Đánh giá kết quả ban đầu điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi (ĐDXĐ) bằng phẫu

thuật kết xương nẹp khóa (KXNK). Nhận xét về chỉ định và kỹ thuật của phương pháp điều trị.

Đối tượng: 24 bệnh nhân (BN): 17 nam, 7 nữ, tuổi từ 16 – 87, chẩn đoán gãy

ĐDXĐ và được điều trị phẫu thuật KXNK tại khoa Chấn thương chỉnh hình (CTCH)

Bệnh viện Quân Y (BVQY) 175 từ tháng 12/2016 - 10/2019.

Phương pháp: Tiến cứu, mô tả lâm sàng không nhóm chứng, mô tả cắt ngang

kết hợp theo dõi dọc.

Kết quả: Kết quả gần:100% BN liền vết mổ kỳ đầu, kết quả xa: rất tốt 33.3%,

tốt 57.1%, trung bình 4.8%, kém 4.8%. Biến chứng hạn chế gấp gối < 900:="" 2="" bn="">

lệch trục chi: 1 BN (4.8%), khớp giả 1BN (4.8%).

Kết luận: Kết xương nẹp khóa là phương pháp có nhiều ưu điểm, kết quả đạt

được khả quan, đạt hiệu quả cao, BN luyện tập vận động sớm, tránh được các di chứng

teo cơ, cứng khớp gối.

pdf 10 trang phuongnguyen 500
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả ban đầu điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả ban đầu điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa

Đánh giá kết quả ban đầu điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
75
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN ĐẦU DƯỚI 
XƯƠNG ĐÙI BẰNG PHẪU THUẬT KẾT XƯƠNG NẸP KHÓA
Ngô Quốc Hoàn1, Mỵ Duy Tiến1, Nguyễn Đức Thọ1, 
Đỗ Quốc Cường1, Trịnh Anh Tuấn1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi (ĐDXĐ) bằng phẫu 
thuật kết xương nẹp khóa (KXNK). Nhận xét về chỉ định và kỹ thuật của phương pháp điều trị. 
Đối tượng: 24 bệnh nhân (BN): 17 nam, 7 nữ, tuổi từ 16 – 87, chẩn đoán gãy 
ĐDXĐ và được điều trị phẫu thuật KXNK tại khoa Chấn thương chỉnh hình (CTCH) 
Bệnh viện Quân Y (BVQY) 175 từ tháng 12/2016 - 10/2019.
 Phương pháp: Tiến cứu, mô tả lâm sàng không nhóm chứng, mô tả cắt ngang 
kết hợp theo dõi dọc. 
Kết quả: Kết quả gần:100% BN liền vết mổ kỳ đầu, kết quả xa: rất tốt 33.3%, 
tốt 57.1%, trung bình 4.8%, kém 4.8%. Biến chứng hạn chế gấp gối < 900: 2 BN (9.5%), 
lệch trục chi: 1 BN (4.8%), khớp giả 1BN (4.8%). 
Kết luận: Kết xương nẹp khóa là phương pháp có nhiều ưu điểm, kết quả đạt 
được khả quan, đạt hiệu quả cao, BN luyện tập vận động sớm, tránh được các di chứng 
teo cơ, cứng khớp gối.
Từ khóa: Gãy đầu dưới xương đùi, kết xương nẹp khóa.
EVALUATION OF RESULTS OF DISTAL FEMUR FRACTURES 
TREATMENT WITH LOCKING PLATE FIXATION
ABSTRACT
Objectives: Evaluate the results of distal femur close fractures treatment in 
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Ngô Quốc Hoàn ([email protected])
Ngày nhận bài: 29/4/2020, ngày phản biện: 5/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
76
adults by locking plate fixation. Assess the indication and treatment technique. 
Subjects: 24 patients: 17 males, 7 females, from 16 to 87 ages, with diagnosis 
distal femur fracture, were treated by locking plate fixation in orthopaedic department, 
175 military hospital from December 2016 to October 2019.
Methods: Prospective, clinical description without control group, sectional 
description and follow-up. 
Results: Short-term results: 100% primary wound healing. Long-term results: 
33.3% excellent, 57.1% good, 4.8% average, 4.8% poor. Complications: limitation of 
knee flexion (<90o): 2 patients (9.5%), malalignment:01 patient (4.8%), non-union 1 
patient (4.8%). 
Conclusion: Locking plate fixation has many advantages, achieve positive 
results, high efficiency, early rehabilitation as well as avoid muscular atrophy, knee 
stiffness.
Keywords: Distal femur fracture, locking plate fixation.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Gãy ĐDXĐ là một loại gãy xương 
lớn, phức tạp xảy ra do một lực chấn thương 
rất mạnh, nguyên nhân chủ yếu là TNGT và 
TNLĐ. Theo nghiên cứu của Thân Trọng 
Đoàn (2004) [2] nguyên nhân TNGT là 
63,3%, Bùi Mạnh Hà (2009) [3] là 86,84%, 
Nguyễn Hồng Dương (2013) [1] là 56,5%.
Đây là loại gãy xương gần khớp 
hoặc gãy phạm khớp nên vấn đề điều trị đặt 
ra là phải phục hồi tốt hình thể giải phẫu 
(nhất là diện khớp) và cố định vững chắc ổ 
gãy, giúp cho BN tập vận động sớm, tránh 
được các di chứng teo cơ, cứng duỗi khớp 
gối. 
Đã có nhiều phương pháp kết 
hợp xương được áp dụng trong điều trị 
gãy kín đầu dưới xương đùi như kết hợp 
xương nẹp vít, nẹp góc, nẹp DCS, nẹp ốp 
lồi cầu Phẫu thuật kết xương bằng nẹp 
khóa được áp dụng vào điều trị gãy xương 
trong khoảng hơn mười năm gần đây. Kết 
hợp xương nẹp khóa thường được chỉ định 
cho các gãy xương vùng đầu xương, gãy 
xương phức tạp, gãy xương không 
vững, và đặc biệt cho những 
trường hợp thưa loãng xương [7],[8],[10]. 
Bệnh viện Quân Y 175 bước đầu đã áp 
dụng phương pháp điều trị này và đạt 
được kết quả khả quan, để rút kinh nghiệm 
và nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị 
của phương pháp này, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả ban 
đầu điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi 
bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa”.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
77
Với mục tiêu: 
+ Đánh giá kết quả điều trị gãy kín 
đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết 
xương nẹp khóa.
+ Nhận xét về chỉ định và kỹ thuật 
phẫu thuật kết xương nẹp khóa điều trị gãy 
kín đầu dưới xương đùi.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Gồm 24 BN tuổi từ 16 - 87 chẩn 
đoán gãy kín ĐDXĐ, được điều trị phẫu 
thuật KXNK tại khoa chấn thương chỉnh 
hình BVQY 175 từ 12/2016 – 10/2019.
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
+ Tuổi từ 16 trở lên.
+ Gãy kín ĐDXĐ do chấn thương. 
Đã kết hợp xương bằng nẹp khóa.
+ Đủ hồ sơ bệnh án và đồng ý 
tham gia nghiên cứu. Có phim X Quang 
trước và sau phẫu thuật. 
* Tiêu chuẩn loại trừ
+ Tuổi dưới 16.
+ Gãy hở ĐDXĐ. Gãy xương bệnh 
lý như lao xương, viêm xương, u xương.
+ Đã điều trị một phương pháp kết 
xương khác thất bại.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả lâm 
sàng không nhóm chứng, hình thức mô tả 
cắt ngang kết hợp theo dõi dọc.
Nội dung nghiên cứu:
- Phân loại gãy xương theo AO-
ASIF.
- Đánh giá kết quả điều trị: Kết 
quả gần ngay sau mổ, 1 tháng, 3 tháng, 6 
tháng; kết quả xa: sau mổ 12 tháng.
Phương pháp đánh giá kết quả:
- Kết quả gần: (theo Bostman O) 
Diễn biến liền vết mổ, kết quả kết xương 
và nắn chỉnh dựa trên phim XQuang sau 
mổ.
- Kết quả xa: Đánh giá theo tiêu 
chuẩn của Sander R 1991 [9]. Dựa vào các 
tiêu chí: triệu chứng đau, chức năng vận 
động của khớp gối, biến dạng chi thể, phục 
hồi khả năng lao động và kết quả liền ổ 
gãy trên phim Xquang.
- Kết quả chung: chia thành 4 loại: 
rất tốt, tốt, trung bình, kém.
- Số liệu được xử lý bằng phần 
mềm SPSS 20.0
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
78
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm số liệu nghiên cứu
Bảng 1: Tuổi và giới (n=24)
Độ tuổi 70 Cộng
Tỷ lệ 
(%)
Nam 1 10 2 4 0 17 70.83
Nữ 0 1 0 4 2 7 29.17
Cộng 1 11 2 8 2 24 100
Tỉ lệ (%) 4.17 45.83 8.33 33.34 8.33 100%
24 BN độ tuổi từ 18 – 87 tuổi, 
Nam 17 BN (70.83%), nữ 7 BN (29.17%). 
Chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên 
cứu là nam ở tuổi 18-40 với 10 BN. Tỷ 
lệ này khác biệt với nghiên cứu của Bùi 
Hồng Dương[1], Nguyễn Mạnh Hà[3], 
Hoffmann [7]. Sự khác biệt này là do 
nguyên nhân gãy đầu dưới xương đùi trong 
nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là do 
TNGT, và nhóm tuổi 18-40 là nhóm tham 
gia giao thông nhiều nhất trong nghiên cứu 
này.
Bảng 2: Nguyên nhân (n=24)
Giới Nam Nữ Cộng Tỷ lệ (%)
TNGT 15 3 18 75,0
TNSH 2 4 6 25,0
Tổng 17 7 24 100
Nguyên nhân chủ yếu là TNGT 
với 18/24 BN (75,0%), sau đó TNSH với 
6/24BN (25,0%). Kết quả nghiên cứu này 
tương đồng với các tác giả Thân Trọng 
Đoàn (2004) [2] nguyên nhân TNGT là 
63,3%, Bùi Mạnh Hà (2009) [3] là 86,84%. 
Nguyên nhân do nước ta là nước đang phát 
triển có mật độ tham gia giao thông rất 
cao với phương tiện chủ yếu là xe máy, 
lưu lượng di chuyển tốc độ lớn làm cho 
số bệnh nhân gãy đầu dưới xương đùi do 
TNGT ngày càng nhiều, với mức độ ngày 
càng phức tạp và nặng nề.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
79
Bảng 3. Phân loại gãy xương theo A.O. (n=24)
Loại gãy
Nhóm A Nhóm C
A1 A2 A3 Cộng C1 C2 C3 Cộng
Số BN 3 8 2 13 0 7 4 11
Tỉ lệ (%) 12.5 33,3 8,3 54,1 0 29,2 16,7 42,9
Nhóm gãy TLC chiếm tỷ lệ cao, 
có 13 BN (54.1%), trong đó có 8 trường 
hợp gãy loại A2 (33,3%). Gãy LLC 11 
BN (42.9%), có 7 trường hợp gãy loại 
C2 (29,2%). Gãy đầu dưới xương đùi rất 
phức tạp và đa hình thái, trong nghiên cứu 
của chúng tôi gồm 2 loại gãy: gãy TLC và 
LLC, trong đó gãy TLC là chủ yếu, đây là 
vùng chuyển tiếp từ thân xương đến đầu 
xương, do đó là vùng yếu và dễ gãy do lực 
chấn thương. Gãy LLC là loại gãy với lực 
chấn thương rất mạnh và theo cơ chế thúc 
dồn. 
Thời điểm phẫu thuật: Đối với 
gãy xương đầu dưới xương đùi cần mổ 
sớm nhất có thể khi điều kiện toàn thân 
và tại chỗ cho phép, lý tưởng nhất là dưới 
48 giờ sau tổn thương, nếu trì hoãn 3 tuần 
hoặc lâu hơn phẫu thuật sẽ khó khăn. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 07 BN 
(29.2%) được mổ kết xương trước 48 giờ, 
14 BN (58.3%) mổ từ ngày thứ 3 đến ngày 
thứ 7, đây là những bệnh nhân đến muộn, 
và do điều kiện trang bị kỹ thuật không đảm 
bảo thời gian để mổ sớm. Có 3 BN (12.5%) 
mổ từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14 do có tổn 
thương phối hợp cần điều trị và theo dõi, 
không nguy hiểm đến tính mạng mới phẫu 
thuật kết xương. Nghiên cứu của chúng 
tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu 
của Nguyễn Hồng Dương [1], Bùi Mạnh 
Hà[3].
Kỹ thuật kết hợp: Có 22 trường 
hợp được sử dụng các phương tiện kết hợp
Bảng 4. Kỹ thuật kết hợp (n=14).
Kỹ thuật kết hợp
Loại A
+
Loại C
+ Tổng
A1 A2 A3 C1 C2 C3
Vít xốp 0 1 2 3 0 3 2 5 8
Vít xốp + chỉ thép 0 1 2 3 0 0 2 2 5
Chỉ thép 0 1 0 1 0 0 0 0 1
Tổng 0 3 4 7 0 3 4 5 14
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
80
Có 14 BN được sử dụng các dụng 
cụ kết hợp khác, trong đó 08 BN được sử 
dụng kết hợp vít xốp (loại A: 3BN, loại C: 
5 BN), 05 BN được sử dụng vít xốp và chỉ 
thép (loại A: 3 BN, loại C: 2 BN), 1 BN 
được sử dụng chỉ thép (loại A2). Đối với 
các loại gãy phức tạp nhiều mảnh rời, cần 
nắn chỉnh và dùng vít xốp hoặc chỉ thép cố 
định các mảnh rời, đặc biệt là với loại gãy 
C3, cần bắt vít xốp cố định khối lồi cầu 
trước, tạo điều kiện dễ dàng cho việc nắn 
chỉnh về hình thể và trục giải phẫu của đầu 
dưới với thân xương đùi.
- Ghép xương: Trong 24 BN phẫu 
thuật có 1 BN được ghép xương mào chậu 
trong mổ, đây là bệnh nhân gãy LLC phức 
tạp loại C3, có nhiều mảnh rời nhỏ, thưa 
loãng xương, và có ổ khuyết xương lớn. 
Chúng tôi nhận thấy nên chủ động ghép 
xương đối với trường hợp khuyết xương 
lớn, giúp cho quá trình liền xương tốt.
- Hình ảnh minh họa ca lâm sàng:
(BN Võ Thị T.)
 XQ trước mổ XQ sau mổ
3.2. Kết quả điều trị
3.2.1. Kết quả gần: 24 BN (100%) 
liền vết mổ kỳ đầu, không có trường hợp 
nào nhiễm khuẩn vết mổ. 1 BN (4,8%) 
chảy máu sau mổ do dùng Xarelto không 
tuân thủ chỉ định dừng trước phẫu thuật 
trước 24h. 100% BN kiểm tra Xquang sau 
mổ đạt yêu cầu, tuy nhiên có 5 BN (20.8%) 
di lệch, trong đó: 4 BN (16.4%) di lệch ít, 
1 BN (4.2%) BN di lệch mở góc vào trong 
trên 100 do gãy phức tạp liên lồi cầu, nhiều 
mảnh rời, trong mổ nắn chỉnh thẳng trục 
khó khăn.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
81
3.2.2. Kết quả xa: Theo dõi được 
21 BN từ 9 - 40 tháng. 
+ Kết quả liền xương: 20/21 BN 
(95.2%) liền xương, 1/21 BN (4.8%) khớp 
giả gãy nẹp. Gãy vùng đầu xương là vị trí 
dễ liền xương, nẹp khóa đóng vai trò như 
một hệ thống cố định vững chắc bên trong, 
xương – nẹp – vít thành 1 khối do vậy bất 
động ổ gãy rất vững chắc, tạo điều kiện tối 
đa cho quá trình liền xương, đặc biệt cho 
trường hợp thưa loãng xương, gãy phức 
tạp đầu xương. Kết quả của chúng tôi phù 
hợp với các nghiên cứu của Supanich V. 
(2012) [11] và Shriharsha R [10].
+ Phục hồi chức năng: 8/21 BN 
(38.1%) gấp gối được >125o, 7/21 BN 
(33.3%) gấp gối từ 100o-1240, 4/21 BN 
(19.1%) hạn chế gấp gối từ 90o-99o, 1/21 
BN (4.8%) hạn chế gấp gối <900. Gấp gối 
trung bình đạt: 117,340. Nẹp vít khóa có 
vai trò rất lớn cố định vững chắc ổ gãy, do 
vậy sau mổ BN được hướng dẫn tập vận 
động sớm, kết quả phục hồi chức năng rất 
khả quan, chỉ có 1 trường hợp hạn chế vận 
động gối <900, đây là trường hợp BN nữ, 
tuổi cao (80 tuổi), thưa loãng xương, khớp 
giả gãy nẹp nên rất sợ tập vận động. So 
với kết quả của Supanich V. (2012) [11] 
với nẹp khóa là 114,810, của Bùi Mạnh 
Hà (2009) [3] với nẹp DCS là 1060, của 
Nguyễn Hồng Dương (2013) [1] với 
tổng hợp nhiều phương tiện là 103, 880. 
Kết quả của chúng tôi tương đương với 
Supanich, cao hơn Bùi Mạnh Hà và Bùi 
Hồng Dương, theo chúng tôi do kết xương 
nẹp khóa vững chắc, bệnh nhân được tập 
vận động sớm. 
+ Phục hồi giải phẫu: 17/21BN 
(80.9%) liền xương thẳng trục, 3/21 BN 
(14.3%) gấp góc vào trong <10o. 1/21 
BN(4.8%) gập góc vào trong >100. Đối 
với các loại gãy phức tạp vùng đầu xương, 
việc phục hồi chính xác giải phẫu là một 
trong những vấn đề khó khăn trong phẫu 
thuật. Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng 
nẹp khóa với cấu trúc tương ứng với giải 
phẫu của vùng đầu dưới xương đùi, do vậy 
kết quả phục hồi giải phẫu rất khả quan 
(80.9%), kết quả này không có khác biệt 
lớn so với nghiên cứu của Thân Trọng 
Đoàn [2], Nayak R [8], điều này cho thấy 
khả năng giữ góc của nẹp khóa là rất tốt.
3.2.3. Kết quả chung sau phẫu thuật: 
 Bảng 5. Kết quả chung sau phẫu thuật.(n= 21)
Loại Số BN Tỷ lệ
Rất tốt 7 33,3%
Tốt 12 57,1%
Trung bình 1 4,8%
Kém 1 4,8%
Cộng 21 100%
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
82
Theo tiêu chuẩn của Sander R 
(n=21), loại rất tốt 7 BN (33,3%), khá 12 
BN (57,1%), trung bình 1 BN (4,8%), kém 
1 BN (4,8%). Như vậy kết quả rất tốt - tốt 
là 90,4%, kết quả này cao hơn kết quả 
nghiên cứu nẹp ốp lồi cầu AO (73.07%) 
của Đỗ Duy Trung [4], và tương đồng với 
nghiên cứu của Shriharsha R [10]. Qua đó 
chúng tôi nhận thấy với các nẹp khóa ưu 
điểm: cố định ổ gãy vững chắc, góc giữa 
nẹp - vít cố định, chịu lực dàn đều, tổn 
thương mạch máu nuôi dưỡng và cốt mạc 
tối thiểu đã đem lại hiệu quả điều trị phẫu 
thuật với kết quả rất khả quan. 
3.2.4. Liên quan giữa loại gãy và kết quả điều trị
Bảng 6. Liên quan giữa loại gãy và kết quả điều trị (n=21)
Kết quả
Nhóm A
Tỷ lệ 
(%)
Nhóm C
Tỷ lệ 
(%)A1 A2 A3 + C1 C2 C3 +
Rất tốt 1 3 0 4 19,0 0 2 1 3 14,2
Tốt 1 4 1 6 28,6 0 5 1 6 28,6
TB 0 0 1 1 4,8 0 0 0 0 0
Kém 0 0 0 0 0 0 0 1 1 4,8
Cộng 2 7 2 11 52,4 0 7 3 10 47,6
Nhóm gãy loại A: Kết quả tốt và 
rất tốt là 10/11 BN(90,91%); kết quả trung 
bình 1/11BN (9,09%), đây là BN gãy loại 
A3, tuổi cao, thưa loãng xương. Nhóm 
gãy loại C: Kết quả tốt và rất tốt là 9/10 
BN(90%); kết quả kém 1/10BN (10%), 
đây là BN gãy liên lồi cầu phức tạp loại 
C3, nắn chỉnh phục hồi giải phẫu khó khăn, 
còn di lệch ít, hơn nữa BN sợ tập vận động 
nên phục hồi chức năng khớp gối kém. Kết 
quả này tương đồng với nghiên cứu của 
Supanich V. (2012) [11] khi sử dụng nẹp 
khóa cho gãy loại C với kết quả tốt và rất 
tốt là 89%.
3.2.5. Biến chứng: Trong số BN 
của chúng tôi có 1 BN (4,8%) hạn chế gấp 
gối < 90o, đây là bệnh nhân nữ, tuổi cao 
(80 tuổi), thưa loãng xương, bị khớp giả 
gãy nẹp nên rất sợ tập vận động. 1 BN 
( 4,8%) lệch trục chi > 100. 1 BN (4,8%) 
khớp giả. Biến chứng thường gặp sau gãy 
đầu dưới xương đùi là mất hoặc hạn chế 
vận động khớp gối, nguyên nhân của biến 
chứng này là do co ngắn hoặc xơ dính cơ tứ 
đầu vào khối can xung quanh ổ gãy hay xơ 
dính các diện khớp[10], nhất là ở các bệnh 
nhân lười vận động hoặc không được tập 
vật lý trị liệu, phục hồi chức năng đầy đủ và 
đúng chương trình. Do vậy, hướng dẫn bệnh 
nhân tập vận động, phục hồi chức năng là 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
83
một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng góp 
phần đem lại kết quả điều trị sau phẫu thuật.
4. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 24 BN gãy ĐDXĐ 
được điều trị phẫu thuật KXNK tại khoa 
Chấn Thương Chỉnh Hình - BVQY 175 
trong thời gian từ 12/2016-10/2019, chúng 
tôi có một số nhận xét sau:
Kết quả điều trị:
Kết quả gần (n=24): Liền vết mổ 
kỳ đầu: 100%. Không có BN nào có biến 
chứng nhiễm khuẩn. Chảy máu sau mổ: 
4,8%. Kết quả nắn chỉnh phục hồi giải 
phẫu: 79,2% hết di lệch, 16,4% còn di lệch 
ít và 4,2% di lệch lớn trên 100. 100% đạt 
yêu cầu.
Kết quả xa (n=21): 95.2% liền 
xương, 4,8% khớp giả, 14.3% gấp góc vào 
trong 100, 
4.8% gấp gối <900.
Kết quả chung: 33,3% rất tốt, 
57.1% tốt, 4.8% trung bình, 4.8% kém. 
Biến chứng: Hạn chế gấp gối <900 là 9.5%. 
Liền lệch 4.8%. Khớp giả 4.8%.
Nhận xét chỉ định và kỹ thuật: 
Kết xương nẹp khóa cho các gãy 
TLC, LLC xương đùi, đặc biệt ở người 
lớn tuổi loãng xương có nhiều ưu điểm do 
vít và nẹp khóa thành một khối kết xương 
vững chắc, phục hồi giải phẫu, giúp cho 
BN tập vận động sớm, PHCN tốt. Gãy 
phức tạp trên lồi cầu với ổ khuyết xương 
lớn nên chủ động ghép xương mào chậu 
tự thân để đạt kết quả tốt. Với gãy LLC 
dùng vít xốp cố định mảnh gãy trước khi 
đặt nẹp sẽ thuận lợi cho quá trình nắn kết 
hợp xương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hồng Dương (2013), 
Đánh giá kết quả điều trị gãy kín trên lồi 
cầu và liên lồi cầu xương đùi bằng kết 
xương bên trong tại Bệnh viện Quân y 103, 
Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân y, 
Hà Nội..
2. Thân Trọng Đoàn (2004), Đánh 
giá kết quả điều trị gãy kín TLC - LLC 
xương đùi người lớn bằng nẹp góc AO tại 
Bệnh viện trung ương Huế, Luận văn bác 
sỹ chuyên khoa cấp II, Học viện Quân y, 
Hà Nội.
3. Bùi Mạnh Hà (2009), Đánh giá 
kết quả điều trị gãy trên lồi cầu và liên lồi 
cầu xương đùi ở người lớn bằng nẹp DCS 
tại Bệnh viện 103, Luận văn thạc sỹ y học, 
Học viện Quân y, Hà Nội. 
4. Đỗ Duy Trung (2009), Đánh giá 
kết quả điều trị gãy trên lồi cầu và liên lồi 
cầu xương đùi bằng nẹp ốp lồi cầu của AO 
tại Bệnh viện trung ương Quân đội 108, 
Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, Học 
viện Quân y, Hà Nội.
5. Bostman O., Varjonen L., 
Vainiaonpaa S., et al. (1989), “Incidence of 
Local Complications after Intramedullary 
Nailing and after Plate Fixation of Femoral 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
84
Shaft Fractures”, Journal of Trauma and 
Acute Care Surgery, 29(5), 639-645.
6. Chandrasekaran M., Subbaraj 
R., Nandakumar R., et al. (2015), “Distal 
Femur Fractures Treated by MIPO Locking 
Compression Plate–A Prospective Study 
on the Functional Outcome”, Journal of 
Medical Science and Clinical Research, 
3(8), 7248 - 7253.
7. Hoffmann M. F., Jones C. B., 
Sietsema D. L., et al. (2013), “Clinical 
outcomes of locked plating of distal 
femoral fractures in a retrospective 
cohort”, J Orthop Surg Res, 8, 43.
8. Nayak R. M., Koichade M. 
R., Umre A. N., et al. (2011), “Minimally 
invasive plate osteosynthesis using a 
locking compression plate for distal 
femoral fractures”, Journal of Orthopaedic 
Surgery, 19(2), 185.
9. Sander R., Swiontkowski M., 
Rosen H., et al. (1991), “Double-plating 
of comminuted, unstable fractures of the 
distal part of the femur”, J Bone Joint Surg 
Am, 73(3), 341-346.
10. Shriharsha R. V., Sapna M. 
(2015), “Utility and outcomes of locking 
compression plates in distal femoral 
fractures”, International Journal of 
Research in Orthopaedics, 1(1), 15-21.
11. Supanich V. (2012), “Results 
of the Treatment of Type-C Distal Femoral 
Fractures using Four Different Implants: 
Condylar Blade Plate, Dynamic Condylar 
Screw, Condylar Buttress Plate, and Distal 
Femoral Locking Plate”, The Thai Journal 
of Orthopaedic Surgery, 36(1-2), 8-15.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_ban_dau_dieu_tri_gay_kin_dau_duoi_xuong_dui.pdf