với trước can thiệp là 45,6%; tỷ lệ không đứng được giảm còn 14,5% so với trước 
can thiệp là 53%; tỷ lệ không đi được giảm còn 31,1% so với trước can thiệp là 78,4% (p < 
0,001). 
 2. Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc: tuổi từ 60 trở lên, nghề nghiệp là hưu trí và 
loại tổn thương xuất huyết não có kết quả phục hồi kém hơn. 
Tài liệu tham khảo 
 1. Bộ Y tế (2008), Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não, Hà Nội. 
 2.Trần Văn Chương, Lê Thị Thảo (2009), “Đánh giá tình trạng khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân 
liệt nửa người sau tai biến mạch máu não tại Quận Ba Đình – Hà Nội”, Tạp chí Y học lâm sàng, (40), Tr 42-47. 
 3.Nguyễn Văn Tư, Hoàng Khải (2007), “Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh sau tai biến mạch máu 
não tãi huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí sinh lý học Việt Nam, Tập 11 (1), Tr 47-51. 
 4. Gunilla G-H, Lisbet Claesson, Ulrika Klingenstierna (1998), “Effects of acupuncture treatment on daily life activities 
and quality of life: a controlled, prospective, and randomized study of acute stroke patients”, Stroke, 29:2100-2108. 
 5. Stewart J. C, Steven C. C (2013), “Patient-reported measures provide unique insights into motor function after 
stroke”, Stroke, 44:1111-1116. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_cham_soc_phuc_hoi_chuc_nang_van_dong_o_nguo.pdf