Đánh giá hiệu quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang

Đặt vấn đề: Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đã đƣợc chứng minh là có lợi trong việc

giảm nhiễm khuẩn sau mổ ở những trƣờng hợp có nguy cơ cao (chuyển dạ sau khi vỡ ối),

hoặc nguy cơ thấp (chƣa chuyển dạ và còn màng ối). Một liều duy nhất kháng sinh trƣớc khi

rạch da đƣợc nhiều nơi nghiên cứu và có hiệu quả tốt hơn nhiều liều kháng sinh đƣợc tiêm

sau khi phẫu thuật. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai làm giảm nguy cơ

nhiễm khuẩn và tiết kiệm đƣợc chi phí.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và mức độ an toàn của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong

mổ lấy thai bằng Cefazolin 2gram TMC trƣớc rạch da 30 phút.

pdf 7 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang

Đánh giá hiệu quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 167 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRONG MỔ LẤY THAI 
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TỈNH AN GIANG 
Bs Trịnh Thanh Nhung, Bs Phạm Hồng Loan 
Bs Nguyễn Hoàng Huy, Ys Dƣơng Thị Chuộng 
TÓM TẮT: 
Đặt vấn đề: Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đã đƣợc chứng minh là có lợi trong việc 
giảm nhiễm khuẩn sau mổ ở những trƣờng hợp có nguy cơ cao (chuyển dạ sau khi vỡ ối), 
hoặc nguy cơ thấp (chƣa chuyển dạ và còn màng ối). Một liều duy nhất kháng sinh trƣớc khi 
rạch da đƣợc nhiều nơi nghiên cứu và có hiệu quả tốt hơn nhiều liều kháng sinh đƣợc tiêm 
sau khi phẫu thuật. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai làm giảm nguy cơ 
nhiễm khuẩn và tiết kiệm đƣợc chi phí. 
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và mức độ an toàn của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong 
mổ lấy thai bằng Cefazolin 2gram TMC trƣớc rạch da 30 phút. 
Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang 198 bệnh nhân 
(BN) trong đó có 99 BN đƣợc dùng kháng sinh dự phòng để phòng ngừa nhiễm khuẩn trong mổ 
lấy thai từ tháng 04/2016 đến 9/2016 tại Khoa sản - Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh AG. 
Kết quả: Tuổi trung bình 29,26 tuổi, thấp nhất 15, cao nhất 46 tuổi, nhóm tuổi nhiều nhất là 
18-35 tuổi, sanh còn lần 2 trở lên 76,3%, tuổi thai 37-40 tuần chiếm 95,5%, chỉ định mổ lấy 
thai do vết mổ cũ 75,7%, ngôi thai chủ yếu là ngôi đầu: 89,8%, không có sự khác biệt về tình 
trạng nhiễm trùng vết mổ khi sử dụng kháng sinh dự phòng so với sử dụng kháng sinh điều 
trị, nhóm sử dụng kháng sinh sự phòng có thời gian nằm viện ngắn hơn 5 ngày so với 7,03 
ngày của nhóm kháng sinh điều trị, chi phì điều trị cũng giảm nhiều so với nhóm kháng sinh 
điều trị (3.368 ngàn đồng so với 4,438 ngàn đồng) 
Kết luận: Sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai là cần thiết và cần đƣợc tiếp tục triển 
khai ví đem lại mức độ an toàn về nhiễm khuẩn sau mổ và chi phì điều trị thấp hơn nhiều so với 
sử dụng kháng sinh điều trị thông thƣờng. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 Nhiễm khuẩn sau mổ là một vấn đề quan trọng rất đƣợc quan tâm trong phẫu thuật 
vì ảnh hƣởng lớn đến quá trính điều trị , thời gian nằm viện kéo dài, tăng chi phì điều trị cho 
bệnh nhân. Việc kiểm soát nhiễm khuẩn sau mổ luôn đƣợc các cơ sở y tế và phẫu thuật viên 
đặc biệt quan tâm ngay cả những nơi có kỹ thuật và cơ sở hiện đại. 
Trong những thập kỷ gần đây, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách, lạm dụng 
kháng sinh là cơ hội làm tăng các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh và tốn kém không cần 
thiết. Để giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn sau mổ, hạn chế đề kháng kháng sinh, ngoài việc sử dụng 
kháng sinh đúng, đầy đủ thì việc sử dụng kháng sinh dự phòng cũng rất quan trọng đem lại 
thành công cho cuộc phẫu thuật. 
Mổ lấy thai có nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổ gấp 5-20 lần so với sinh ngả âm đạo. 
Các nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai thƣờng gặp: viêm nội mạc tử cung, viêm đƣờng tiết niệu, 
nhiễm khuẩn vết mổ 
Hiện nay, việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đã đƣợc triển khai ở 
nhiều bệnh viện cho thấy có hiệu quả làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổ, tiết kiệm đƣợc 
chi phí và rút ngắn thời gian điều trị. Kháng sinh dự phòng cũng đã đƣợc Bộ Y tế khuyến 
cáo sử dụng trong tài liệu hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh ban hành năm 2005. 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 168 
Tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tỉnh An Giang, tỷ lệ mổ lấy thai cũng khá cao. Mặc 
dù kháng sinh dự phòng đã đƣợc chứng minh là có lợi cho việc giảm nhiễm khuẩn sau mổ 
nhƣng các bác sĩ tại khoa chƣa mạnh dạn áp dụng do tâm lý lo ngại nhiễm khuẩn sau mổ, 
điều này có thể gây mệt mỏi cho bệnh nhân, vất vả cho điều dƣỡng và tốn kém về kinh tế. 
Với mong muốn có một bằng chứng khoa học về hiệu quả của kháng sinh dự phòng trong 
điều kiện thực tế của đơn vị, chúng tôi thực hiện đề tài:” Đánh giá hiệu quả sử dụng kháng 
sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tỉnh An Giang” với các 
mục tiêu : 
1. Đánh giá hiệu quả sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại bệnh viện đa 
khoa khu vực Tỉnh An Giang 
2. Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 
 Tất cả các trƣờng hợp sản phụ nhập viện khoa sản bệnh viện Đa khoa khu vực Tỉnh An 
Giang có chỉ định mổ lấy thai từ 1/4/2016 đến 30/9/2016 thỏa điều kiện: chƣa vỡ ối hoặc vỡ 
ối < 6 giờ chƣa có dấu hiệu nhiễm trùng. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
Các TH vỡ ối > 6 giờ, suy thai, tiền sản giật, nhau tiền đạo, nhau bong non 
Có dấu hiệu nhiễm trùng trƣớc mổ ( sốt, bạch cầu tăng) 
Bệnh nhân có test kháng sinh (+) 
Không đồng ý tham gia nghiên cứu 
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: tiến cứu cắt ngang , mô tả, có đối chứng 
2.3 Nội dung tiến hành: 
Cách thực hiện: 
Chọn vào nhóm kháng sinh dự phòng: các ngày thứ 3, 5, 7 . Liều : cefazoline 2 gram 
TMC trƣớc rạch da 30 phút. 
Chọn vào nhóm kháng sinh điều trị: các ngày 2, 4, 6 . Liều: ceftizoxim 1 gram x 2/ 
ngày trong 5 ngày. 
Qui trình: 
Ngày mổ: 
Test nội bí kháng sinh làm KSDP trƣớc khi vào phòng mổ 
Làm sạch vùng mổ bằng Microself 4 % 
Sát khuẩn rộng vùng mổ bằng povidine 10% 
Sát khuẩn lại vết mổ sau khi kết thúc phẫu thuật bằng povidine 10% 
Sau mổ: 
Thay băng vết mổ sau 24 giờ sau đó để hở 
Thăm khám lâm sàng hàng ngày 
Chuyển kháng sinh điều trị khi phát hiện nhiễm khuẩn vết mổ 
Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
 Trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2016 chúng tôi thu thập đƣợc 198 
trƣờng hợp thỏa tiêu chuẩn đƣa vào nghiên cứu, trong đó có 99 trƣờng hợp đƣợc sử dụng 
kháng sinh dự phòng 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 169 
1. Đặc điểm chung 
Bảng 3.1 Phân nhóm bệnh nhân theo nhóm tuổi 
Độ tuổi Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
< 18 4 2,0 
18 - 35 174 87,9 
> 35 20 10,1 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 29,3±4,9 tuổi, thấp nhất 15 tuổi, 
cao nhất 46 tuổi. Độ tuổi trong nhóm nghiên cứu chủ yếu từ 18-35 tuổi, chiếm 87,9%, đây là 
lứa tuổi sinh đẻ phù hợp. 
Bảng 3.2 Phân nhóm theo số lần sinh con trong mẫu nghiên cứu 
Lần sinh con Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Con so 47 23,7% 
Con rạ 151 76,3% 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Số bệnh nhân sinh con lần hai trở lên chiếm ƣu thế 76,3% 
Bảng 3.3 Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi thai 
Tuổi thai) Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
< 37 tuần 7 3,5 
37 – 40 tuần 189 95,5 
> 40 tuần 2 1,0 
Tổng 198 100% 
Nhận xét:Tuổi thai trung bình 38,32 tuần, thấp nhất 31 tuần, cao nhất 41 tuần. Nhóm 
tuổi thai từ 37-40 tuần chiếm tỉ lệ cao 95,5% 
2. Đặc điểm bệnh nhân trong và sau mổ 
Bảng 3.4 Các chỉ định phẫu thuật lấy thai 
Chỉ định phẫu thuật Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Vết mổ lấy thai cũ 150 75,7 
Chỉ định khác 48 24,3 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Phần lớn các trƣờng hợp chỉ định mổ là do vết mổ cũ, chiếm 75,7%, phần 
còn lại do thai to và ngôi bất thƣờng chiếm tỉ lệ thấp hơn. 
Bảng 3.5 Tính chất nước ối 
Tính chất nƣớc ối Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Bính thƣờng 178 89,8% 
Bất thƣờng 20 10,2% 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Tính chất ối bính thƣờng chiếm tỉ lệ cao nhất 89,8% 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 170 
Bảng 3.6 Ngôi thai 
Ngôi thai Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Đầu 187 94,4% 
Ngôi bất thƣờng 11 5,6% 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Phần lớn trong nhóm nghiên cứu là ngôi thuận, chiếm 94,4% 
Bảng 3.7 Tình trạng nhiễm trùng vết mổ 
Tình trạng vết mổ Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Không nhiễm 196 99% 
Nhiễm trùng nông 1 0,5% 
Bung chỉ vết mổ 1 0,5% 
Viêm nội mạc tử cung 0 0% 
Viêm đƣờng tiết niệu 0 0% 
Tổng 198 100% 
Nhận xét: Trong nhóm nghiên cứu chỉ có 1% bị nhiễm trùng vết mổ 
3. Kết quả sử sụng kháng sinh sau phẫu thuật 
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm trùng và sử dụng kháng sinh 
 Nhóm KSDP Nhóm KS điều trị P 
Không nhiễm 98ca (98,9%) 98 (98,9%) 
0,368 Nhiễm trùng nông 1ca (1,1%) 0 (0%) 
Bung chỉ vết mổ 0 (0%) 1 (1,1%) 
Nhận xét: Nhóm dùng kháng sinh dự phòng có 1 trƣờng hợp nhiễm trùng đỏ da. 
Nhóm dùng kháng sinh điều trị có 1 trƣờng hợp bung chỉ vết mổ. Tuy nhiên chƣa có sự khác 
biệt nhiều(P=0,368) 
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thời gian phẫu thuật và tình trạng nhiễm trùng vết mổ 
trong nhóm sử dụng kháng sinh dự phòng 
 Số ca Thời gian phẫu 
thuật trung bình 
(phút) 
p 
Không nhiễm trùng 98 40,45 ± 4,44 0,625 
Nhiễm trùng vết mổ 1 40 
 Nhận xét: Thời gian phẫu thuật trung bình của nhóm nghiên cứu là 40,45 phút, ngắn nhất 
30 phút, dài nhất 60 phút 
 Không có sự khác biệt về thời gian phẫu thuật giữa nhóm có nhiễm trùng và không nhiễm 
trùng vết mổ với p= 0,683. 
Bảng 3.10 Thời gian nằm viện 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 171 
 Thời gian nằm viện trung bình P 
Nhóm KSDP 5 ± 0 ngày 
< 0,001 
Nhóm KS điều trị 7,03 ± 0,3 ngŕy 
Nhận xét: Thời gian nằm viện trung bình 6,02 ± 1,04 ngày. Nhóm sử dụng kháng 
sinh dự phòng có thời gian nằm viện ngắn hơn 2 ngày so với nhóm kháng sinh điều trị, sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,001 
Bảng 3.11 Chi phí điều trị 
 Chi phí điều trị P 
Nhóm KSDP 3,668,771 ± 413,433 đồng 
< 0,001 
Nhóm kS điều trị 4,438,865 ± 476,210 đồng 
 Nhận xét: Chi phì điều trị của nhóm sử dụng KSDP thấp hơn nhiều so với nhóm 
dùng kháng sinh điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,001 
IV. BÀN LUẬN 
1. Vấn đề lực chọn kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai 
 Kháng sinh dự phòng đƣợc biết đến từ rất lâu, việc sử dụng kháng sinh dự phòng đƣợc 
nhiều tác giả áp dụng trong các trƣờng hợp phẫu thuật sạch hoặc sạch nhiễm theo phân loại 
phẫu thuật của CDC các bệnh lý ngoại khoa nhƣ: sỏi túi mật, thoát vị bẹn, viêm ruột thừa 
chƣa có biến chứng, trong phẫu thuật sản phụ khoa nhƣ: u nang bƣờng trứng, thai ngoài tử 
cung, mổ lấy thai 
 Việc áp dụng kháng sinh dự phòng cũng đƣợc nhiều tác giả trong nƣớc và ngoài nƣớc 
nghiên cứu và đề xuất các nhóm kháng sinh dùng làm kháng sinh dự phòng nhƣ 
cephalosporin thế hệ 1( cefazolin), cephalosporin thế hệ 2 ( cefuroxim), cephalosporin thế hệ 
3 (cefotaxim, ceftriaxon). 
 Năm 2015 bộ y tế có ban hành hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh cụ thể mổ lấy thai có thể sử 
dụng cefazolin với liều 2gram trƣớc mổ 30 phút. Qua đó tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh 
An Giang áp dụng theo phác đồ kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai là cefazolin [1]. 
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng kháng sinh dự phòng của các tác giả 
Tác giả Tên kháng sinh Số ca 
Trƣơng Ngọc Đan Thanh (2010) Cefazolin 1gram 153 
Nguyễn Ngọc Khuyên (2011) Cefotaxim 1gram 63 
Vƣơng Thị Việt Hồng(2013) Cefotaxim 1gram 198 
Chúng tôi 2016 Cefazolin 2gram 99 
2. Hiệu quả sử dụng của kháng sinh dự phòng: 
 - Việc quyết định sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân phụ thuộc rất nhiều yếu tố nhƣ: loại 
phẫu thuật, thời gian phẫu thuật, tình trạng bệnh hiện tại và các yếu tố nguy cơ cho phẫu 
thuật. 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 172 
 Sử dụng kháng sinh dự phòng đem lại hiệu quả rõ rệt qua các lý do nhƣ: thời gian nằm 
viện ngắn hơn, chi phì điều trị thấp hơn, bệnh nhân ìt đau hơn do không phải tiêm thuốc 
nhiều lần trong nhiều ngày. 
 Theo nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc sử dụng kháng sinh dự phòng có số ngày 
nằm viện ngắn hơn rõ rệt ( 5 ngày so với 7,03 ngày ở nhóm kháng sinh điều trị), sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. 
Bảng 4.2 So sánh thời gian nằm viện so với các tác giả khác 
Tác giả Số ca Số ngày năm viện 
Nguyễn Ngọc Khuyên (2011) 63 5 
Vƣơng Thị Việt Hồng(2013) 198 6-7 ngày (90,4%) 
Chúng tôi 2016 99 5 
 Chi phì điều trị là một gánh nặng cho bất kỳ một bệnh nhân nào có phẫu thuật nói chung 
và mỗ lấy thai cũng không khác các phẫu thuật khác. Trong nghiên cứu của chúng tôi việc 
áp dụng kháng sinh dự phòng cho thấy kết quả tổng chi phì điều trị thấp hơn rõ rệt so với 
nhóm sử dụng kháng sinh điều trị (giảm 770.000 đồng/1 trƣờng hợp) sự chênh lệch này có ý 
nghĩa thống kê. Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khuyên năm 2011 thí chênh lệch này là 
522.800 đồng [3]. 
3. Tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ lấy thai do sử dụng kháng sinh dự phòng 
 Vấn đề nhiễm trùng sau mổ lấy thai rất phức tạp, có thể từ nhiễm trùng rất nông nhƣ đỏ 
chân chỉ đến các nhiễm trùng sâu hơn và nặng nề hơn là viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy 
thai. 
 Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi sử dụng kháng sinh dự phòng kết quả cho thấy chỉ có 
1,01% bị nhiễm trùng nông ở vết mổ, không gặp trƣờng hợp nào nhiễm trùng sâu hoặc viêm 
nội mạc tử cung. 
Tác giả Số ca Tỉ lệ nhiễm trùng % 
Trƣơng Ngọc Đan Thanh (2010) 153 7,4 
Nguyễn Ngọc Khuyên (2011) 63 3,17 
Vƣơng Thị Việt Hồng(2013) 198 1,4 
Chúng tôi 2016 99 1,01 
V. KẾT LUẬN 
 Trong thời gian 6 tháng ( từ 04 – 9/2016) bƣớc đầu triển khai kháng sinh dự phòng trong mổ 
lấy thai tại Khoa sản Bệnh viện ĐKKVAG cho những trƣờng hợp có chọn lọc, chúng tôi có một 
số nhận xét nhƣ sau: 
- Sử dụng KSDP trong mổ lấy thai cho thấy tình trạng hậu phẫu tốt, vết mổ lành tốt chiếm tỷ lệ 
cao, chỉ có 1 % nhiễm trùng đỏ da, không có các hình thái nhiễm khuẩn sau mổ khác. 
- Thời gian nằm viện ngắn, tiết kiệm chi phì điều trị cho bệnh nhân ( 770.000 đồng/ TH) 
Việc sử dụng KSDP bƣớc đầu cho thấy hiệu quả và an toàn trong điều trị, giảm vất vả cho điều 
dƣỡng khi phải tiêm nhiều lần, thời gian nằm viện ngắn, tiết kiệm đƣợc chi phí, cần đƣợc tiếp 
tục thực hiện tại đơn vị. 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 173 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ Y tế (2015), “Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh” ban hành kèm theo Quyết định số 
708/QĐ-BYT ngày 02/03/2015, trang 317-321. 
2. Vƣơng Thì Việt Hồng (2013), “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật 
lấy thai tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang” Luận văn dƣợc sỹ chuyên khoa cấp 1, Đại học 
Dƣợc Hà Nội. 
3. Nguyễn Ngọc Khuyên (2011), “Hiệu quả kháng sinh dự phòng cefotaxime so với KS 
điều trị trong phẩu thuật sản phụ khoa có chọn lọc” Kỷ yếu Hội nghị Khoa học bệnh viện An 
Giang, 10, 157-165. 
4. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2016), “ Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai”, Hội nghị giao 
ban công tác chỉ đạo tuyến sản nhi 32 tỉnh thành phía nam và sinh hoạt khoa học ngày 12 
tháng 8 năm 2016, trang 1-12. 
5. Trƣơng Ngọc Đan Thanh, Nguyễn Hữu Đức (2010), “Khảo sát việc sử dụng kháng sinh 
trong sanh mổ tại khoa sản bệnh viện Hùng Vƣơng”, Y học thành phố hồ chí minh, 14(1), 
329-352. 
6. THACH SON TRAN, MD, PhD (2000), “Risk Factors for Postcesarean Surgical Site 
Infection” Obstetrics & Gynecology, VOL. 95, NO. 3, pp: 367-371.4. 
7. Sara E. Cosgrove (2016), “Antibiotic Guidelines”, Treatment Recommendations 
 For Adult Inpatients, Jonhs Hopkins Medicine, pp:121-126. 
8. Smaill F, Hofmeyr GJ (2007), “Antibiotic prophylaxis for cesarean section (Review)”, 
The Cochrane Collaboration. Published by John Wiley & Sons, pp:1-61. 
9. Julie van Schalkwyk (2010), “Antibiotic Prophylaxis in Obstetric Procedures” SOGC 
Clinical Practice Guideline, 247, 879-885. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_khang_sinh_du_phong_trong_mo_lay_thai_tai.pdf