Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar tại khoa CTCH bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên
Đặt vấn đề: Gãy cổ xương đùi là một loại gãy xương thường gặp ở người già đặc biệt
là phụ nữ, có đặc điểm lâu lành, nhiều biến chứng và cần điều trị phẫu thuật sớm.
Thay khớp háng bán phần Bipolar được coi như là 1 giải pháp cho bệnh nhân gãy cổ
xương đùi cao tuổi, không liền xương, khớp giả, hoại tử. Bài báo này nhằm đánh giá
kết quả kết quả bước đầu phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar tại bệnh viện
ĐKTW Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành phẫu thuật thay khớp háng bán phần
Bipolar cho 22 bệnh nhân có chỉ định từ tháng 4/ 2009. Theo dõi biến chứng, tầm vận
động khớp, Xquang khớp háng sau phẫu thuật và đánh giá chức năng khớp háng nhân
tạo theo thang điểm 100 của Harris W.H. (1969).
Kết quả: 100% vết mổ liền sẹo kỳ đầu, thời gian phẫu thuật trung bình 65 phút,
thời gian nằm viện sau phẫu thuật: 7 ngày, 100%, khớp đúng vị trí trên xq và chuôi
gắn tốt.
Tỉ lệ rất tốt và tốt là 22 khớp chiếm 100%. Điểm trung bình theo thang điểm là 89,7
điểm; cao nhất là 97 điểm; thấp nhất là 81 điểm.
Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar mang lại kết quả rất khả quan
phục hồi lại chức năng khớp háng
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar tại khoa CTCH bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2013 138 Hồng Văn Dung*, Lê Văn Bằng*, Đồng Quang Sơn*, Triệu Quốc Tráng*, Nguyễn Ngọc Sơn*, Nguyễn Thế Anh** *Bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên ** Đại học Y - Dược Thái Nguyên Hoang Van Dung*, Le Van Bang*, Dong Quang Son*, Trieu Quoc Trang*, Nguyen Ngoc Son*, Nguyen The Anh** ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG BÁN PHẦN BIPOLAR TẠI KHOA CTCH BỆNH VIỆN ĐKTƯ THÁI NGUYÊN EVALUATE THE RESULTS INITIALLY OF BIPOLAR REPLACEMENT SURGERY AT ORTHOPAEDIC DEPARTMENT OF THAI NGUYEN NATIONAL GENERAL HOSPITAL ABSTRACT Background: Femoral neck fracture is a common type of fracture in the elderly especially women, have many complication and need surgery soon. Bipolar partial hip replacement is considered as one solution for patients with femoral neck fracture, nonunion, avascular necrosis. The purpose of this research is valuation the results initially of Bipolar replacement surgery at Orthopaedic Department of Thai Nguyen National General Hospital. Methods: From April 2009, we have operated 22 patients who had presented with femoral neck fracture, nonunion of the neck, avascular necrosis of the head. Clinical review allowed for Harris W.H score (1969). Results: 100% adhesive incision at first period, the average surgical time: 65 minutes, length of postoperative hospital stay: 7 days, 100% compatibility good position on X- ray and handle attached well. 22 patients with very good and good (100%) .The average scale score is 89.7 points; highest is 97 points; lowest is 81 points. Conclusions: Bipolar replacement surgery improves function of hip joint. Đặt vấn đề: Gãy cổ xương đùi là một loại gãy xương thường gặp ở người già đặc biệt là phụ nữ, có đặc điểm lâu lành, nhiều biến chứng và cần điều trị phẫu thuật sớm. Thay khớp háng bán phần Bipolar được coi như là 1 giải pháp cho bệnh nhân gãy cổ xương đùi cao tuổi, không liền xương, khớp giả, hoại tử. Bài báo này nhằm đánh giá kết quả kết quả bước đầu phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar tại bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar cho 22 bệnh nhân có chỉ định từ tháng 4/ 2009. Theo dõi biến chứng, tầm vận động khớp, Xquang khớp háng sau phẫu thuật và đánh giá chức năng khớp háng nhân tạo theo thang điểm 100 của Harris W.H. (1969). Kết quả: 100% vết mổ liền sẹo kỳ đầu, thời gian phẫu thuật trung bình 65 phút, thời gian nằm viện sau phẫu thuật: 7 ngày, 100%, khớp đúng vị trí trên xq và chuôi gắn tốt. Tỉ lệ rất tốt và tốt là 22 khớp chiếm 100%. Điểm trung bình theo thang điểm là 89,7 điểm; cao nhất là 97 điểm; thấp nhất là 81 điểm. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar mang lại kết quả rất khả quan phục hồi lại chức năng khớp háng. TĨM TẮT Phần 2: Phần nội soi và thay khớp 139 ĐặT VấN Đề Trong y văn và trong thực tế từ xa xưa cũng như hiện nay, điều trị những tổn thương vùng khớp háng nĩi chung, gãy cổ xương đùi nĩi riêng là một cơng việc gặp nhiều khĩ khăn và để lại nhiều di chứng. Cho đến nay, đã cĩ nhiều phương pháp điều trị gãy cổ xương đùi như: nắn chỉnh bĩ bột Whitmann, đinh 3 cánh Smith - Petersen, kết hợp xương với 2 - 3 vít xốp qua Xquang tăng sáng, nẹp vít nén ép cĩ ốc trượt (DHS), ghép xương cĩ cuống phía sau của Judet v.v Cho dù điều trị bằng phương pháp nào thì tỉ lệ khớp giả, hoại tử vơ khuẩn vẫn cịn cao. Để điều trị cho những bệnh nhân bị khớp giả và hoại tử vơ khuẩn chỏm xương đùi trước đây một số tác giả dùng vật liệu như ngà voi để thay chỏm xương đùi, sau đĩ là da cừu, nilon, thiếc, vàng v.v để bọc lĩt chỏm nhưng khơng đạt kết quả, vì dễ lỏng chỏm và khơng chịu được lực tỳ nén. Trải qua hơn một thế kỷ qua nhiều thăng trầm, đến nay phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo đã đạt được nhiều thành cơng. Trong đĩ thay khớp háng bán phần lưỡng cực bipolar là khớp trung gian giữa khớp háng tồn phần và khớp háng bán phần đạt kết quả tốt. Ở Việt Nam, phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar đã được áp dụng nhiều và đã cĩ một số thống kê. Tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên, khớp Bipolar được sử dụng trong phẫu thuật thay khớp háng từ tháng 4/2009. Chúng tơi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả Bước đầu phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu tiến cứu 22 bệnh nhân được phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar từ tháng 4/2009 tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên. Phương pháp phẫu thuật: * Tư thế: Bệnh nhân nằm nghiêng 900 về bên khơng thay khớp. * Phẫu thuật viên đứng phía sau khớp được thay. * Đường rạch da: Đường sau bên (Modified Gibson). * Rạch cân theo đường rạch da. * Tách cơ mơng lớn, giữ trọn vẹn cơ mơng nhỡ, chân được khép và xoay trong nhẹ để rõ nhĩm cơ xoay ngồi. * Cắt các cơ xoay ngồi tại điểm bám vào mấu chuyển lớn và một phần cơ vuơng đùi, bộc lộ bao khớp. * Cắt bao khớp hình L, bộc lộ vào khớp háng. * Nếu bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi hoặc tiêu cổ thì lấy chỏm, sau đĩ cắt cổ xương đùi. * Dùng thước đo để xác định vị trí cắt. * Lấy bỏ phần cổ, chỏm kiểm tra ổ cối và đo đường kính chỏm xương đùi của bệnh nhân. * Doa và ráp ống tuỷ xương đùi từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn * Thử chuơi, thử cỡ vỏ chỏm (đường kính vỏ chỏm bằng hoặc nhỏ hơn 1mm so với đường kính chỏm xương đùi của bệnh nhân). * Bơm rửa ống tuỷ, thấm sạch máu (trong lúc này pha xi măng). * Đặt nút chặn xi măng thấp hơn đầu dưới chuơi khoảng 2cm. * Đặt chuơi vào ống tuỷ sau khi lắp nút chỉnh chuơi vào đầu dưới chuơi. * Lắp chỏm nhân tạo vào cổ (nếu là loại chỏm rời) rồi lắp vỏ chỏm vào. * Nắn chỉnh khớp nhân tạo * Thử độ vững của khớp cĩ thể áp dụng các cách sau: - Nghiệm pháp Piston: cho đùi ở tư thế cơ năng (gấp 100; dạng 100; xoay ngồi 50) kéo nhẹ đùi nếu chỏm kéo xuống được 1 - 5mm là rất tốt. - Vận động khớp: Gấp 700 Khép 200 Xoay trong 200 Duỗi 100 Dạng 200 Xoay ngồi 200 Nếu khơng trật là đảm bảo độ vững. * Khâu phục hồi vết mổ. Phương pháp theo dõi và đánh giá: Đánh giá đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đánh giá kết quả gần (trong 3 tháng đầu sau phẫu thuật):Tai biến trong phẫu thuật, diễn biến tại vết mổ, thời gian tập vận động thụ động, chủ động của bệnh nhân sau phẫu thuật, chụp Xquang kiểm tra sau phẫu thuật. Đánh giá kết quả xa (trên 3 tháng sau phẫu thuật): Chúng tơi áp dụng cách đánh giá theo thang điểm 100 của Harris W.H. (1969): 90 - 100 điểm: Rất tốt 80 - 89 điểm: Tốt 70 - 79 điểm: Trung bình < 70 điểm: Kém * Đánh giá Xquang khớp háng được thay thế * Đánh giá biến chứng: TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2013 140 - Đánh giá biến chứng nhiễm khuẩn muộn. - Đánh giá biến chứng lỏng chuơi: Theo Gruen và cộng sự. Ia: Chuơi lún trong khối xi măng. Ib: Chuơi và khối xi măng cùng lún. II: Đầu trên chuơi vào trong, đầu dưới ra ngồi và thân bị xoay. III: Đầu trên chuơi vào trong và thân bị xoay. IV: Thân chuơi bị cong. KẾT QUẢ Tuổi 20 - 50 51 - 60 61 - 70 > 70 Tổng Tỷ lệ % Giới Nam 0 1 3 4 8 36.36 Nữ 1 2 5 6 14 63.64 Tổng 1 3 8 10 22 100 Tỷ lệ % 4.55 13.64 36.36 45.45 100 - Tuổi trung bình = 63,79 trẻ nhất là 47 tuổi và cao tuổi nhất là 84 tuổi. - Tuổi > 60 cĩ 18 bệnh nhân chiếm 81.82%. - Tuổi ≤ 50 cĩ 03 BN (13.64%) - Tổng số khớp được thay là 22 . - Bệnh nhân nam và nữ chênh nhau rõ rệt với nữ là 63.64%, nam chỉ chiếm 36.36%, tỷ lệ nam/ nữ là 1/1,75 lần. Nguyên nhân Bảng 2: Bệnh lý và chấn thương vùng khớp háng theo tuổi Tuổi 20 - 50 51- 60 61 - 70 > 70 Tổng Tỷ lệ % Giới Gãy cổ xương đùi 0 1 5 9 15 68.18 Khớp giả cổ xương đùi 0 1 3 1 5 22.73 Hoại tử chỏm vô khuẩn 1 1 0 0 2 9.09 Tổng 1 3 8 10 22 Tỷ lệ % 4.55 13.64 36.36 45.45 100 - Cĩ 15 BN gãy cổ xương đùi chiếm tỷ lệ cao nhất 68.18% - Cĩ 5 BN bị khớp giả + tiêu cổ xương đùi đều do di chứng sau gãy cổ xương đùi. - Cĩ 2 BN bị hoại tử vơ khuẩn chỏm xương đùi sau gãy cổ xương đùi do chấn thương. Các phương pháp điều trị trước phẫu thuật Phần 2: Phần nội soi và thay khớp 141 Bảng 3: Các phương pháp điều trị trước khi thay khớp Bipolar Phương pháp điều trị Số lượng Tỷ lệ % Gãy cổ xương đùi mới kéo liên tục hoặc nẹp bất động 13 59.09 Kết xương vít xốp + Kết xương nẹp vít 5 22.73 Bó bột + bó thuốc nam với gãy cổ xương đùi 4 18.18 Tổng 22 100 - Cĩ tất cả 22 BN bị gãy cổ xương đùi chiếm 100% trong đĩ: 15 BN gãy mới chiếm 68.18% và 7 BN gãy cổ xương đùi cũ chiếm 31.82% đã được điều trị bằng bĩ bột và bĩ thuốc nam, kết hợp xương bằng vít xốp bị thất bại. Khớp nhân tạo Bảng 4: Loại khớp Loại khớp Số lượng Tỷ lệ % Có xi măng 13 59.09 Không có xi măng 9 40.91 Tổng 22 100 Kết quả gần * Diễn biến tại vết mổ: 100% vết mổ liền sẹo kỳ đầu * Thời gian phẫu thuật trung bình 65 phút * Thời gian nằm viện sau phẫu thuật: 7 ngày * Thời gian tập vận động sau phẫu thuật. Bệnh nhân được tập vận động ngay sau phẫu thuật, 24 h sau được ngồi dạy và tập đứng Thời gian bỏ nạng trung bình là 2 - 3 tháng. Ngắn nhất là 3 tuần, dài nhất là 4 tháng * Kết quả Xquang sau phẫu thuật Tất cả các bệnh nhân được chụp Xquang khớp háng 2 bên trong vịng 2 -3 ngày đầu sau phẫu thuật kết quả chuơi gắn tốt. Kết quả xa trên 3 tháng * Các bệnh nhân khi ra viện, được lập phiếu theo dõi và hẹn khám định kỳ sau 1, 6, 12 tháng và các năm tiếp theo. Tất cả các BN đều cĩ số điện thoại của phẫu thuật viên hoặc bác sỹ theo dõi để liên lạc khi cần thiết. Sau mổ 3 tháng bệnh nhân đi lại được và đã bỏ nạng hồn tồn, dáng đi bình thường. Bảng 5: Biên độ gấp của khớp háng được thay Biên độ gấp < 900 # 900 Cộng Số lượng 2 20 22 Tỷ lệ % 9.09 90.91 100 Biên độ gấp của khớp háng thấp nhất là 800 Biên độ gấp của khớp háng cao nhất là 1300 Bảng 2.6. Mức độ đau Mức độ đau Số lượng Tỷ lệ % Không đau(44 điểm) 18 88.82 Có, nhưng không đáng kể(40) 3 13,62 Có, dùng thuốc giảm đau như Aspirin (30) 1 4.55 Đau vừa dùng thuốc giảm đau mạnh hơn Aspirin(20) 0 0 Đau nhiều, hạn chế vận động nhiều(10) 0 0 Tàn phế, mất chức năng hoàn toàn(0) 0 0 Tổng 22 100 Chúng tơi thấy cĩ 21/22 khớp Bipolar chiếm 95.45%, khơng đau hoặc đau nhẹ khơng ảnh hưởng đến vận động (khơng phải dùng thuốc giảm đau). Tất cả các BN chúng tơi khám, đều cĩ đau nhẹ hoặc đau tăng khi thay đổi thời tiết. Cĩ 01 bệnh nhân đau và thỉnh thoảng phải dùng thuốc. Bảng 7: Kết quả chung Kết quả Rất tốt (90-100) Tốt (80- 89) Trung bình (70-79) Kém (<70) Tổng Số lượng 21 1 0 0 22 Tỷ lệ % 95.45 4.65 0 0 100 TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2013 142 Qua kết quả kiểm tra được 22 BN thay khớp Bipolar với thời gian theo dõi trung bình là 15 tháng. ngắn nhất là 1 tháng, dài nhất là 3 năm. Kết quả rất tốt và tốt là 22 khớp chiếm 100%. Điểm trung bình theo thang điểm là 89,7 điểm. Tai biến và biến chứng: Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật chúng tơi khơng gặp trường hợp nào cĩ biến chứng sớm. Do thời gian theo dõi ngắn nên chưa đánh giá được các biến chứng muộn. BÀN LUẬN Theo nhiều tác giả nước ngồi, nĩi đến phẫu thuật thay khớp nĩi chung, thay khớp háng bán phần bipolar nĩi riêng. Tuổi của bệnh nhân thay chỏm xương đùi trung bình từ 70 - 80 tuổi và tỷ lệ nữ > nam. Nghiên cứu của chúng tơi cũng phù hợp. Theo Harris W.H. chỉ định thay khớp háng bán phần bipolar được chỉ định cho bệnh nhân > 70 tuổi. Cịn theo Calandruccio R.A. gãy cổ xương đùi > 75 tuổi nếu cịn vận động nhiều thay khớp Bipolar, vận động ít thay chỏm Unipolar (Moore hoặc Thompson v v). Theo Giliberty R.P. chỉ định thay khớp háng bán phần Bipolar cĩ thể thay khớp háng cho bệnh nhân tuổi < 65 tuổi. Theo Nguyễn Tiến Bình và cộng sự [2] (1999 đến 2003) đã phẫu thuật cho 475 trường hợp thay khớp háng tồn phần và bán phần cĩ độ tuổi từ 21 đến 85, tuổi trung bình là 63,5 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tơi tuổi trung bình = 63,79 trẻ nhất là 47 tuổi và cao tuổi nhất là 84 tuổi. Bệnh nhân nam và nữ chênh nhau rõ rệt với nữ là 63.64%, nam chỉ chiếm 36.36%, tỷ lệ nam/ nữ là 1/ 1.75 lần. ở người cao tuổi, nhĩm bệnh nhân thay khớp do gãy cổ xương đùi và khớp giả khá cao. Theo các tác giả trên thế giới ở bệnh nhân > 60 tuổi do tình trạng thưa xương nhất là ở phụ nữ tiến triển nhanh hơn vì vậy gãy cổ xương đùi ở nữ cao tuổi nhiều hơn nam cao tuổi 4 - 5 lần. Nguyên nhân chính là gãy cổ xương đùi và di chứng gãy cổ xương đùi. Đây là chỉ định của chúng tơi cũng phù hợp với các tác giả khác. Cĩ 100% trường hợp vết mổ cĩ diễn biến sau phẫu thuật được đánh giá là tốt, vết mổ liền sẹo kỳ đầu, cắt chỉ sau 12 - 14 ngày, thời gian nằm viện trung bình là 7 ngày. Khơng cĩ vết mổ bị nhiễm khuẩn vết mổ nơng Đối với dẫn lưu sau phẫu thuật, chúng tơi bao giờ cũng dẫn lưu cho tất cả các ổ khớp háng nhân tạo được thay. Rút dẫn lưu sau 24 - 48 giờ vì tất cả các bệnh nhân sau 48 giờ khơng cịn máu, dịch chảy ra qua dẫn lưu. So với các báo cáo khác chúng tơi khơng gặp trường hợp nào chảy máu sau mổ > 500ml. Cĩ lẽ vì phẫu thuật thay khớp Bipolar kỹ thuật khơng phức tạp bằng phẫu thuật thay khớp háng tồn phần. Hầu hết các bệnh nhân đều được chúng tơi hướng dẫn, tập luyện trước và sau phẫu thuật (trừ những trường hợp gãy cổ xương đùi mới). Ngay sau phẫu thuật chúng tơi đặt nẹp tam giác, gối mềm vào vùng khoeo chân bên phẫu thuật và cố định vào cả 2 chân vào nẹp tam giác. Để tránh trật khớp trong quá trình vận chuyển bệnh nhân. Trung bình vào ngày thứ 2 sau phẫu thuật, thân nhân và người nhà bệnh nhân được hướng dẫn tập luyện sau phẫu thuật. Bệnh nhân tập ngồi dậy tại giường, gấp háng khoảng 450 và duỗi 00, tập vận động cổ chân. Lúc nghỉ đặt gối mềm vào vùng khoeo, cẳng chân cao khoảng 20cm để tránh phù nề; tập nâng gĩt chân lên khỏi mặt giường. Theo chúng tơi tập gấp - duỗi háng, gối, cổ chân và nâng gĩt chân lên khỏi mặt giường; kê cao cẳng chân vùng khoeo là rất quan trọng. Chúng tơi đã gặp nhiều trường hợp do tập ngồi dậy để 2 cẳng chân xuống và tập gấp - duỗi gối > 30 phút. Sau đĩ nằm khơng kê cao chân dẫn đến phù nề 2 cẳng bàn chân (do máu từ tĩnh mạch trở về kém) nhất là ở người cao tuổi hoặc ở những bệnh nhân đã nằm lâu ngày. Vào ngày thứ 3 trở đi, sau khi rút dẫn lưu bệnh nhân được đứng lên, tập đi với sự trợ giúp của 2 nạng nách hoặc khung tập hay người khác trợ giúp. Chân bên phẫu thuật được tập luyện ở mức độ vừa phải; nhất là ở bệnh nhân thay khớp háng khơng xi măng vì ít nhất cũng phải từ 3 - 6 tuần xương xốp mới cĩ thể phát triển vào các khoảng trống ở phần chuơi. Theo chúng tơi, việc tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật vào ngày thứ 2, 3 là tốt. Tuy nhiên, nĩ cịn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: tình trạng tồn thân; cĩ mắc các bệnh mạn tính kèm theo hay khơng; cĩ bị tai biến, biến chứng trong sau phẫu thuật hay khơng; dẫn lưu sau phẫu thuật, vết mổ ổn định chưa. Trong 2 tuần đầu chỉ nên tập nhẹ nhàng khơng nên cho bệnh nhân tập quá sức nhất là đối với bệnh nhân quá già yếu. Kết quả sau mổ 3 tháng. Qua đánh giá chức năng sau phẫu thuật, của 22 bệnh nhân (22 khớp Bipolar), với thời gian theo dõi trung bình là 15 tháng. Theo thang điểm 100 của Harris. Chúng tơi thu nhận được kết quả như sau. Phần 2: Phần nội soi và thay khớp 143 - Rất tốt và tốt là 22 trường hợp chiếm 100%. - Điểm trung bình là 92 điểm; cao nhất là 97 điểm; thấp nhất là 80 điểm. So sánh với một số tác giả khác: Bảng 8: So sánh kết quả sau phẫu thuật thay khớp Bipolar Kết quả Lausten G.S. Torisu T. Nhâm Sỹ Đức Rất tốt + tốt 93,33% 84,6% 89,20% Trung bình 3,22% 10,54% 5,40% Kém 3,45% 4,86% 5,40% Điểm trung bình 92,14 83,40 89.70 Theo chúng tơi, sự so sánh chỉ là tương đối bởi vì chúng tơi cho rằng càng theo dõi lâu dài, thì chức năng của khớp háng nhân tạo ngày càng kém đi, do đĩ tỷ lệ rất tốt và tốt sẽ giảm. ngồi ra sự so sánh cịn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa. Mà thời gian theo dõi của chúng tơi chưa bằng so với các tác giả khác. Theo chúng tơi, về kết quả lâu dài khĩ cĩ thể sánh được với khớp háng tồn phần, nhưng kỹ thuật đơn giản hơn, giá thành thấp hơn khớp háng tồn phần. KẾT LUẬN * Giới: Nữ chiếm 63,64%, Nam chiếm 36,36%. Tuổi trung bình = 63,79 trẻ nhất là 47 tuổi và cao tuổi nhất là 84 tuổi. Tuổi > 60 cĩ 18 bệnh nhân chiếm 81.82%. Tuổi ≤ 50 cĩ 03 BN (13.64%). Tổng số khớp được thay là 22 . * Nguyên nhân: - Cĩ 15 BN gãy cổ xương đùi chiếm tỷ lệ 68.18%, 5 BN (22,73%) bị khớp giả và tiêu cổ xxương đùi. Cĩ 2 BN (9,09%) bị hoại tử chỏm vơ khuẩn xương đùi sau gãy cổ xương đùi do chấn thương. * Phương pháp điều trị trước phẫu thuật: 15 BN (68.18%) gãy mới và 7 BN gãy cổ xương đùi cũ chiếm 31.82% đã được điều trị bằng bĩ bột và bĩ thuốc nam, kết hợp xương bằng vít xốp bị thất bại. * Loại khớp: 59,09% khớp cĩ xi măng, 40,91% khớp khơng xi măng * Kết quả sau phẫu thuật: 100% vết mổ liền sẹo kỳ đầu, thời gian phẫu thuật trung bình 65 phút, thời gian nằm viện sau phẫu thuật: 7 ngày, 100%, khớp đúng vị trí trên xquang và chuơi gắn tốt. * Kết quả chung: Rất tốt và tốt là 22 khớp chiếm 100%.. Điểm trung bình theo thang điểm là 89,7 điểm; cao nhất là 97 điểm; thấp nhất là 81 điểm. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Tiến Bình, Nguyễn Ngọc Liêm (1999): Nhận xét kết quả 126 trường hợp thay khớp háng bán phần, tồn phần tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108. Báo cáo khoa học Đại hội Hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ X, Hà Nội 10/1999, trang 135 – 137. 2. Nguyễn Tiến Bình, Trần Lê Đồng (2000): Đánh giá kết quả sau thay khớp háng tồn phần và bán phần. Phẫu thuật tạo hình, tập IV. Số 1. 2000, trang 36 – 38. 3. Trần Đình Chiến (2006): Kết quả bước đầu áp dụng can thiệp tối thiểu trong thay khớp háng tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện 103 – Học viện quân Y. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, trang 280 – 281, Hà Nội – 2006. 4. Trần Lê Đồng (1999): Đánh giá kết quả phẫu thuật thay chỏm xương đùi bằng chỏm kim loại. Luận văn thạc sỹ – Học viện quân y – 1999. 5. Nguyễn Văn Hoạt (2003): Đánh giá kết quả thay khớp háng bán phần cho những bệnh nhân gãy cổ xương đùi do chấn thương. Luận văn thạc sỹ Y học – Đại học Y Hà Nội 2003. 6. Nguyễn Đức Phúc (2005): Gãy cổ xương đùi, Chấn thương chỉnh hình. NXB Y Học, Hà Nội – 2005, Trang 374 – 385. 7. Đồn Việt Quân, Đồn Lê Dân (1998): Nhận xét về thay chỏm xương đùi tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội. Ngoại khoa số 5, Tổng hội Y dược học Việt Nam, trang 24 – 27. 8. Nguyễn Trung Sinh (2005): Điều trị những tổn thương vùng cổ xương đùi bằng phẫu thuật thay chỏm kim loại, Chấn thương chỉnh hình. NXB Y Học, Hà Nội – 2005, Trang 386 – 389. 9. Floren M., Lester D.K. (2003): Outcomes of total hip arthroplasty and contralateral bipolar hemiarthroplasty: a case series. J Bone Joint Surg Am .2003; 85:523 - 6. 10. Lee S.B., Sugano N., Nakata K., Matsui M., Ohzono K. (2004): Comparison between bipolar hemiarthroplasty and THA for osteonecrosis of the femoral head. Clin. Orthop Rel Res.2004; 424:161 -5. 11. Torisu T., Kaku N., Tumura H., Tomari K. (2003): 3M integral bipolar cup system for dysplastic osteoarthritis. Clinical and radiographic review with five- to seven-year follow-up. The Journal of Bone and joint surgery Br. 2003; 85: 822 - 5.
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_buoc_dau_phau_thuat_thay_khop_hang_ban_phan.pdf

