Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện TTTON - Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Bệnh viện Trung Ương Huế

Tổng quan: Từ năm 2015, Việt Nam thông qua nghị định chính phủ

cho phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm-mang thai hộ vì mục đích

nhân đạo, mang lại cơ hội làm mẹ cho các phụ nữ không có tử cung

bẩm sinh hoặc mắc phải sau phẫu thuật cắt tử cung do bệnh lý, hoặc

không thể mang thai do bệnh lý trầm trọng hoặc đe dọa tính mạng nếu

có thai. Mục đích nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả của thụ tinh

trong ống nghiệm-mang thai hộ sau 1 năm thực hiện kỹ thuật này tại

trung tâm IVF bệnh viện Trung Ương Huế.

Thiết kế nghiên cứu: 7 cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, trong đó có

5 trường hợp không có tử cung (nhóm A) và 2 trường hợp do sẩy thai

liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần (nhóm B). Kích thích buồng

trứng được tiến hành cho người nhờ mang thai hộ bằng phác đồ GnRH

antagonist, chuẩn bị nội mạc cho người mang thai hộ bằng Estradiol

ngoại sinh. Kích thích buồng trứng và kết quả TTTON được đo lường,

so sánh và đánh giá giữa 2 nhóm.

Kết quả: tỉ lệ có thai 71,4%; tỉ lệ làm tổ 20%. Không có sự khác biệt

về quá trình kích thích buồng trứng và kết quả TTTON-mang thai hộ

giữa 2 nhóm.

Kết luận: TTTON- mang thai hộ mang lại kết quả có thai cao cho

nhóm bệnh nhân đúng chỉ định.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện TTTON - Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Bệnh viện Trung Ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện TTTON - Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Bệnh viện Trung Ương Huế

Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện TTTON - Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Bệnh viện Trung Ương Huế
LÊ VIỆT HÙNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, NGUYỄN PHẠM QUỲNH PHƯƠNG
156
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Lê Việt Hùng, Lê Viết Nguyên Sa, Nguyễn Phạm Quỳnh Phương 
Bệnh viện Trung ương Huế
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN
TTTON - MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Việt Hùng, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Tổng quan: Từ năm 2015, Việt Nam thông qua nghị định chính phủ 
cho phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm-mang thai hộ vì mục đích 
nhân đạo, mang lại cơ hội làm mẹ cho các phụ nữ không có tử cung 
bẩm sinh hoặc mắc phải sau phẫu thuật cắt tử cung do bệnh lý, hoặc 
không thể mang thai do bệnh lý trầm trọng hoặc đe dọa tính mạng nếu 
có thai. Mục đích nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả của thụ tinh 
trong ống nghiệm-mang thai hộ sau 1 năm thực hiện kỹ thuật này tại 
trung tâm IVF bệnh viện Trung Ương Huế. 
Thiết kế nghiên cứu: 7 cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, trong đó có 
5 trường hợp không có tử cung (nhóm A) và 2 trường hợp do sẩy thai 
liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần (nhóm B). Kích thích buồng 
trứng được tiến hành cho người nhờ mang thai hộ bằng phác đồ GnRH 
antagonist, chuẩn bị nội mạc cho người mang thai hộ bằng Estradiol 
ngoại sinh. Kích thích buồng trứng và kết quả TTTON được đo lường, 
so sánh và đánh giá giữa 2 nhóm. 
Kết quả: tỉ lệ có thai 71,4%; tỉ lệ làm tổ 20%. Không có sự khác biệt 
về quá trình kích thích buồng trứng và kết quả TTTON-mang thai hộ 
giữa 2 nhóm. 
Kết luận: TTTON- mang thai hộ mang lại kết quả có thai cao cho 
nhóm bệnh nhân đúng chỉ định.
Abstract 
GESTATIONAL SURROGACY FOR THE HUMAN 
PURPOSE AT IVF CENTER-HUE CENTRAL HOSPITAL: 
OUR INITIAL EXPERIENCE 
Background: From 2015, IVF surrogate gestational pregnancy was 
allowed in Vietnam, provided an opportunity to be a mother to women 
born without a uterus, women post-hysterectomy and those with a pre-
existing disease which may greatly worsen or life - threaten during 
pregnancy. The aim of this study was to report our 2 year’s experience 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 156 - 161, 2017
157
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
of an IVF surrogate gestational pregnacy programme at IVF Center- Hue Central Hospital. 
Design: A total of 7 cycles of IVF surrogate pregnancy were initiated in 7 treated couples. Absences 
of the uterus was the indication of surrogacy in 5 cases (Group A). The indications in the remaining 2 
patients (Group B) were : IVF implantation failure and recurrent miscarriage. The patients were given 
Antagonist protocol to stimulate their ovaries. Oral estradiol was given to the surrogate mother for the 
preparation of the endometrium. Ovarian stimulation parameters and IVF outcome were assessed, 
measured and compared. 
Results: PR was 71,4%; implantation rate was 20%. There was no significant difference of ovarian 
stimulation and IVF outcome observed between 2 groups. 
Conclusion: surrogacy is a good treatment with high PR for the right indicated patients. 
1. Giới thiệu
Khái niệm mang thai hộ được định nghĩa khi 
một người phụ nữ mang thai cho một cặp vợ chồng 
khác trên cơ sở lấy noãn của người vợ và tinh trùng 
của người chồng kết hợp bằng phương pháp thụ 
tinh trong ống nghiệm để phát triển tạo thành phôi; 
sau đó phôi này được cấy trở lại tử cung của người 
phụ nữ mang thai hộ (1), (2). Sau khi sinh, người 
phụ nữ này phải trao lại con cho cặp vợ chồng 
nhờ mang thai hộ. Về mặt sinh học, mang thai hộ 
không có sự di truyền giữa người phụ nữ mang thai 
và đứa trẻ, đứa trẻ sẽ mang gen của cặp vợ chồng 
nhờ mang thai hộ.
Mang thai hộ là một trong những kỹ thuật y học 
gây tranh cãi nhất về mặt đạo đức. Nhiều ý kiến 
cho rằng việc mang thai hộ có thể trở nên thương 
mại hóa, trong đó người mang thai hộ được xem 
như là người đẻ thuê. Thậm chí vài người trong số 
đó còn so sánh người mang thai hộ với thị trường 
buôn bán tạng (2), (3). Vượt qua những tranh luận đó, 
mang thai hộ vẫn trở thành một phương pháp hỗ 
trợ sinh sản được luật pháp nhiều quốc gia công 
nhận. Mang thai hộ là giải pháp mang cơ hội có 
con cho những người phụ nữ không có tử cung bẩm 
sinh hoặc không có tử cung do các nhiều bệnh lý 
sản phụ khoa khác (4), (5). Một nhóm chỉ định lớn 
khác của mang thai hộ là thất bại nhiều lần với các 
chu kỳ chuyển phôi - TTTON (bao gồm thất bại làm 
tổ hoặc sẩy thai liên tiếp). Mang thai hộ cũng được 
chỉ định cho những phụ nữ có tử cung bình thường 
nhưng mang bệnh lý mạn tính có thể trầm trọng lên 
và đe dọa tính mạng khi mang thai (1).
Trường hợp mang thai hộ đầu tiên được Utian 
công bố năm 1985. Lần lượt các nhóm tác giả khác 
tại Anh (Brindsen và cộng sự, 2000)(6), Úc (Stafford-
Bell và Copeland, 2001)(7), Phần Lan (Soderstrom-
Antitila và cộng sự, 2002)(8) sau đó cũng báo cáo 
kinh nghiệm của họ sau một thời gian thực hiện thụ 
tinh trong ống nghiệm-mang thai hộ. Tại Việt Nam, 
ngày 28/01/2015, luật mang thai hộ vì mục đích 
nhân đạo chính thức được thông qua, từ đây mở ra 
những cơ hội có thai mới cho những người phụ nữ 
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp 
dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. 
Khoa Hỗ trợ sinh sản, bệnh viện Trung Ương Huế 
là một trong ba trung tâm IVF của cả nước được 
lựa chọn là thí điểm tiến hành thụ tinh trong ống 
nghiệm-mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Sau 
hơn 1 năm triển khai, chúng tôi thực hiện nghiên cứu 
này nhằm mục đích đánh giá bước đầu hiệu quả 
việc thực hiện TTTON-mang thai hộ tại trung tâm.
2. Quy định về điều kiện 
mang thai hộ vì mục đích 
nhân đạo tại Việt Nam
Hiện nay, chỉ có rất ít các quốc gia trên thế 
giới cho phép thực hiện việc mang thai hộ. Tại 
LÊ VIỆT HÙNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, NGUYỄN PHẠM QUỲNH PHƯƠNG
158
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Việt Nam, ngày 28/01/2015, Thủ tướng Chính 
Phủ ban hành nghị định số 10/2015/NĐ-CP 
quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong 
ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục 
đích nhân đạo. Nghị định này quy định rõ mang 
thai hộ chỉ được thực hiện cho cặp vợ chồng 
chưa có con chung; người vợ có bệnh lý, nếu 
mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến 
sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và 
người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay 
cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Về phía 
người mang thai hộ, việc mang thai hộ được thực 
hiện trên tinh thần tự nguyện vì mục đích nhân 
đạo, chưa mang thai hộ lần nào, đủ sức khỏe 
mang thai, và chứng minh về mối quan hệ thân 
thích cùng hàng với cặp vợ chồng nhờ mang thai 
hộ, có sự đồng ý của chồng về việc đồng ý cho 
mang thai hộ, được tư vấn về y tế, tâm lý và 
pháp lý trước khi thực hiện mang thai hộ. Một 
hội đồng gồm nhiều ban ngành, chuyên khoa 
sẽ xét duyệt thông qua từng hồ sơ nhờ mang thai 
hộ, và phải trả lời trong thời hạn 30 ngày kể từ 
ngày nhận hồ sơ.(1).
3. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Báo cáo loạt ca gồm 7 bệnh nhân thực hiện thụ 
tinh trong ống nghiệm-nhờ mang thai hộ từ năm 
2015 đến nay tại Khoa Hỗ Trợ Sinh Sản-Bệnh viện 
Trung Ương Huế.
Không có tử cung là chỉ định chính của mang 
thai hộ, nhóm A gồm 5 trường hợp, bao gồm hội 
chứng Rokistanky (1 trường hợp) và hậu phẫu thuật 
cắt tử cung (4 trường hợp). Cắt tử cung do u xơ tử 
cung lớn ở một trường hợp và do băng huyết sau 
sinh non, rau tiền đạo ở trường hợp còn lại. Nhóm 
B bao gồm 2 trường hợp chỉ định TTTON-mang 
thai hộ do tiền sử sẩy thai liên tiếp hoặc thất bại 
làm tổ liên tiếp.
Tuổi bệnh nhân, nồng độ nội tiết cơ bản ngày 
2, các thông số của quá trình kích thích buồng 
trứng như số ngày tiêm FSH, liều FSH trung bình, 
số nang noãn trưởng thành ngày trigger, số trứng 
thu được, số MII, tỉ lệ thụ tinh, số phôi tốtđược đo 
lường và so sánh.
Phác đồ KTBT được sử dụng là phác đồ GnRH-
antagonist. FSH tái tổ hợp (Follitrope, Hướng Việt) 
được cho vào ngày 2 chu kỳ kinh, GnRH-antagonist 
(Cetrotide 0,25mg) được cho cố định vào ngày 
5 của KTBT. Trigger bằng Dipherellin (Fertipeptil 
0,2mg) khi có ít nhất 2 nang noãn đường kính từ 
17mm và 50% đoàn hệ nang noãn có kích thước 
từ 14mm trở lên.
Đối với những bệnh nhân có hội chứng 
Rokistanky hoặc cắt tử cung toàn phần, nếu 
ngày siêu âm có nang noãn kích thước lớn và 
bệnh nhân có nguyện vọng trữ phôi, chúng 
tôi tiến hành siêu âm theo dõi nang noãn đến 
ngày rụng trứng. Định lượng FSH,LH, E2 và 
Progesterone 14 ngày sau rụng trứng nếu nồng 
độ E2, Progesterone thấp thì tiến hành KTBT/
TTTON. Trường hợp bệnh nhân muốn chuyển 
phôi tươi, chỉnh kinh cho người mang thai hộ và 
người nhờ mang thai hộ bằng OCP rồi tiến hành 
KTBT sau 5 ngày dừng OCP.
Chọc hút trứng được tiến hành dưới siêu âm đầu 
dò âm đạo 36 giờ sau trigger. Tách trứng thực hiện 
2 giờ và ICSI thực hiện 4 giờ sau chọc hút trứng. 
Đánh giá thụ tinh 16-18h sau ICSI. Đánh giá phôi 
ngày 2 dựa trên hình thái. Chuyển phôi ngày 2 
sau chọc hút trứng. Để chuyển dạng nội mạc cho 
người mang thai hộ, Progesterone vi hạt đặt âm 
đạo được sử dụng từ ngày người nhờ mang thai 
hộ chọc hút trứng. Chuyển phôi khi nội mạc dày từ 
8mm trở lên.
Phác đồ hỗ trợ hoàng thể được sử dụng gồm 
Valiera 2mg x2 viên/ngày và Cyclogest 400mg x2 
viên/ngày trong 14 ngày. Định lượng BhCG 14 
ngày sau chuyển phôi. Siêu âm thai sau 3 tuần kể 
từ ngày BhCG dương tính. 
Sẩy thai sớm được định nghĩa nếu sẩy thai trước 
12 tuần. Sẩy thai muộn khi sẩy thai từ tuần 12 trở 
lên và trước 24 tuần. Đẻ non nếu thai ra đời sau 24 
tuần và trước 37 tuần.
Theo dõi các biến chứng trong thai kỳ bao gồm 
các bệnh lý tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo 
đường thai nghén, nhau tiền đạo, nhau bám thấp
cho người mang thai hộ. Kết cục thai kỳ cũng được 
ghi nhận và khảo sát.
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 15.0. 
Kết quả được hiển thị bằng giá trị trung bình và 
độ lệch chuẩn. So sánh các giá trị trung bình bằng 
t-test. Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 156 - 161, 2017
159
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
4. Kết quả
Dữ liệu lâm sàng liên quan đến kích thích 
buồng trứng được thể hiện ở bảng 1.
Số lượng noãn MII trung bình chọc hút được 
từ người mẹ nhờ mang thai hộ là 9,5 ± 2,9. 
Trong đó có 8,0 ± 3,1 noãn thụ tinh, tỉ lệ thụ tinh 
do đó là 82,3 ± 12,2%.
Số phôi tạo thành trung bình là 7,5 ± 2,5 
phôi, trong đó có 3,5 ± 0,5 phôi được chuyển.
Tuổi trung bình của người mang thai hộ là 
37,8 ± 6,1 tuổi; trong đó cá biệt có một người 
mang thai hộ lớn tuổi (48 tuổi) do gia đình không 
tìm được người thân thích cùng hàng khác đủ 
điều kiện mang thai hộ. 5 trong 7 người mang 
thai hộ có thai ngay từ lần chuyển phôi đầu tiên 
mang đến tỉ lệ có thai là 71,4%. Chỉ có 2 trường 
hợp chưa có thai và đang chuẩn bị chuyển phôi 
trữ. 1/5 trường hợp này mang thai song thai, 
Tuổi người nhờ mang thai hộ 33,1 ± 5,5
Tuổi người mang thai hộ 37,8 ± 6,1
AMH (ng/ml) 2,96 ± 0,91
AFC 9,8 ± 2,9
Tổng liều FSH (IU) 2742,86 ± 531,84
Số ngày chích FSH 9,7 ± 0,9
Nồng độ E2 trung bình ngày tiêm hCG (pg/ml) 3268,00 ± 1463,46
Số nang noãn trên 14mm ngày cho hCG 11,5 ± 4,0
Số noãn MII chọc hút được 9,5 ± 2.9
Số noãn thụ tinh 8,0 ± 3,1
Số phôi tạo thành 7,5 ± 2,5
Số phôi chuyển 3,6 ± 0,5
Tổng liều Estradiol chuẩn bị nội mạc (mg) 104,0 ± 12,2
Số ngày chuẩn bị nội mạc 13 ± 1,5
Độ dày nội mạc trung bình 9,1 ± 1,6
Tỉ lệ có thai 71,4%
Tỉ lệ thụ tinh (%) 82,3 ± 12,2
Tỉ lệ làm tổ 20%
Sinh đủ tháng 3/5
Đẻ non 1/5
Bảng 1
Chỉ số Nhóm A Nhóm B p
Tuổi người nhờ mang thai hộ 32,8 ± 5,6 34,0 ± 7,1 NS
AMH (ng/ml) 2,56 ± 0,56 3,97 ± 0,88 NS
AFC 9,0 ± 2,3 12 ± 4,2 NS
Tổng liều FSH (IU) 2820,00 ± 342,05 2550,00 ± 1060,66 NS
Số ngày chích FSH 9,6 ± 0,8 10 ± 1,4 NS
Nồng độ E2 ngày tiêm hCG (pg/ml) 3268,00 ± 1463,46 4795,00 ± 700,03 NS
Số nang noãn trên 14mm ngày cho hCG 10,60 ± 3,5 14,00 ± 5,6 NS
Số noãn MII chọc hút được 9,2 ± 3,1 10,5 ± 3,5 NS
Số noãn thụ tinh 7,8 ± 3,4 8,5 ± 3,5 NS
Số phôi tạo thành 7,2 ± 2,3 8,5 ± 3,5 NS
Số phôi chuyển 3,6 ± 0,5 3,5 ± 0,7 NS
Tỉ lệ thụ tinh (%) 83,2 ± 14,3 80,0 ± 7,1 NS
Bảng 2
sau đó đẻ non ở 28 tuần. Trường hợp này bệnh 
nhân sau đó có nguyện vọng đổi người mang 
thai hộ và chuẩn bị tiến hành chuyển phôi trữ. 
Cho đến nay có 3 em bé sinh ra đời đủ tháng, 
khỏe mạnh và 1 trường hợp thai tiến triển tốt 
hiện 26 tuần.
Bảng 2. Kích thích buồng trứng và kết cục IVF 
trên hai nhóm A không có tử cung và B tiền sử 
sẩy thai liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần
Quá trình kích thích buồng trứng và kết cục 
của IVF giữa 2 nhóm được thể hiện trong bảng 
2. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
các thông số này khi so sánh giữa 2 nhóm.
Về biến chứng liên quan đến thai kỳ của 
người mang thai hộ, nghiên cứu của chúng tôi 
ghi nhận 1 trường hợp tiền sản giật nặng trên 
thai kỳ song thai ở thời điểm 28 tuần, xảy ra ở 
người mang thai hộ lớn tuổi (40 tuổi). 
5. Bàn luận
Mặc dù mang thai hộ đã trở thành một phần 
chính thức của lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, tuy 
nhiên chỉ có rất ít các nghiên cứu liên quan đến 
TTTON-mang thai hộ, kết cục chu sinh và theo 
dõi trẻ ra đời bằng phương pháp TTTON-mang 
thai hộ được công bố. Phần lớn các nghiên cứu 
này thảo luận về khía cạnh đạo đức và pháp lý 
của việc mang thai hộ.
Nghiên cứu lớn nhất về mang thai hộ được 
thực hiện bởi Goldfarb và cộng sự công bố vào 
năm 2000. Nghiên cứu này được thực hiện trong 
một khoảng thời gian 15 năm, từ năm 1984 đến 
năm 1999, bao gồm 180 chu kỳ trên tổng số 
112 cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Mặc dù 
con số chu kỳ khá ấn tượng, nhưng trên thực 
tế tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm thay đổi 
theo thời gian, bao gồm các phác đồ kích thích 
buồng trứng, chế phẩm thuốc, kỹ thuật ICSI, 
cách tiếp cận phẫu thuật, gây mê, lab IVF 
Theo kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu này, 
trung bình có 11,1 noãn đã được chọc hút, trong 
đó 7,1 noãn thụ tinh, 3,2 phôi được chuyển(9). 
Một nghiên cứu có giá trị khác được Raziel và 
cộng sự báo cáo năm 2005, thực hiện trong 
vòng 5 năm trên tổng số 60 chu kỳ IVF-mang 
thai hộ. Nghiên cứu này ghi nhận kết quả có số 
LÊ VIỆT HÙNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, NGUYỄN PHẠM QUỲNH PHƯƠNG
160
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
trứng trung bình là 10 + 5,2, 5,8 trứng được thụ 
tinh và số phôi chuyển trung bình là 2,6(2). Cả 
hai nghiên cứu đều tương đồng với nghiên cứu 
của chúng tôi về các thông số kích thích buồng 
trứng và kết quả nuôi cấy phôi. Tuy nhiên, nhóm 
nghiên cứu của Goldfarb ghi nhận tỉ lệ thành 
công của TTTON-mang thai hộ cao hơn có ý 
nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân không có tử 
cung bẩm sinh so với nhóm bệnh nhân có tiền sử 
cắt tử cung. Goldfarb lý giải sự khác biết này có 
thể do sự cấp máu buồng trứng bị tổn thương từ 
các phẫu thuật trước đó. Ngược lại, Corson và 
cộng sự không nhận thấy sự khác biệt nào giữa 
hai nhóm không có tử cung bẩm sinh hoặc mắc 
phải sau cắt tử cung toàn phần về các thông số 
trên khi thực hiện trên 77 cặp vợ chồng mang 
thai hộ, trong vòng 9 năm từ 1988-1997. Tuổi 
trung bình của nhóm phụ nữ không có tử cung 
bẩm sinh thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm phụ 
nữ đã phẫu thuật cắt tử cung(10). Điều này cũng 
tương đồng với kết quả của Raziel(2). Nghiên cứu 
của chúng tôi do số liệu còn quá ít nên không đủ 
số liệu để phân tích có hay không sự khác biệt 
giữa hai nhóm này. Từ những phân tích trên, 
một nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn cần được 
thực hiện để giải đáp câu hỏi liệu những phụ nữ 
không có tử cung bẩm sinh có đáp ứng tốt hơn 
với kích thích buồng trứng so với nhóm còn lại.
Kết cục IVF-TTTON được so sánh giữa nhóm 
A gồm các phụ nữ không có tử cung nói chung 
so với nhóm B là nhóm phụ nữ có tiền sử sẩy 
thai liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần. Mặc 
dù do số liêu trong nghiên cứu này còn quá ít, 
nhưng dường như không có sự khác biệt giữa hai 
nhóm kể trên. Nghiên cứu của Raziel cũng đưa 
ra kết luận tương đồng, thể hiện có sự hiện diện 
của tử cung hay không không liên quan đến kết 
quả của IVF-TTTON(2).
Tỉ lệ có thai của chúng tôi rất cao lên tới 
71,4%, so sánh với tỉ lệ thành công của TTTON 
nói chung của trung tâm chúng tôi là 34,5%. Tỉ 
lệ này cao hơn rất nhiều với các nghiên cứu của 
các tác giả khác: 17% theo Raziel(2), 19% theo 
Goldfard(10). Có hai lý do giải thích sự khác biệt 
này, thứ nhất cỡ mẫu của chúng tôi quá nhỏ so 
với các tác giả trên, thứ hai, chúng tôi chọn lựa 
cặp vợ chồng mang thai hộ rất kỹ lưỡng khi mới 
bắt đầu. Trong nghiên cứu chúng tôi, tuổi trung 
bình của người vợ nhờ mang thai hộ là 33 tuổi 
, trong số đó có duy nhất một bệnh nhân 41 
tuổi.. So sánh với các nghiên cứu khác, tỉ lệ phụ 
nữ trên 40 tuổi chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong 
nhóm đối tượng nghiên cứu, từ đó giảm tỉ lệ có 
thai trung bình. Corson và cộng sự thực hiện trên 
117 chu kỳ chuyển phôi (tươi và trữ) ở đối tượng 
phụ nữ dưới 40 tuổi, báo cáo tỉ lệ có thai là 
30,8% trên một chu kỳ chuyển phôi. Trong khi 
đó, theo tác giả này, không một trường hợp có 
thai nào được ghi nhận trong 27 chu kỳ chuyển 
phôi trên nhóm phụ nữ trên 40 tuổi. Nguyên 
nhân của tỉ lệ có thai thấp vẫn chưa được biết 
rõ. Nó có thể liên quan đến các đặc điểm của 
bệnh nhân, ví dụ như tuổi, và hoặc sự hiện diện 
của các yếu tố tại buồng trứng(10). Ngược lại, 
nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực hiện một 
trường hợp mang thai hộ cho phụ nữ 41 tuổi 
và kết quả bệnh nhân có thai, sinh ra em bé đủ 
tháng và khỏe mạnh. 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhân có 1 trên 
2 trường hợp tiền sử sẩy thai liên tiếp, thất bại 
làm tổ nhiều lần có thai khi thực hiện TTTON-
mang thai hộ. Nhiều nghiên cứu chứng minh 
rằng mang thai hộ là phương pháp hữu hiệu 
cho các bệnh nhân ở nhóm đối tượng nêu trên. 
Nastaran và cộng sự (2013) báo cáo tỉ lệ có thai 
lên tới 66,66% khi thực hiện một nghiên cứu loạt 
cas trên 9 phụ nữ TTTON-mang thai hộ vì sẩy 
thai liên tiếp(11).
Một trường hợp hội chứng Rokistanky trong 
nghiên cứu của chúng tôi thuộc thể bất sản âm 
đạo không hoàn toàn nên chúng tôi hoàn toàn 
có thể tiến hành học hút trứng dưới siêu âm đầu 
dò âm đạo chứ không cần phẫu thuật tạo hình 
âm đạo hoặc chọc hút trứng dưới nội soi, dưới 
siêu âm đường bụng như báo cáo của một vài 
tác giả khác(12).
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 1 trường 
hợp tiền sản giật nặng trên thai kỳ song thai ở 
thời điểm 28 tuần, xảy ra ở người mang thai 
hộ lớn tuổi (40 tuổi). Rõ ràng đối tượng bệnh 
nhân lớn tuổi, đa thai là đối tượng nguy cơ cao 
của tiền sản giật. Chúng tôi đã tư vấn nguy cơ 
cao xảy ra các biến chứng trong thai kỳ cho 
người mang thai hộ, theo dõi kỹ thai kỳ, chú ý 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 156 - 161, 2017
161
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
dự phòng tiền sản giật nhưng không dự phòng 
được hoàn toàn. Có lẽ tuổi người mang thai hộ 
cũng nên được cân nhắc xem xét khi thực hiện 
các chu kỳ thụ tinh trong ống nghiêm- mang thai 
hộ để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người 
mang thai hộ.
Liên quan đến vấn đề pháp lý, các em bé 
sinh ra nhờ phương pháp TTTON- mang thai hộ 
đều được trao lại cho cặp vợ chồng nhờ mang 
thai hộ dưới sự bảo hộ của pháp luật Việt Nam. 
Không có mộ tranh chấp nào được ghi nhận.
6. Kết luận
TTTON- mang thai hộ nếu được làm chặt chẽ và 
có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành thì đó 
là một giải pháp mang lại cơ hội có con về mặt di 
truyền với tỉ lệ có thai rất cao cho các phụ nữ vì lý 
do bệnh lý nặng không thể mang thai, không có tử 
cung hoặc đã phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ 
tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
2. Arieh Raziel, Morey Shachter, Deborah Strassburger et al 2005, 
Eight years’ experience with an IVF surrogate gestational pregnancy 
programme, Reproductive BioMedicine Online, 11, No2, 2005, 254-258.
3. Ber Rosalie 2000, Ethical issuesin gestational surrogacy, Theoretical 
medecine and bioethics, Aprl 2000, Volume 21, Issue 2, 153-169.
4. Beski S, Gorgy A, Venkat G et al 2000, Gestational surrogacy: 
a feasible option for patients with Rokistanky syndrome, Human 
Reproduction 15, 2326-2328.
5. Meniru GI, Craft IL 1997, Experience with gestational surrogacy as a 
treatment for sterility resulting from hysterectomy, Human Reproduction 
12, 51-54.
6. Brindsen PR, Appleton TC, Muray E et al 2000, Treatment by invitro 
fertilization with surrogacy: experience of one British centre, Britist Medical 
Journal 320, 924-928.
7. Stafford Bell MA, Copeland CM 2011, Surrogacy in Australia: 
implantation rates have implications for embryo quality and uterine 
receptivity, Reproduction, Fertility and Development, 13, 99-104.
8. Soderstrom-Antitila V, Blomqvist T, Foudila T et al 2002, Experience of 
in-vitro fertilization surrogacy in Finland, Acta Obstetricia et Gynecologica 
Scandinavica 81, 747-752. 
9. Goldfarb JM, Austin C, Peskin P et al, 2000, Fifteen year experience 
with an in vitro fertilization surrogate gestational pregnancy programme, 
Human Reproduction 15, 1075-1078. 
10. Corson SL, Kelly M, Braverman AM et al 1998, Gestational carrier 
surrogacy, Fertility and Sterility 69, 670-674.
11. Nastaran A, Maryam E, Behrooz A et al 2013, Surrogacy as a good 
option for treatment of repeated implantation failure: a case series, Iran 
Reproduction Medicine 11, 1, 77-80.
12. Londra L., Chuong FS, Kolp L 2015, Mayer Rokistanky Kuster Hauser 
syndrome: a review, Internation Journal of Women’s health 2015:7, 865-70. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_buoc_dau_thuc_hien_ttton_mang_thai_ho_vi_mu.pdf