Đánh giá kết quả 5 năm điều trị phẫu thuật gãy ổ cối tại khoa chấn thương chỉnh hình II

Từ tháng 1/2011-1/2016 tại Viện CTCH Bệnh viện Việt Đức đã tiến hành phẫu

thuật cho 49 bệnh nhân được chẩn đoán gãy ổ cối do chấn thương. Loại gãy

thường gặp nhất là gãy chữ T,16/49 . Đường mổ hay sử dụng nhất là đường

Kocher-Langenbeck 27/68 .Phương pháp điều trị là cố định vững ổ gãy bằng nẹp

vít và vận động sớm sau mổ. 40/49 bệnh nhân cho kết quả tốt và rất tốt, trung

bình 6/49 và kém là 2/49.

pdf 5 trang phuongnguyen 480
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả 5 năm điều trị phẫu thuật gãy ổ cối tại khoa chấn thương chỉnh hình II", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả 5 năm điều trị phẫu thuật gãy ổ cối tại khoa chấn thương chỉnh hình II

Đánh giá kết quả 5 năm điều trị phẫu thuật gãy ổ cối tại khoa chấn thương chỉnh hình II
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
152
Nguyễn Tiến Sơn
Đoàn Việt Quân
Nguyễn Mạnh khánh 
Nguyễn Xuân Thùy
 Nguyễn Quang Trung
Trần Hoàng Tùng
Bệnh viện Việt Đức
Nguyen Tien Son
Đoan Viet Quan
Nguyen Manh khanh 
Nguyen Xuan Thuy
 Nguyen Quang Trung
Tran Hoang Tung
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 5 NĂM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT 
GÃY Ổ CỐI TẠI KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH II 
TÓM TẮT
Từ tháng 1/2011-1/2016 tại Viện CTCH Bệnh viện Việt Đức đã tiến hành phẫu 
thuật cho 49 bệnh nhân được chẩn đoán gãy ổ cối do chấn thương. Loại gãy 
thường gặp nhất là gãy chữ T,16/49 . Đường mổ hay sử dụng nhất là đường 
Kocher-Langenbeck 27/68 .Phương pháp điều trị là cố định vững ổ gãy bằng nẹp 
vít và vận động sớm sau mổ. 40/49 bệnh nhân cho kết quả tốt và rất tốt, trung 
bình 6/49 và kém là 2/49.
Từ khóa
phẫu thuật, gãy ổ cối, operative treatment, acetabulum fracture.
Chữ viết tắt: BN bệnh nhân, K-L Kocher-Langenbeck, TK Thần kinh
ABSTRACT
The authers reported initial operative treatment of 49 cases of acetabulum fractures 
from 1/2010 to 1/2016 at traumatic and orthopaedic Department in Viet Duc 
Hospital. T Fracture is the most common (16/49) and the Kocher – Langenbeck 
approach was used mostly (27/68). The principles in treatment is opened reduction, 
internal fixation and early rehabilitation.The reduction is graded as anatomical in 
40/49 excellent and good,) fair 6/49 and poor 2/49.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy ổ cối là một chấn thương nặng, cho đến nay gãy 
ổ cối vẫn là một thách thức đối với phẫu thuật viên chấn 
thương chỉnh hình do hình thái gãy phức tạp và thường 
kèm theo các chấn thương khác.
Ổ cối là một thành phần của khớp háng nếu ổ cối và 
chỏm xương đùi không tiếp khớp với nhau một cách thuận 
lợi sẽ dẫn đến biến chứng cal lệch, thoái hoá khớp, đau khi 
đi lại, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người bệnh. Vì 
vậy có thể giải thích được tại sao điều trị bảo tồn gãy ổ cối 
thường thất bại (trừ một vài trường hợp gãy ổ cối không di 
lệch hoặc di lệch ít).
Điều trị gãy ổ cối bằng phẫu thuật đã được tiến hành 
trên thế giới từ những năm 1960, Judet (1964) và cộng sự 
là những người tiên phong trong việc chẩn đoán và điều 
trị gãy ổ cối. Tác giả đã phẫu thuật 350 bệnh nhân cho 
kết quả điều trị phẫu thuật là 83% kết quả tốt[5]. Rowe và 
Lowell(1960)[7] nghiên cứu 90 bệnh nhân chia làm hai 
nhóm, có và không phẫu thuật. Nhóm điều trị phẫu thuật 
cho kết quả tốt hơn. 
Điều trị phẫu thuật gãy ổ cối đã được Gs Ngô Bảo 
Khang thực hiện vào năm 1999 tại Việt Nam .[1,2] Từ đó 
đến nay có một số tác giả báo cáo về vấn đề này. Nguyễn 
Vĩnh Thống (2008) báo cáo 90 trường hợp điều trị phẫu 
thuật gãy ổ cối kết quả tốt và rất tốt trên 70 %.[3]
Khoa Chấn thương chỉnh hình II Bệnh viện Việt Đức 
được thành lập cuối năm 2010 từ đó đến nay chúng tôi đã 
tiến hành mổ cho 49 bệnh nhân gãy ổ cối trong khoảng thời 
gian từ 2011-2016. 
Chúng tôi thực hiện đề tài với mục đích đánh giá kết 
quả điều trị phẫu thuật gãy ổ cối bằng phương pháp kết hợp 
xương nẹp vít.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
49 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật 
gãy ổ cối do chấn thương tại bệnh viện Việt Đức từ 
2011-2016.
2. Phương pháp nghiên cứu: 
- Nghiên cứu tiến cứu mô tả. 
Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung
153
- Chẩn đoán gãy ổ cối chúng tôi dựa vào
- Phim XQ chụp khung chậu thẳng, nghiêng chậu, 
nghiêng bịt. 
- Chụp cắt lớp vi tính. 
- Bảng phân loại gãy ổ cối theo Judet - Letournel (1964).
- Chỉ định điều trị phẫu thuật.
+ Ổ cối mất vững
+ Ô cối mất tương thích
+ Đến trước 3 tuần sau chấn thương.
- Chọn đường mổ vào ổ cối:Tuỳ theo mỗi loại gãy ổ 
cối chúng tôi chọn đường mổ thích hợp. 
- Chăm sóc và tập luyện sau mổ.
+ Rút dẫn lưu khi chảy ít hơn 10ml/24h.
+ Kháng sinh sau mổ 7 ngày.
+ Tập co cơ ngay sau mổ.
+ Tập vận động chủ động vào ngày thứ 3. 
+ Tập gấp gối và tăng dần biên độ .
+ Đi bộ 2 nạng, không tỳ hoặc tỳ nhẹ bắt đầu sau 2 tuần.
+ Đi một nạng sau 8 tuần.
+ Đi lại bình thường sau 12-14 tuần.
- Đánh giá kết quả sau mổ: Chúng tôi đánh giá bằng 
chụp XQ các tư thế sau mổ và khám lâm sàng đánh giá 
vận động .
- Đánh giá độ di lệch của ổ gãy bằng Xquang khung 
chậu các tư thế theo Judet
- Đánh giá chức năng vận động theo Charnley. 
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
- Chúng tôi đã phẫu thuật cho 49 trường hợp. Bệnh 
nhân nam giới chiếm đa số, 40 nam, 9 nữ.Tuổi từ 17- 51. 
Đây là lứa tuổi lao động, đi lại nhiều nên thường gặp tai nạn.
- Cơ chế gãy ổ cối có thể trực tiếp qua mấu chuyển 
lớn hoặc gián tiếp qua bàn chân, gối vì vậy hình thái gãy 
ổ cối rất phức tạp và nhiều thể gãy.
- Trong 49 bệnh nhân thì 12 bệnh nhân chấn thương 
ngã cao,4 bệnh nhân do tường đổ,24 do tai nạn xe máy 
9 do tai nạn ô tô  Nó phù hợp với tập quán và sinh 
hoạt của người Việt Nam
- Để chẩn đoán chính xác gãy ổ cối chúng tôi sử 
dụng XQ khung chậu 3 tư thế theo Judet và CT Scanner.
- Theo phân loại này thì loại tổn thương hay gặp nhất 
là: Gãy thành sau 10 BN ,gãy ngang 6 BN, gãy chữ T 16 
BN, gãy ngang và gãy thành sau 8 BN,gãy hai cột trụ 6 
BN, gãy cột trụ sau 3 BN Tổn thương gãy thành sau gặp 
chủ yếu do cơ chế chấn thương ở người VN là ngồi trên 
xe máy bị tai nạn là chủ yếu. Trong 66 bn Judet nghiên 
cứu năm 1964 thì số BN gãy thành sau là 42 BN, cơ chế 
tai nạn chủ yếu do BN ngồi lái ô tô bị tai nạn[5]. 
- Chỉ định phẫu thuật: Tất cả những bệnh nhân gãy 
ổ cối do chấn thương di lệch > 3mm, ổ cối mất vững, ổ 
cối mất tương thích, đến trước 3 tuần sau chấn thương.
- Những BN đến muộn sau 3 tuần ổ gãy đã có cal nên 
việc nắn chỉnh hầu như không có kết quả. Với những 
BN này chúng tôi điều trị bảo tồn.
- Trong 49 BN của chúng tôi thì đường mổ hay 
sử dụng nhất là đường Kocher-Langenbeck 37 BN, 9 
trường hợp mổ theo đường K-L cải tiến , 3 trường hợp 
mổ theo đương chữ Y. 5 trường hợp mổ hai đường mổ 
K-L kết hợp đường chậu bẹn.
- Để mổ vào ổ cối có nhiều đường khác nhau. Trong 
nghiên cứu này với những tổn thương gãy trụ, thành 
trước chúng tôi mổ theo đường chậu bẹn. Với gãy thành 
sau , trụ sau, gãy ngang,gãy ngang và thành sau chúng 
tôi sử dụng đường K_L. Đường mổ này bộc lộ khá rõ 
trụ, thành sau ổ cối, bóc tách phần mềm ít, tuy vậy 
đường mổ này bị hạn chế nếu đường gãy lan lên cao 
hoặc lan vào khuyết hông lớn, đường mổ này cũng dễ 
gây tổn thương TK toạ. Trong 18 lần mổ theo đường này 
thì có 2 lần chúng tôi gặp khó khăn trong nắn chỉnh, chỉ 
đưa được trụ sau về giải phẫu còn mảnh xương ở khuyết 
hông lớn không can thiệp được , do vậy trên film chụp 
kiểm tra đường chậu lược vẫn còn di lệch. Để tránh tổn 
thương thần kinh chúng tôi cho BN nằm co chân bên tổn 
thương 45 độ làm trùng TK, sau khi cắt khối cơ chậu 
hông mấu chuyển thì khâu treo và vén ra sau có tác dụng 
như một đệm bảo vệ TK. ¬Với gãy T chúng tôi sử dụng 
đường K_L hoặc K_L cải tiến, đường chữ Y. 2 trường 
hợp mổ theo đường K_L do khi nắn di lệch trụ sau kiểm 
tra lại diện khớp háng thấy đều đặn nên chúng tôi không 
mở thêm . 2 đường mổ K_L và Y này tạo được một phẫu 
trường rộng rãi có thể xử lý những thương tổn ở phần 
cao của trụ sau hoặc những đường gãy lan vào khuyết 
hông lớn, đường Y còn cho phép xử lý tổn thương ở 1 
phần thành trước trụ trước. Tuy vậy 2 đường mổ này 
bóc tách cơ lớn nên rất dễ tạo các cầu xương sau mổ, do 
phải đục mấu chuyển lớn nên dẫn đến mất vững của MC 
nếu không cố định đúng cách. Nguy cơ tổn thương thần 
kinh toạ, đùi bì ngoài cũng nhiều hơn. Chúng tôi mổ 9 
lần theo đường này, đường mổ khá rộng rãi nắn chỉnh 
di lệch dễ dàng hơn, nhưng do số lượng BN còn ít nên 
chúng tôi chưa gặp các biến chứng của đường mổ này.
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
154
Bảng 1: Kết quả nắn di lệch
Rất tốt
<1mm
Tốt
1-2mm
T B
3-5mm
Kém
>5mm
Số lương BN
Gãy ngang 4 2 6
Gãy thành sau 8 2 10
Gãy ngang và th sau 4 4 8
Gãy T 5 8 3 16
Gãy 2 cột trụ 1 4 1 6
Gãy cột trụ sau 2 1 3
Tổng số 22 22 4 1 49
Chúng tôi sử dụng XQ so sánh trước và sau mổ. 
Nhóm bệnh nhân gãy thành sau ổ cối ,8 BN, kết quả 
rất tốt, di lệch sau mổ 0-1 mm.Đây là loại thương tổn 
thường gặp nhất và cũng là loại nhẹ nhất. Với đường 
mổ K_L có thể thấy được toàn bộ tổn thương nên việc 
đặt lại thành sau ổ cối hầu như không gặp khó khăn gì. 
Mear và cộng sự nghiên cứu XQ các tư thế cho 67 BN 
gãy thành sau ổ cối, kết quả79 % BN có di lệch < 2mm 
.Nhóm gãy hai cột trụ ,6 BN, cho kết quả kém 1 di lệch 
>5mm chỉ có 2 BN di lệch 2mm. Gãy hai cột trụ là một 
loại gãy nặng nó gồm nhiều đường gãy nên việc nắn 
chỉnh các thương tổn là rất khó[11]. Các tác giả nước 
ngoài thường mổ 2 đường trước và sau để nắn chỉnh 
Judet- Letuornel 1993 đã mổ cho 16 BN gãy hai cột trụ 
, kết quả tốt là 7/16[6] . Trong nhóm 6 BN của chúng tôi 
do tổn thương khá nặng thêm vào đó dụng cụ nắn chỉnh 
thiếu và có ít kinh nghiệm về loại gãy này nên kết quả 
nắn chỉnh kém ở nhóm này là điều dễ hiểu. Nhóm còn 
lại gãy ngang, gãy ngang và gãy thành sau, 8 BN, trong 
đó 4 trường hợp di lệch 1mm, 4 trường hợp có di lệch 
2mm, đây là loại gãy nặng nhưng việc nắn chỉnh cũng 
khá thuận lợi với 1 đường mổ phía sau và với những 
dụng cụ nắn xương thông thường.
- Phương tiện cố định chủ yếu sử dụng nẹp vít, chỉ có 
4 trường hợp gãy thành sau ổ cối kết hợp xương bằng vít 
đơn thuần, 2 BN gãy chữ T sử dụng kết hợp vít , nẹp vít, 
chỉ thép. 4 BN gãy thành sau ổ cối có kích thước của 
mảnh gãy nhỏ từ 2-3 cm nên chúng tôi chỉ bắt 2-3 vít cả 
vít xương và vít xốp, cố định mảnh gãy vào xương ngồi 
của cột trụ sau. Những trường hợp dùng nẹp vít chúng 
tôi uốn nẹp theo chiều cong của cột trụ, vít được bắt vào 
xương cánh chậu và chủ yếu vào xương ngồi để đảm độ 
vững của ổ cối.
Bảng 2: Kết quả đánh giá vận động sau mổ: 
Kết quả 
Loại thương tổn
Rất tốt Tốt Trung bình Kém
Số lương 
BN
Gãy ngang 6 6
Gãy thành sau 7 2 1 10
Gãy ngang và thành sau 5 2 1 8
Gãy T 7 5 3 1 16
Gãy hai cột trụ 2 2 1 1 6
Gãy cột trụ sau 2 1 3
Tổng số 19 19 7 2 49
Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung
155
Nhóm gãy thành sau có 10 BN thời gian khám lại 
TB 3 năm. Kết quả rất tốt 19 BN, tốt 19 BN, trung bình 
7 BN. Nhóm gãy ngang khám lại được 6 BN , thời gian 
khám lại TB 24 tháng, kết quả tốt. Nhóm gãy T thời gian 
khám lại TB 30 tháng, 7 rất tốt ,5 tốt, 3 cho kq trung 
bình,1 kém .Nhóm gãy hai cột trụ 6 BN thời gia theo dõi 
trung bình 18 tháng, 2 BN rất tốt 1 BN kém. Nhóm gãy 
cột trụ sau 3 BN thời gian theo dõi trung bình 20 tháng, 
2 BN tốt . Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả nắn chỉnh 
ổ gãy không tốt, do đó chỏm xương đùi và ổ cối tiếp 
khớp nhau không đều đặn dẫn tới BN vận động sẽ đau 
dẫn đến hạn chế vận động. Về lâu dài những trường hợp 
này sẽ thóai hoá khớp háng. Với những trường hợp này 
chúng tôi hẹn BN khám định kỳ và chọn thời điểm điều 
trị di chứng. 
- Biến chứng 
Trong 49 bn được phẫu thuật chúng tôi gặp 1 trường 
hợp tổn thương thần kinh toạ. BN không duỗi được gối, 
cổ chân và ngón chân,tê bì mặt ngoài cẳng chân. Trường 
hợp này bệnh nhân được chẩn đoán gãy thành sau ổ cối 
, mổ theo đường K-L. Sau mổ xuất hiện liệt TK toạ, khi 
ra viện BN phải bó bột chỉnh hình. Ngô Bảo Khang và 
cộng sự báo cáo 22 bn điều trị gãy ổ cối trong đó tác 
giả gặp biến chứng tổn thương bàng quang 2 trường 
hợp, tổn thương thần kinh toạ 1 trường hợp[2]. Judet-
Letournel 1993 gặp 29/214 (14%) BN mổ theo đường 
K-L[6]. Số lượng BN của chúng tôi còn ít nên có thể 
chưa gặp các biến chứng như y văn thế giới đã mô tả : 
Chết do nhồi máu phổi, tắc tĩnh mạch sâu, nhiễm khuẩn, 
tổn thương thần kinh: đùi, đùi bì, thần kinh mông trên.
Tổn thương mạch máu, tổn thương bàng quang, đặt nẹp, 
vít không đúng vị trí.
Chúng tôi xét những trường hợp biến chứng muộn 
khi có kết quả khám lại sau 6 tháng.Tổng số những 
bệnh nhân bị biến chứng muộn là 12 bệnh nhân, biến 
chứng cầu xương là gặp nhiều nhất 5/49(10,5%) bệnh 
nhân, thoái hoá khớp 7/49(14,3%). Leutournel nghiên 
cứu 569 bệnh nhân thì tỷ lệ bệnh nhân thoái hoá chỏm 
xương đùi là 3,9%, cầu xương là 24,4%, thoái hóa khớp 
sau chấn thương là 17% [8]. Tỷ lệ tương tự trong 84 
bệnh nhân của Helfet là 4%, 2%, 23% [10]. 108 bệnh 
nhân của Routt thì tỷ lệ này là 2%,54%,5% [12].
Sự thành lập cầu xương sau chấn thương là một 
biến chứng thường thấy , dễ chẩn đoán tỷ lệ này dao 
động từ 2-54% . Tỷ lệ của chúng tôi là 5/49. Matta cho 
rằng cầu xương chỉ có ý nghĩa khi nó làm giảm 20% sự 
vận động bình thường của khớp háng [13]. Các tác giả 
đều thống nhất rằng sự hình thành cầu xương liên quan 
nhiều đến đường mổ, tổn thương phần mềm, và những 
mảnh xương thừa không được lấy bỏ trong khi mổ, bệnh 
nhân có chấn thương sọ não kèm theo hay không .Theo 
Mears thì đường mổ chậu bẹn là đường ít tạo thành cầu 
xương nhất 2%, đường K-L là 10,5%, gặp nhiều nhất 
là các đường mổ mở rộng hoặc kết hợp , đường chậu 
đùi mở rộng là 35%, kết hợp giữa đường K-L và đường 
chậu bẹn là 27%[11].
Thoái hoá chỏm xương đùi gặp từ 2-10% theo nhiều 
tác giả. thường gặp trong nhóm bệnh nhân có trật khớp 
háng ra sau. Judet và Letournel trong nghiên cứu trên 
227 bệnh nhân nhận thấy rằng tỷ lệ thoái hoá chỏm 
xương đùi ở những bệnh nhân trật khớp háng ra sau là 
7.5%, còn trật ra trước thì tỷ lệ này là 1,5%, trật trung 
tâm là 1,6 %.[6]
Thoái hóa khớp háng sau chấn thương là một biến 
chứng nặng của phẫu thuật gãy ổ cối, thường xuất hiện 
vào khoảng 2 năm sau phẫu thuật. Những bệnh nhân mà 
kết quả XQ sau mổ từ 1-3 mm thì tỷ lệ viêm khớp háng 
sau mổ 2 năm là 58%[9], còn những di lệch > 3mm thì 
tỷ lệ này là 100. Chúng tôi gặp 1 bệnh nhân sau mổ 3 
tháng đã có hiện tượng này. Đây là một bệnh nhân gãy 
chữ T ổ cối, trật khớp háng kiểu chậu , gãy xương mác 
bên tổn thương và có kèm theo chấn thương bụng kín 
vỡ gan, đã đã được mổ chấn thương bụng tại tuyến dưới 
còn khớp háng thì không được nắn. Sau mổ chụp kiểm 
tra thì di lệch của vòm ổ cối là 1,5 cm trên XQ. Sau 6 
tháng bệnh nhân đã có dấu hiệu của thoái khớp háng sau 
chấn thương là điều dễ hiểu bởi vì bệnh nhân này đã hội 
tụ đủ những nguy cơ có thể gây nên biến chứng này.
Theo chúng tôi sự hình thành cầu xương trong mổ 
gãy ổ cối có tỷ lệ gặp khá cao, các cầu xương này ít 
nhiều cũng ảnh hưởng đến sự vận động vận động của 
khớp háng. tỷ lệ chúng tôi gặp là 5/49 cũng tương đương 
các tác giả khác. Để hạn chế biến chứng này khi mổ cần 
phải cắt lọc sạch tổ chức phần mềm dập nát, lấy hết các 
mảnh xương thừa, cầm máu tốt, và điều quan trọng là 
phải đánh giá đúng tổn thương để chọn một đường mổ 
hợp lý, hạn chế những đường mổ mở rộng, nên tận dụng 
một đường mổ hoặc kết hợp hai đường mổ với nhau. 
Sự vận động sớm sau mổ cũng giúp hạn chế được hình 
thành cầu xương. 
Những bệnh nhân trật khớp háng kèm theo thì phải 
được nắn và cố định khớp bằng kéo liên tục trên khung 
để tránh trật lại, nếu không thực hiện được thì nên mổ 
thật sớm cho bệnh nhân thậm chí có thể mổ cấp cứu. Khi 
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
156
nắn di lệch của ổ gãy cần phải làm tối đa, khi cần có thể 
kết hợp các đường mổ với nhau. Như vậy mới có thể hy 
vọng làm giảm nguy cơ thiếu máu chỏm xương đùi, ổ 
cối và cuối cùng là thoái hóa khớp háng sau chấn thương
KẾT LUẬN
- Qua 49 bệnh nhân gãy ổ cối được phẫu thuật tại 
BV Việt Đức từ 2010-1/2016, chúng tôi nhận thấy phẫu 
thuật điều trị gãy ổ cối có thể nắn chỉnh tốt các di lệch, 
tạo điều kiện cho khớp vận động được thuận lợi, giảm 
được các biến chứng, di chứng cho bệnh nhân.
- Loại gãy thường gặp nhất là gãy T,16/49 . Đường 
mổ hay sử dụng nhất là đường Kocher-Langenbeck 
37/49 .Phương pháp điều trị là cố định vững ổ gãy bằng 
nẹp vít và vận động sớm sau mổ. 38/49 bệnh nhân cho 
kết quả tốt và rất tốt, trung bình 7/49 và kém là 2/49
- Tuy vậy đây là một phẫu thuật khó nên cần có sự 
chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt khi tiến hành phẫu thuật 
cũng như việc phục hồi chức năng sau mổ
- Cần phải chụp XQ nhiều tư thế, CT scanner trước 
mổ để có thể chẩn đoán chính xác loại gãy, từ đó có thể 
chọn được đương mổ thích hợp nó có yếu tố quyết định 
đến thành công của phẫu thuật.
Tài liệu tham khảo
1. Huỳnh Phiến: Những nhận xét bước đầu của các trường 
hợp chấn thương khung chậu vỡ ổ cối được cố định ổ gãy 
bằng nẹp vít tại bệnh viện Đà Nẵng. Trích Báo cáo khoa học 
Đại hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ II 1999; Tập 2: 72-76.
2. Ngô Bảo Khang: Điều trị gãy ổ chảo xương chậu bằng 
phẫu thuật. Trích Báo cáo khoa học Đại hội ngoại khoa Việt 
Nam lần thứ ii 1999; Tập 2: 68-71.
3. .Nguyễn Vĩnh Thống Kết quả điều trị gãy ổ cối di lệch bằng 
phẫu thuật. Y học thành phố Hồ Chí Minh : (2008) tập 12: số 2
4. Jeffrey Anglen, MD: Operative Results And Functional 
Outcomes Of Geriatric Acetabulum Fractures. American 
Academy of Orthopeadic Surgeons. Dalass TX podium 
presentation 2002;173. 
5. Judet, R Judet, J and Leoutnel, E: Fracture of the 
Acetabulum: Classification and surgical approaches for 
open reduction J. Bone Joint Surg 1964; 46A:1615
6. Letournel,E and Judet,R: Fractures of the Acetabulum. 
Berlin, Spinger-Verlag 1993
7. Rowe CR, Lowell JD: Prognosis of fracture of the 
acetabulum. J Bone joint Surg 1960; 43A:302:147.
8. Letornel. E: Traitement chirurgical des fractures du cotyle. 
Editions Techniques. Encycl. Méd. Chir. . 
Techniques Chirurgicales - Orthopédie -Traumatologie 1991; 
44520:30p.
9. Dipasquale, T G et al: Radiologital diagnosis of screw 
penetration of the hip joint acetabular fracture fixation. A 
simple auscultation technique. Presented at the OTA Ninth 
Annual Meeting, New Orleans, LA 1993.
10. Helfet,D.L and Schmeling, G.J: Manegemen of acute, 
displaced acetabular fractures using indirect reduction 
techniques and limited approaches . Ortho. 
Trans; 1991. 15:833-834.
11. Mears, D C Rubash, H E, and Sawaguchi, T:)Fractures 
of the acetabular. In The Hip: Proceedings of the Thirteenth 
Open Scientific Meeting of The Hip Society; 1985 . 95-112. 
St Louis, C V Mosby.
12. Routt, M Land Swiontkowski, M F: Operative treatment 
of complex acetabular fracture: Combined anterior and 
posterior exposures during the same procedure. J Bone 
Joint Surg; 1990.72A:897-904.
13. Matta, J.M: Operative indication and choice of surgical 
approach for fractures of the acetabulum.Tech.Ortho; 
1986.1:13-22.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_5_nam_dieu_tri_phau_thuat_gay_o_coi_tai_kho.pdf