Đánh giá hiệu quả kinh tế của Sevoflurane so với Propofol dùng để duy trì mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu thuật tim hở

Mục tiêu: So sánh chi phí y tế giữa

Sevoflurane và Propofol khi sử dụng để duy trì

mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên

bệnh nhân phẫu thuật tim hở.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

nghiên cứu mô tả tiến cứu, cắt ngang trên 60 bệnh

nhân có đủ tiêu chuẩn tại trung tâm tim mạch

bệnh viện E từ tháng 8/2019 đến tháng 1/2020.

Tuổi trung bình 56.17±10.99 (năm) (18-75), nam

45%, nữ 55%. Bệnh nhân được chia 2 nhóm duy

trì mê bằng Sevoflurane (qua bộ trộn khí máy tim

phổi nhân tạo) hoặc Propofol (đường tĩnh mạch),

phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên đơn. Duy trì độ

mê BIS từ 40-60 trên cả 2 nhóm. Các số liệu chi

phí về thuốc, vật tư, nhân công sử dụng trong

quá trình duy trì mê được ghi lại

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả kinh tế của Sevoflurane so với Propofol dùng để duy trì mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu thuật tim hở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả kinh tế của Sevoflurane so với Propofol dùng để duy trì mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu thuật tim hở

Đánh giá hiệu quả kinh tế của Sevoflurane so với Propofol dùng để duy trì mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu thuật tim hở
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SEVOFLURANE SO VỚI PROPOFOL DÙNG ĐỂ DUY TRÌ MÊ TRONG... 
 13 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SEVOFLURANE SO VỚI PROPOFOL 
DÙNG ĐỂ DUY TRÌ MÊ TRONG GIAI ĐOẠN TUẦN HOÀN NGOÀI CƠ THỂ 
TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM HỞ 
Phạm Thị Thanh Loan*, Phạm Quang Minh**, Nguyễn Công Hựu* 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: So sánh chi phí y tế giữa 
Sevoflurane và Propofol khi sử dụng để duy trì 
mê trong giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên 
bệnh nhân phẫu thuật tim hở. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
nghiên cứu mô tả tiến cứu, cắt ngang trên 60 bệnh 
nhân có đủ tiêu chuẩn tại trung tâm tim mạch 
bệnh viện E từ tháng 8/2019 đến tháng 1/2020. 
Tuổi trung bình 56.17±10.99 (năm) (18-75), nam 
45%, nữ 55%. Bệnh nhân được chia 2 nhóm duy 
trì mê bằng Sevoflurane (qua bộ trộn khí máy tim 
phổi nhân tạo) hoặc Propofol (đường tĩnh mạch), 
phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên đơn. Duy trì độ 
mê BIS từ 40-60 trên cả 2 nhóm. Các số liệu chi 
phí về thuốc, vật tư, nhân công sử dụng trong 
quá trình duy trì mê được ghi lại. 
Kết quả: chi phí trung bình tiền thuốc cho 
nhóm S là 80.293 ± 37.203 VNĐ, nhóm P là 
158.891 ± 69.414 VNĐ. Chi phí trung bình tiền 
vật tư nhóm S là 579.83 ± 829.658 VNĐ, của 
nhóm P là 26.368,87 ± 7.764,484 VNĐ. Chi phí 
trung bình cho nhân lực nhóm S là 750.00 ± 
858.527 VNĐ, nhóm P là 4.066,67 ± 2.796,961 
VNĐ. Tổng chi phí trung bình của nhóm S là 
81.622,85 ± 37.537,78 VNĐ và của nhóm P là 
189.327,16 ± 76.456,76 VNĐ, sự khác biệt này 
có ý nghĩa thống kê với p < 0.001. Không ghi 
nhận các triệu chứng bất thường xẩy ra trong và 
sau mổ ở cả 2 nhóm. 
Kết luận: Duy trì mê bằng Sevoflurane có 
hiệu quả kinh tế hơn nhóm Propofol trong giai 
đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu 
thuật tim hở. Sử dụng Sevoflurane trong THNCT 
an toàn, thuận tiện, tiết kiệm và khả thi. 
Từ khóa: Hiệu quả kinh tế, Sevoflurane, 
Propofol, Gây mê, Phẫu thuật tim hở. 
THE COST-EFFECTIVENESS BETWEEN 
SEVOFLURANE AND PROPOFOL FOR 
MAINTENANCE OF ANESTHESIA 
DURING CARDIOPULMONARY BYPASS 
ON OPEN-HEART SURGERY PATIENTS 
SUMMARY 1 
Objectives: To evaluate the cost-effectiveness 
between Sevoflurane and Propofol for anesthesia 
during cardiopulmonary bypass. Methods: A 
prospective cross-sectional study was implemented 
on 60 patients from August 2019 to January 2020. 
Mean of age was 56.17±10.99 (18-75). Male: 45%, 
female: 55%. Patients were selected and divided 
into 2 groups (S group and P group) using simple 
random sampling. After being anesthetized, the 
patients in S group received Sevoflurane through 
oxygen mixer on cardiopulmonary bypass while P 
group received intravenous Propofol. During 
maintenance of anesthesia, controlled depth of 
anesthesia (BIS 40-60) was achieved in both 
groups. Data related to cost of drugs, labor, 
medical consumables and equipment were 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E 
**Khoa gây mê hồi sức, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: CN Phạm Thị Thanh Loan 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 14 
carefully and honestly recorded in order to 
calculate the specific cost for each group. 
Results: Cost of drugs: S group 80.293 ± 
37.203 VND; P group 158.891 ± 69.414 VND. 
Cost of supplies and resources: S group 579.83 ± 
829.658 VND; P group 26.368,87 ± 7.764,484 
VND. Cost of labor: S group 579.83 ± 829.658 
VND; P group 26.368,87 ± 7.764,484 VND. 
Total cost: S group 81.622,85 ± 37.537,78 VND; 
P group 189.327,16 ± 76.456,76 VND. 
Conclusion: Sevoflurane is more cost-effective 
than Propofol for anesthesia maintenance during 
cardiopulmonary bypass on open-heart surgery 
patients (p < 0.001). Anesthesia maintenance by 
Sevoflurane during cardiopulmonary bypass is 
feasible, safety and economical. 
Keywords: Cost-effectiveness, Sevoflurane, 
Propofol, Anesthesia, Open-heart surgery. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tại Việt Nam, theo khảo sát của tổ chức 
Quỹ bảo trợ tim mạch trẻ em quốc tế 
(International Children’s Heart Fund) năm 2010 
chi phí trực tiếp dành cho y tế mà người bệnh 
phải trả cho một ca phẫu thuật tim bẩm sinh là từ 
1500 – 4500 USD, từ 2000 – 5000 USD cho một 
ca phẫu thuật tim người lớn [1],[2]. Chi phí này là 
không nhỏ trong khi Việt Nam vẫn còn là nước 
đang phát triển [2]. Các gói phẫu thuật tim mở hiện 
nay chi cho phẫu thuật và gây mê là cố định, vì thế 
việc sử dụng thuốc, vật tư y tế cho ca mổ ngoài đảm 
bảo hiệu quả về mặt lâm sàng thì tính khả thi về 
kinh tế cũng đóng một vai trò quan trọng, trong đó 
có việc sử dụng thuốc trong gây mê toàn thân. 
Thông thường trong giai đoạn tuần hoàn 
ngoài cơ thể, bác sỹ gây mê chỉ có thể sử dụng 
thuốc mê tĩnh mạch Propofol, điều này là phổ 
biến ở hầu hết các trung tâm phẫu thuật tim mở 
tại Việt Nam hiện nay. Tại Trung tâm tim mạch 
bệnh viện E, các bác sỹ đã xây dựng được 1 hệ 
thống cung cấp thuốc mê bốc hơi Sevoflurane 
liên tục qua phổi nhân tạo thay vì dùng thuốc mê 
tĩnh mạch để duy trì mê trong giai đoạn này 
[3],[4]. Trên thế giới, cả thuốc mê bốc hơi 
Sevoflurane và thuốc mê tĩnh mạch Propofol đều 
đã được chứng minh là an toàn, hiệu quả và được 
sử dụng thường quy cho bệnh nhân trong phẫu 
thuật tim hở. Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa 
có một nghiên cứu nào tại Việt Nam đánh giá 
hiệu quả về mặt chi phí khi sử dụng Sevoflurane 
thay cho Propofol trong giai đoạn THNCT. Do 
đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: 
“So sánh chi phí y tế khi sử dụng Sevoflurane và 
Propofol duy trì mê trong giai đoạn tuần hoàn 
ngoài cơ thể trên bệnh nhân phẫu thuật tim hở”. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
60 bệnh nhân được phẫu thuật tại Trung 
tâm tim mạch bệnh viện E từ 8/2019 – 1/2020, 
chia thành 2 nhóm: nhóm Sevoflurane (nhóm S) 
và nhóm Propofol (nhóm P), theo phương pháp 
ngẫu nhiên đơn. 
Tiêu chuẩn lựa chọn: 
- Phẫu thuật tim hở lần đầu tiên theo kế 
hoạch qua đường xương ức 
- ASA 3 
- Tuổi từ 17 – 75 
- EF > 50%, hoặc dd < 66mm. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
- Bệnh nhân mang thai 
- Mổ cấp cứu hoặc mổ lại. 
- Dị ứng hoặc không dung nạp với thuốc 
- Bệnh nhân không hợp tác. 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SEVOFLURANE SO VỚI PROPOFOL DÙNG ĐỂ DUY TRÌ MÊ TRONG... 
 15 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, đánh 
giá kinh tế y tế. 
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu 
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên 
cứu: tuổi, giới tính, trọng lượng, chiều cao, BSA, 
ASA, chẩn đoán và dự kiến phẫu thuật, tiền sử 
bản thân và các bệnh phối hợp. 
- Chi phí trong nghiên cứu: chi phí thuốc, 
chi phí vật tư, chi phí nhân lực. 
- Các chỉ tiêu khác trong nghiên cứu: Thời 
gian THNCT (phút), Thời gian cặp ĐMC (phút), 
tiền sử bệnh, tiền sử dùng thuốc của đối tượng 
nghiên cứu. 
2.4. Quy trình nghiên cứu 
- Bệnh nhân được thăm khám và giải thích 
về gây mê và phẫu thuật trước mổ 
- Sáng ngày mổ bệnh nhân được tiền mê 
bằng Midazolam 2mg tĩnh mạch, được đặt ven 
ngoại vi và huyết áp động mạch xâm lấn, gắn 
theo dõi với máy mornitoring. 
- Bệnh nhân được gây mê toàn thân theo 
phác đồ: propofol (2-3mg/kg) + rocuronium 
(0.8mg/kg) + Fentany(5-10mcg/kg), sau đó duy 
trì mê bằng Sevoflurane 1-1.5 MAC. 
- Đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm đường 
cảnh trong trái và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung 
tâm để bù dịch, làm xét nghiệm khí máu động 
mạch và ACT trước mổ. Trước khi đặt canuyn 
ĐMC bệnh nhân được sử dụng Heparin toàn thân 
với liều 3mg/kg đợi đến khi xét nghiệm ACT 
480s thì hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể được 
thiết lập. 
- Bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên vào 
nhóm S hoặc nhóm P: 
+ Nhóm S: bệnh nhân được duy trì mê bằng 
Sevoflurane với nồng độ ban đầu là 2% thông qua 
hệ thống THNCT với lưu lượng thay đổi phụ 
thuộc vào cân nặng, chiều cao, huyết động trong 
giai đoạn THNCT. 
+ Nhóm P: bệnh nhân được duy trì mê bằng 
Propofol truyền tĩnh mạch liên tục liều ban đầu là 
10mg/kg/h. 
Ở cả 2 nhóm, thuốc mê được thay đổi sao 
cho BIS luôn duy trì trong khoảng 40-60, 
rocuronium và Fentanyl được nhắc lại đảm bảo 
độ giãn cơ và giảm đau tương đương ở cả 2 
nhóm (rocuronium 0.5mg/kg/h, Fentanyl 
2.5mcg/kg/h). Sau khi thả cặp ĐMC bệnh nhân sẽ 
được sử dụng thuốc vận mạch, duy trì nhịp tim 
bằng Pacemaker 90 nhịp/phút cho đến khi huyết 
động hoàn toàn ổn định, bệnh nhân được ngừng 
máy THNCT. 
2.5. Cách tính chi phí trong nghiên cứu 
 Cách tính chi phí thuốc 
+ Nhóm Propofol = số ml x giá 1ml 
+ Nhóm Sevoflurane = FGF (L tối thiểu) x 
Sevoflurane Vol% x Thời lượng (phút)x chi phí 
của 1 chai (VNĐ)/Chất lỏng để tỷ lệ hơi * x khối 
lượng của một chai (L)** 
(*tỷ lệ giữa chất lỏng và hơi đối với 
Sevoflurane là 183ml, **thể tích chai Sevoflurane 
là 0,25L). 
 Cách tính giá nhân công thực hiện kỹ 
thuật (VNĐ) 
Chi phí điều dưỡng được tính bằng cách nhân 
lương y tá lương hàng giờ với thời gian trung bình 
dành cho việc chuẩn bị chuẩn bị thuốc và vật tư cho 
duy trì mê. 
Cách tính tổng chi phí = chi phí thuốc + chi 
phí vật tư + chi phí nhân lực (VNĐ). 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 16 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 
3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân 
Biểu đồ 1: Tỉ lệ phân bố theo lứa tuổi Biểu đồ 2: Tỉ lệ phân bố theo giới tính 
Bệnh nhân trong nghiên cứu có tuổi trung bình là 56.17 ± 10.99, tuổi cao nhất là 75, tuổi thấp 
nhất là 28. Nam chiếm 45%, nữ 55%. 
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 2 nhóm 
Đặc điểm Nhóm S (n = 30) Nhóm P (n = 30) p 
Tuổi (năm) 54.70 ± 11.511 57.63 ±10.420 > 0.05 
Giới Nam : 17, Nữ: 13 Nam: 10, Nữ: 20 > 0.05 
Cân nặng (kg) 54.51 ± 9.34 52.51 ± 8.708 > 0.05 
Chiều cao (cm) 158.86 ± 9.77 157.83 ± 7.37 > 0.05 
BSA 1.557 ± 0.17339 1.519 ± 0.157 > 0.05 
Nhận xét: 
Tỷ lệ về tuổi, giới, cân nặng, chiều cao và BSA của bệnh nhân trong 2 nhóm là tương đồng, 
không có sự khác biệt. 
3.2. Đặc điểm bệnh học của 2 nhóm nghiên cứu 
Bảng 2: Đặc điểm bệnh học của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm Nhóm S (n = 30) Nhóm P (n = 30) p 
Thời gian CEC 141.90 ± 44.00 137.73 ± 46.15 > 0.05 
Thời gian cặp chủ 96.70 ± 41.28 92.90 ± 44.89 > 0.05 
Huyết áp TB 59.51 ± 15.06 54.17 ± 12.48 > 0.05 
Nhiệt độ 28.08 ± 12.16 27.05 ± 14.28 > 0.05 
BIS 35.15 ± 12.05 40.20 ± 11.28 > 0.05 
Tim mắc phải/tim mắc phải 27/3 29/1 > 0.05 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SEVOFLURANE SO VỚI PROPOFOL DÙNG ĐỂ DUY TRÌ MÊ TRONG... 
 17 
Nhận xét: 
Thời gian chạy máy trung bình, thời gian cặp chủ trung bình, huyết áp trung bình, nhiệt độ trung 
bình và BIS trung bình không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Số lượng bệnh nhân tim mắc phải và tim 
bẩm sinh cũng được phân bố tương đồng. 
3.3. So sánh số lần thay thuốc và thời gian thực hiện thuốc của 2 nhóm 
Bảng 3: So sánh số lần thay thuốc và thời gian thực hiện thuốc của 2 nhóm 
Chỉ số trung bình Nhóm S Nhóm P p 
Số lần thay thuốc (lần) 0.53 ± 0.629 2.37 ± 0.718 < 0.001 
Thời gian thực hiện thuốc (phút) 1.466 ± 1.696 2.223 ± 0.405 < 0.001 
Nhận xét: 
 Nhóm S có số lần thay thuốc và thời gian thực hiện thuốc ít hơn nhiều so với nhóm P, khác biệt 
có ý nghĩa thống kê với p < 0.001. 
3.5. So sánh một số chi phí liên quan và tổng chi phí giữa 2 nhóm 
Bảng 4: So sánh một số chi phí liên quan và tổng chi phí giữa 2 nhóm 
Chi phí trung bình (VNĐ) Nhóm S Nhóm P p 
Thuốc mê 80.293,02 ± 37.203,56 158.891,6 ± 69.414,23 < 0.001 
Thuốc kết hợp 38.216,03 ± 30762.86 27319.30 ± 18164.110 > 0.05 
Vật tư tiêu hao 579,83 ± 829,658 26.368,87 ± 7.764,484 < 0.001 
Nhân công 750.00 ± 858.527 4066.67 ± 2796.961 < 0.001 
Tổng chi phí 81.622,85 ± 37.537,78 189.327,16 ± 76.456,76 < 0.001 
Nhận xét: Chi phí sử dụng thuốc mê, chi phí vật tư tiêu hao và nhân công ở nhóm P cao hơn 
nhóm S, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.001. Các thuốc sử dụng phối hợp với thuốc mê 
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. 
Tổng chi phí trung bình (không tính các thuốc kết hợp) của nhóm S thấp hơn nhiều so với nhóm 
(81.622,85 so với 189.327,16), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0.001. 
 Không ghi nhận bất kỳ tai biến, bất thường nào trong thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và sau 
mổ của cả 2 nhóm. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng 
nghiên cứu: 
4.1.1.Đặc điểm về tuổi, giới: Trong nghiên 
cứu của chúng tôi không có sự khác biệt có ý 
nghĩa giữa 2 nhóm về tuổi và tỉ lệ nam/nữ. Bệnh 
nhân có tuổi trung bình là 56.17 ± 10.99 (năm), 
tuổi cao nhất là 75, tuổi thấp nhất là 28, nam 
chiếm 45%, nữ 55%. Nghiên cứu của Roberta 
Meroni và cộng sự năm 2016 [5] cũng có tuổi 
trung bình gần với nghiên cứu của chúng tôi là 
53.37 ± 10.49 và tỉ lệ nam là 50%, nữ là 50%. 
Nghiên cứu của I. Smith và cộng sự (1999) [6] có 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 18 
tuổi trung bình thấp hơn so với nghiên cứu của 
chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm Sevoflurane 
là 37,6 cao nhất là 69 tuổi, thấp nhất là 20 tuổi; 
nhóm Propofol có tuổi trung bình là 40,8 và tuổi 
cao nhất là 71, thấp nhất là 18, có thể do tác giả 
lấy nhiều bệnh nhân tim bẩm sinh có tuổi trung 
bình thấp. 
4.1.2. Đặc điểm về nhân khẩu học: Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, cân nặng trung bình 
của 2 nhóm S và P lần lượt là 54.51 ± 9.34 và 
52.51 ± 8.708 (kg), chiều cao trung bình là 
158.86 ± 9.77 và 157.83 ± 7.37 (cm). Nghiên cứu 
của Roberta Meroni và cộng sự năm 2016 [5] cân 
nặng và chiều cao trung bình lớn hơn so với 
nghiên cứu của chúng tôi 73.87 ± 12.61 (kg) và 
169.8 ± 7 8.66 (cm). Nghiên cứu của I. Smith và 
cộng sự (1999) [6] cân nặng trung bình nhóm 
Sevoflurane là 71,4 ± 13,2 (kg), nhóm Propofol là 
69,7 ± 13,1 (kg) tương đương so với nghiên cứu 
của chúng tôi. 
4.2. Bàn luận về các loại chi phí 
Trong nghiên cứu của chúng tôi chi phí 
trung bình thuốc mê Sevoflurane trong giai đoạn 
THNCT là 80.293,02 ± 37.203,56 (VNĐ) ít hơn 
chi phí trung bình của thuốc mê Propofol là 
158.891,6 ± 69.414,23 (VNĐ). Các thuốc kết hợp 
sử dụng trong thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 
như Nicardipine, Ephedrin, NaCl 10%, Natri 
bicarbonat, Lasix để đảm bảo cho các chỉ số về 
huyết động và cận lâm sàng tối ưu cho bệnh nhân 
trong giai đoạn THNCT không có sự khác biệt 
giữa 2 nhóm. Các vật tư tiêu hao cần dùng như 
bơm tiêm, kim tiêm, dây nối bơm tiêm điện, chạc 
ba tiêm...sẽ được ghi lại số lượng thực tế và tính 
ra chi phí trung bình chi cho vật tư tiêu hao ở giai 
đoạn THNCT của nhóm S là 579,83 ± 829,658 
(VNĐ), trong khi đó của nhóm P là 26.368 ± 
7.764 (VNĐ). Như vậy khi sử dụng Propofol để 
duy trì mê sẽ dùng vật tư tiêu hao nhiều hơn so 
với sử dụng Sevoflurane để duy trì mê trong 
THNCT. Thêm nữa, khi sử dụng Sevoflurane 
điều dưỡng viên/kĩ thuật viên chỉ cần chuẩn bị 
thuốc 1 lần, trong khi đó dùng Propofol phải thay 
thuốc nhiều lần đặc biệt nếu thời gian chạy máy 
kéo dài thì số lần thay thuốc càng nhiều vì thế 
thời gian thực tế thực hiện thuốc của nhóm 
Propofol cũng nhiều hơn so với nhóm 
Sevoflurane. Tổng chi phí bao gồm chi phí thuốc 
mê, chi phí vật tư tiêu hao và chi phí nhân lực của 
nhóm S là 81.622,85 (VNĐ) thấp hơn nhiều so 
với tổng chi phí của nhóm P là 189.327,16 
(VNĐ), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 
0.001. 
Một số nghiên cứu khác cũng có kết quả về 
chi phí trung bình của Sevoflurane thấp hơn so 
với sử dụng Propofol như kết quả của Csaba 
Loibl và cộng sự (2018) [2], chi phí theo giờ của 
thuốc mê Propofol cao hơn so với Sevoflurane 
(7,86 ± 3,54 (€) tương đương 196.500 ± 88.500 
(VNĐ) so với 7,52 ± 2,49 (€) tương đương 
188.000 ± 62.250 (VNĐ)). Tổng chi phí của 
nhóm P so với nhóm S cũng cao hơn (22.11 ± 
8.08 (€) tương đương 552.750 ± 20.200 (VNĐ) 
so với 19,95 ± 8,53 (€) tương đương 498.750 ± 
17.060 (VNĐ)) khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p < 0.001. Tương tự như vậy, nghiên cứu của 
Yashpal Singh và cộng sự 2015 [7] cho thấy chi 
phí trung bình thuốc mê nhóm S là 407,01 ± 
74,86 (rupee) tương đương 125.172 ± 23.022 
(VNĐ) thấp hơn so với nhóm P là 464,49 ± 
108,10 (rupee) tương đương 143.772 ± 33.245 
(VNĐ). Chi phí vật tư của nhóm P là 119,10 ± 
0.00 (rupee) so với nhóm S không mất thêm vật 
tư, tổng chi phí của nhóm P là 602,85 ± 82,42 
(rupee) tương đương 185.401 ± 25.347 (VNĐ) 
cao hơn nhóm S là 407,01 ± 74,86 (rupee) tương 
đương 125.172 ± 23.022 (VNĐ), khác biệt có ý 
nghĩa với p < 0.001. 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SEVOFLURANE SO VỚI PROPOFOL DÙNG ĐỂ DUY TRÌ MÊ TRONG... 
 19 
4.3. Một số bất lợi khi sử dụng Sevoflurane 
so với Propofol 
Nghiên cứu của R. Nitzschke và cộng sự 
năm 2013 [8] cho thấy mặc dù Sevoflurane được 
biết đến là thuốc mê bốc hơi có tác dụng bảo vệ 
tim mạch rõ ràng hơn so với các loại thuốc mê 
khác dẫn đến giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim và giảm 
tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật tim. Tuy nhiên, liều 
lượng của thuốc mê bay hơi trong bộ trộn khí của 
hệ thống THNCT bị ảnh hưởng bởi hạ thân nhiệt, 
sự pha loãng máu và những thay đổi trong lưu 
lượng khí mới. Vì thế đo nồng độ Sevoflurane 
trong hệ thống là không hữu ích để theo dõi quản 
lý Sevoflurane trong THNCT mà phải dùng đến 
BIS. Nếu không có BIS thì công việc của bác 
sĩ/điều dưỡng gây mê/chạy máy sẽ khó khăn hơn 
trong việc kiểm soát nồng độ khí mê Sevoflurane 
trong hệ thống THNCT dẫn tới mất thời gian hơn, 
phải tính toán cẩn thận hơn... 
Ngoài ra theo nghiên cứu của các tác giả 
MJ Blokker– Veldhui, năm 2011 [9], tác giả phân 
tích mặc dù Sevoflurane được sử dụng rộng rãi 
cho duy trì mê trong tất cả các loại thủ thuật và 
phẫu thuật. Nhưng có một số vấn đề cần quan tâm 
khi khí mê bị thoát ra gây lãng phí và phơi nhiễm 
đối với nhân viên y tế. Một số báo cáo đã nghiên 
cứu những ảnh hưởng đến nhân viên y tế tại 
phòng mổ khi tiếp xúc trực tiếp. Mặc dù số liệu 
về phản ứng xấu tới sức khỏe là không nhiều 
nhưng những tác động tiềm tàng của phơi nhiễm 
nghề nghiệp vẫn là một điểm đáng quan tâm. 
V. KẾT LUẬN 
Duy trì mê bằng Sevoflurane giúp tiết kiệm 
thời gian cho việc chuẩn bị thuốc, thực hiện 
thuốc, theo dõi, thay thuốcdẫn đến tổng chi phí 
giảm hơn so với nhóm duy trì mê bằng Propofol. 
Thêm nữa, việc giảm công việc cho Điều 
dưỡng/Kỹ thuật viên gây mê giúp họ có thời gian 
thực hiện công việc khác, nâng cao tính an toàn 
cho phẫu thuật. Tuy vậy, bác sỹ gây mê cũng phải 
lưu ý một số bất lợi khi sử dụng Servofluran để 
tránh lãng phí thuốc và bảo đảm an toàn tối ưu về 
sức khoẻ cho nhân viên y tế. 
VI. KHUYẾN NGHỊ 
Nên sử dụng thuốc mê bốc hơi trong 
THNCT một cách thường quy trên mọi bệnh nhân 
phẫu thuật tim hở. Nên truyền thông và tổ chức 
các khóa học để nhiều trung tâm tim mạch khác 
có thể tiếp cận và áp dụng phương thức này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Yu QB, Li HM, Li LL, Wang SY, Wu 
YB. Sevoflurane downregulates interleukin-6 and 
interleukin-8 levels in patients after 
cardiopulmonary bypass surgery: a meta-analysis. 
Genetics and molecular research : GMR. 
2015;14(4):19016-27. 
2. Bocskai T, Loibl C, Vamos Z, Woth G, 
Molnar T, Bogar L, et al. Cost-effectiveness of 
anesthesia maintained with sevoflurane or 
propofol with and without additional monitoring: 
a prospective, randomized controlled trial. BMC 
Anesthesiol. 2018;18(1):100. 
3. Nguyễn Thế Bình. tổng kết cuối năm 
trung tâm tim mạch, Hà Nội; 2018. 
4. Xiong HY, Liu Y, Shu DC, Zhang SL, 
Qian X, Duan WX, et al. Effects of Sevoflurane 
Inhalation During Cardiopulmonary Bypass on 
Pediatric Patients: A Randomized Controlled 
Clinical Trial. ASAIO J. 2016;62(1):63-8. 
5. Meroni R, Gianni S, Guarnieri M, 
Saglietti F, Gemma M, Zangrillo A, et al. 
Feasibility of Anesthesia Maintenance With 
Sevoflurane During Cardiopulmonary Bypass: A 
Pilot Pharmacokinetics Study. J Cardiothorac 
Vasc Anesth. 2017;31(4):1210-7. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 20 
6. Smith I, Terhoeve PA, Hennart D, Feiss 
P et al. A multicentre comparison of the costs of 
anaesthesia with sevoflurane or propofol. British 
Journal of Anaesthesia. 1999;83(4):564-70. 
7. Singh Y, Singh AP, Jain G, Yadav G, 
Singh DK. Comparative evaluation of cost 
effectiveness and recovery profile between 
propofol and sevoflurane in laparoscopic 
cholecystectomy. Anesth Essays Res. 
2015;9(2):155-60. 
8. Nitzschke, R. Wilgusch, J. Kersten, J. 
F. Trepte, C. J.Haas, S. A.Reuter, D. A. Goetz, 
A. E. Goepfert, M. S, 2013, Changes in 
sevoflurane plasma concentration with delivery 
through the oxygenator during on-pump cardiac 
surgery, Br J Anaesth. 2013 Jun;110(6):957-65. 
doi: 10.1093/bja/aet018. Epub 2013 Mar 5. 
9. Blokker-Veldhuis, M. J. Rutten, P. M. 
De Hert, S. G, 2011, Occupational exposure to 
sevoflurane during cardiopulmonary bypass, 
Perfusion. 2011 Sep;26(5):383-9. doi: 
10.1177/0267659111409971. Epub 2011 May 18. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_kinh_te_cua_sevoflurane_so_voi_propofol_du.pdf