Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lnmtc ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng

bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH; Khảo sát một số yếu tố

ảnh hưởng tái phát đau sau điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 110 bệnh nhân

được chẩn đoán u LNMTC ở buồng trứng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi phối hợp với

liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH tại Khoa Phụ sản BVTW Huế từ tháng 6/2009 đến tháng

9/2011. Kết quả: Trước điều trị: Điểm đau trung bình của triệu chứng thống kinh là 49,6 ± 3,0.

Triệu chứng đau vùng chậu không theo kỳ kinh là 62,5 ± 2,9. Triệu chứng giao hợp sâu đau là

63,1 ± 4,2 và đại tiện đau là 47,9 ± 5,0. Sau 3 tháng điều trị với chất đồng vận GnRH số BN có

triệu chứng đau chỉ phân bố ở mức độ nhẹ và vừa. Sau 6 tháng điều trị 100% bệnh nhân không

còn triệu chứng đau. Các triệu chứng đau xuất hiện trở lại chỉ sau kết thúc điều trị 6 tháng và

đều ở mức độ nhẹ. Điểm đau trung bình của các triệu chứng sau kết thúc điều trị 12 tháng lần

lượt là: thống kinh 15,5 ± 1,7; đau vùng chậu 12,5 ± 3,9; giao hợp đau 17,0 ± 4,3; đại tiện đau

16,5 ± 1,5. Yếu tố đau vùng chậu không theo chu kỳ ảnh hưởng đến tỷ lệ tái phát đau sau điều

trị có ý nghĩa thống kê với OR = 1,13 (khoảng tin cậy ở 95%: 1,03 – 1,23, p=0,009); Triệu chứng

thống kinh không ảnh hưởng đến tái phát đau với OR = 1,03 (khoảng tin cậy ở 95%: 1,00 - 1,05,

p=0,08). Kết luận: Triệu chứng đau giảm rõ rệt từ tháng thứ 3 sau điều trị và sau 6 tháng tất cả

BN không còn triệu chứng đau. Bệnh nhân hài lòng với điều trị; Cường độ các triệu chứng đau

trước điều trị giảm đáng kể sau kết thúc điều trị 12 tháng; Đau vùng chậu không theo chu kỳ

trước điều trị là yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát đau sau điều trị.

pdf 10 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lnmtc ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lnmtc ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH

Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lnmtc ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH
Nguyễn Văn Tuấn/Lê Minh Toàn/Cao Ngọc Thành l 177
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU 
TRONG ĐIỀU TRỊ U LNMTC Ở BUỒNG TRỨNG 
BẰNG PHẪU THUẬT PHỐI HỢP VỚI LIỆU PHÁP 
HỖ TRỢ CHẤT ĐỒNG VẬN GnRH
Nguyễn Văn Tuấn *, Lê Minh Toàn **, Cao Ngọc Thành***
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng 
bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH; Khảo sát một số yếu tố 
ảnh hưởng tái phát đau sau điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 110 bệnh nhân 
được chẩn đoán u LNMTC ở buồng trứng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi phối hợp với 
liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận GnRH tại Khoa Phụ sản BVTW Huế từ tháng 6/2009 đến tháng 
9/2011. Kết quả: Trước điều trị: Điểm đau trung bình của triệu chứng thống kinh là 49,6 ± 3,0. 
Triệu chứng đau vùng chậu không theo kỳ kinh là 62,5 ± 2,9. Triệu chứng giao hợp sâu đau là 
63,1 ± 4,2 và đại tiện đau là 47,9 ± 5,0. Sau 3 tháng điều trị với chất đồng vận GnRH số BN có 
triệu chứng đau chỉ phân bố ở mức độ nhẹ và vừa. Sau 6 tháng điều trị 100% bệnh nhân không 
còn triệu chứng đau. Các triệu chứng đau xuất hiện trở lại chỉ sau kết thúc điều trị 6 tháng và 
đều ở mức độ nhẹ. Điểm đau trung bình của các triệu chứng sau kết thúc điều trị 12 tháng lần 
lượt là: thống kinh 15,5 ± 1,7; đau vùng chậu 12,5 ± 3,9; giao hợp đau 17,0 ± 4,3; đại tiện đau 
16,5 ± 1,5. Yếu tố đau vùng chậu không theo chu kỳ ảnh hưởng đến tỷ lệ tái phát đau sau điều 
trị có ý nghĩa thống kê với OR = 1,13 (khoảng tin cậy ở 95%: 1,03 – 1,23, p=0,009); Triệu chứng 
thống kinh không ảnh hưởng đến tái phát đau với OR = 1,03 (khoảng tin cậy ở 95%: 1,00 - 1,05, 
p=0,08). Kết luận: Triệu chứng đau giảm rõ rệt từ tháng thứ 3 sau điều trị và sau 6 tháng tất cả 
BN không còn triệu chứng đau. Bệnh nhân hài lòng với điều trị; Cường độ các triệu chứng đau 
trước điều trị giảm đáng kể sau kết thúc điều trị 12 tháng; Đau vùng chậu không theo chu kỳ 
trước điều trị là yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát đau sau điều trị.
Abstract
Evaluate the effectiveness of pain decrease in the surgical treatment of ovarian 
endometrial tumors in combination with the therapy of GnRH agonist support
Objective: To evaluate the effectiveness of pain decrease in the surgical treatment of ovarian 
endometrial tumors in combination with the therapy of GnRH agonist support; To investigate a 
number of factors affecting post treatment pain recurrence. Methods: 110 patients with ovarian 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 177-186, 2012
178 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
endometrial tumors were treated with laparoscopic surgery in combination with the therapy 
of GnRH agonist support in the Department of Obstetrics in Hue Central Hospital from June 
2009 to Septembre 2011. Results: Pre-treatment: The average pain score of dysmenorrhea was 
49.6 ± 3.0. Pelvic pain was 62.5 ± 2.9. Deep intercourse painful symptoms was 63.1 ± 4.2 and 
defecation pain was 47.9 ± 5.0. After the 3-month treatment with GnRH agonist, symptoms 
were mild and moderate. After 6-month treatment, pain disapeared in 100% patients. After the 
six months from the end of treatment, the symptoms reappeared and all was at mild level. The 
average pain score of the symptoms after 12 months from the end of treatment respectively: 15.5 
± 1.7 dysmenorrhoea; 12.5 ± 3.9 pelvic pain; dyspareunia 17.0 ± 4.3 ; 16.5 ± 1.5 defecation pain. 
Periodic pelvic pain syntoms affected recurrence rate of pain after treatment with statistical 
significance of OR = 1.13 (confidence interval: 95%: 1.03 - 1.23, p = 0.009 ); Dysmenorrhea didn’t 
have affect on the recurrence pain with OR = 1.03 (confidence interval: 95%: 1.00 - 1.05, p = 
0.08). Conclusions: Symptoms of pain reduced remarkably from the third month after the 
treatment and after six month there is no syntoms of pain in all patients. Patients satisfied with 
the treatment; The intensity of pain symptoms decreased significantly after 12 months from 
the end of the treatment, Pre-treatment unperiodic pelvic pain was the factor affecting the risk 
of recurrent pain after treatment.
*: Trường Cao đẳng Y tế Huế; **: Bệnh viện Trung ương Huế;***: Trường Đại học Y Dược Huế
Đặt vấn đề
Lạc nội mạc tử cung (LNMTC ) là bệnh 
lý phụ thuộc hormon sinh sản. Bệnh thường 
gặp ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Chiếm tỷ lệ 
6-10% phụ nữ nhập viện với các tổn thương 
phát triển gây ra các biến chứng như đau 
vùng chậu, giảm khả năng sinh sản [1]. 
LNMTC có tác động không tốt đến chất 
lượng sống. Chất lượng sống giảm không 
chỉ do các triệu chứng đau vùng chậu và 
hiếm muộn mà còn do tác động của nhiều 
biện pháp điều trị. Có một sự tương quan 
nghịch giữa thời gian điều trị và chất lượng 
sống [2]. Ở các bệnh nhân LNMTC, đánh giá 
hiệu quả điều trị hầu hết dựa vào việc đánh 
giá triệu chứng đau, tái phát u LNMTC và 
tình trạng hiếm muộn. Chăm sóc đúng đắn 
và điều trị hiệu quả cũng như phòng ngừa 
tái phát triệu chứng đau có thể có một tác 
động tích cực đến chất lượng sống [3]. Đề 
tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu 
quả giảm đau trong điều trị u lạc nội mạc 
tử cung ở buồng trứng bằng phẫu thuật 
phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất đồng vận 
GnRH và khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng 
tái phát đau sau điều trị.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
110 bệnh nhân được chẩn đoán u LNMTC 
ở buồng trứng được điều trị bằng phẫu thuật 
nội soi phối hợp với liệu pháp hỗ trợ chất 
đồng vận GnRH tại Khoa Phụ sản BVTW 
Huế từ tháng 6/2009 đến tháng 9/2011.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp lâm sàng và theo 
dõi dọc
Tiêu chuẩn chọn
BN độ tuổi sinh đẻ; kết quả giải phẫu 
bệnh là u LNMTC ở buồng trứng; được điều 
trị hỗ trợ sau phẫu thuật nội soi với chất 
đồng vận GnRH (goserelin) tổng 06 liều; 
Đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ
BN có tiền sử phẫu thuật vùng chậu về 
bệnh lý phụ khoa khác; có tiền sử điều trị 
LNMTC bằng phẫu thuật hoặc nội khoa; 
chống chỉ định điều trị chất đồng vận GnRH; 
Bệnh lý nội khoa: tiểu đường, cao huyết 
áp, tim mạch, gan, thận, nội tiết; BN có các 
bệnh lý khác có thể gây vô sinh.
Các bước tiến hành
− Bệnh nhân được hỏi tiền sử, bệnh sử, 
Nguyễn Văn Tuấn/Lê Minh Toàn/Cao Ngọc Thành l 179
khám lâm sàng và làm xét nghiện cận lâm 
sàng.
− Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi 
chẩn đoán và phân giai đoạn theo phân loại 
của Hội Y Học Sinh Sản Hoa Kỳ (AFSs).
− Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân được 
điều trị phối hợp với Zoladex 3,6mg, mỗi 
28 ngày/liều trong 6 tháng liên tục sau 
phẫu thuật.
− Theo dõi và đánh giá sau điều trị: 6 
tháng và 12 tháng sau khi kết thúc điều trị 
nội khoa, chúng tôi ghi nhận: Sự thay đổi 
của các triệu chứng thống kinh, đau vùng 
chậu không theo kỳ kinh, giao hợp đau, đại 
tiện đau theo thước đo cảm giác đau so với 
trước điều trị.
Phương tiện đánh giá 
Cường độ triệu chứng đau: 
- Thống kinh
- Đau vùng chậu không theo chu kỳ kinh
- Giao hợp đau
- Đại tiện khó.
Cường độ triệu chứng đau được đánh giá 
theo thước đo cảm giác đau và được phân 
chia mức độ theo Vercellini và cộng sự [4]:
- Đau nhẹ: 1-50 điểm
- Đau vừa 51-80 điểm
- Đau nhiều: 81-100 điểm.
Mức độ dính: Phân chia mức độ dính của u 
LNMTC ở buồng trứng theo Li và cs [5]:
- Dính nhẹ: dính một lớp mỏng, không có 
mạch máu, dễ dàng bóc tách.
- Dính mức độ trung bình: ít hơn một 
nửa buồng trứng dính với các cơ quan kế 
cận và khó bóc tách hay trên một nửa buồng 
trứng dính nhẹ vào các cơ quan kế cận.
- Dính mức độ nặng: trên một nửa buồng 
trứng bị dính vào các cơ quan kế cận, có 
nhiều mạch máu, khó bóc tách.
Xử lý và phân tích số liệu: bằng phần 
mềm SPSS 19.0.
Kết quả nghiên cứu
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình 33,1 ± 0,6
Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng n %
Thống kinh 73/110 66,4
Đau vùng chậu 56/110 50,9
Đại tiện đau 26/110 23,6
Giao hợp đau 34/110 30,9
Rong huyết 73/110 66,4
Khối u phần phụ một bên 20/110 18,2
Khối u phần phụ rõ hai bên 9/110 8,2
Tử cung dính 81/110 73,6
Phân độ AFS
II 14 12,7
III 54 49,1
IV 42 38,2
Độ tuổi trung bình 33,1 ± 0,6 tuổi. Thống kinh là triệu chứng cơ năng chiếm tỷ lệ cao nhất 
66,4%. Bệnh nhân giai đoạn III và IV chiếm tỷ lệ cao.
180 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Phân bố đối tượng theo cường độ triệu chứng đau
Bảng 2. Cường độ triệu chứng đau trước điều trị
Cường độ
Triệu chứng
Nhẹ Vừa Nặng
n % n % n %
Thống kinh
36 32,7 26 23,6 11 10,1
X + SE: 49,6 ± 3,0
Đau vùng chậu
16 14,5 26 23,6 14 12,7
X + SE: 62,5 ± 2,9
Giao hợp đau
11 10,0 11 10,0 12 10,9
X + SE: 63,1 ± 4,2
Đại tiện đau
16 14,5 7 6,4 3 2,7
X + SE: 47,9 ± 5,0
Triệu chứng thống kinh: số BN có cường 
độ đau mức độ nhẹ là 36 trường hợp, mức 
độ vừa là 26 trường hợp, mức độ nặng là 
11 trường hợp. Triệu chứng đau vùng chậu 
không theo kỳ kinh: cường độ đau mức độ 
nhẹ, vừa, nặng lần lượt là 16, 26 và 14 BN. 
Triệu chứng giao hợp sau đau: 11 BN đau 
mức độ nhẹ, 11 BN đau mức độ vừa, 12 BN 
đau mức độ nặng. Triệu chứng đại tiện đau: 
16 BN đau mức độ nhẹ, 7 BN đau mức độ vừa 
và 3 BN đau mức độ nặng.
Bảng 3. Liên quan triệu chứng đau trước điều trị và mức độ dính 
Triệu chứng đau
Không dính, dính nhẹ Dính vừa, dính nhiều
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Thống kinh (n=73) 22 30,1 51 69,9
Đau vùng chậu (n=56) 10 17,9 46 82,1
Giao hợp đau (n=34) 7 20,6 27 79,4
Đại tiện đau (n=36) 12 46,2 14 53,8
p <0,05
Kiểm định c2 cho thấy tỷ lệ các triệu chứng đau ở mức độ dính vừa và dính nhiều cao hơn 
ở mức độ không dính và dính ít có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Thay đổi triệu chứng đau vùng chậu trước và trong thời gian điều trị Zoladex
Biểu đồ 1. Thay đổi triệu chứng đau vùng chậu trước và trong thời gian điều trị Zoladex
Nguyễn Văn Tuấn/Lê Minh Toàn/Cao Ngọc Thành l 181
Có 56 BN có triệu chứng đau vùng chậu 
trước điều trị phân bố ở mức độ nhẹ, vừa và 
nặng lần lượt là 16, 26 và 14 BN.
Sau 3 tháng điều trị số BN có triệu 
chứng đau chỉ phân bố ở mức độ nhẹ và 
vừa không có BN nào đau vùng chậu ở 
mức độ nặng.
 Sau 6 tháng điều trị không còn BN có 
cường độ triệu chứng đau vùng chậu.
Thay đổi triệu chứng giao hợp đau trước 
và trong thời gian điều trị Zoladex
Biểu đồ 2. Thay đổi triệu chứng giao 
hợp đau trước và trong thời gian điều trị 
Zoladex
Sau 3 tháng điều trị không có trường hợp 
nào giao hợp đau ở mức độ trung bình và 
nặng.
Sau 6 tháng điều trị triệu chứng giao hợp 
đau đều kết thúc.
Thay đổi triệu chứng đại tiện đau trước 
và trong thời gian điều trị Zoladex
Biểu đồ 3. Thay đổi triệu chứng đại 
tiện đau trước và trong thời gian điều trị 
Zoladex
Sau 3 tháng điều trị không có trường hợp 
nào đại tiện đau ở mức độ trung bình và 
nặng.
Sau 6 tháng điều trị triệu chứng đại tiện 
đau đều kết thúc.
Triệu chứng đau trước và sau kết thúc 
điều trị 12 tháng
36
27
10
5
0 0
11
0 0
16
26
14
4
8
11 12
11
4
6
16
7
3
2
2
Nhẹ TB Nặng Nhẹ TB Nặng Nhẹ TB Nặng
Trước điều trị Sau kết thúc điều trị 6 tháng Sau kết thúc điều trị 12 tháng
Đại tiện đau
Giao hợp đau
Đau vùng chậu
Thống kinh
Biểu đồ 4. Triệu chứng đau trước và sau 
kết thúc điều trị 12 tháng
 Sau kết thúc điều trị 12 tháng một số BN có xuất hiện triệu chứng đau trở lại, tuy nhiên 
tất cả đều ở mức độ nhẹ.
Thay đổi triệu chứng cơ năng theo thước đo cảm giác đau sau kết thúc điều trị 12 tháng
Bảng 4. Cường độ triệu chứng đau trước và sau kết thúc điều trị 12 tháng
Thời điểm
Triệu chứng
Trước 
điều trị
Sau kết thúc 
điều trị
6 tháng
Sau kết thúc 
điều trị 
12 tháng p
Thống kinh 49,6 ± 3,0 11,2 ± 1,8 15,5 ± 1,7
<0,001
Đau vùng chậu 62,5 ± 2,9 12,3 ± 2,3 12,5 ± 3,9
Giao hợp đau 63,1 ± 4,2 10,5 ± 2,3 17,0 ± 4,3
Đại tiện đau 47,9 ± 5,0 13,5 ± 0,5 16,5 ± 1,5
Sử dụng kiểm định t-test cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa cường độ các 
triệu chứng như thống kinh, đau vùng chậu, giao hợp đau, đại tiện đau trước và sau kết thúc 
điều trị 6 tháng, 12 tháng với p < 0,001.
182 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bảng 5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái phát đau
Các yếu tố liên quan 
đến sự tái phát đau
Không tái phát 
(n=85)
Tái phát
(n=25)
p
Tuổi 33,4 ± 0,7 32,1 ± 1,2 >0,05a
Phân độ AFS (II,III-IV) 39,7 ± 1,8 41,5 ± 4,3 >0,05a
Triệu chứng đau trước 
điều trị (n=101)
n (
76 (89,4%) 25 (100%) >0,05b
Thống kinh (n=73) 62 (48,1 ± 3,3) 11 (64,6 ± 6,7) 0,05a
Đau vùng chậu không 
theo chu kỳ (n=56)
48 (57,3 ± 2,8) 8 (93,5 ± 1,9) 0,001a
Giao hợp đau (n=34) 28 (62,5 ± 4,6) 6 (66,0 ± 11,1) >0,05a
Đại tiện đau (n=26) 24 (46,2 ± 5,3) 2 (68,5 ± 13,5) >0,05a
Mức độ dính trước 
điều trị
n (%) 77 (90,6%) 22 (88,0%) >0,05b
a: kiểm định t-test, b: kiểm định c2
Sử dụng kiểm định c2 và t-test để kiểm tra sự khác biệt của các yếu tố ảnh hưởng giữa 
nhóm tái phát và không tái phát đau sau điều trị. Các yếu tố tuổi, phân độ AFS (độ: II/III, 
IV), mức độ dính cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tái phát và 
không tái phát đau.
Bảng 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái phát đau sau kết thúc điều trị 12 tháng
Các yếu tố liên quan đến sự tái 
phát đau
p OR hiệu chỉnh 95% khoảng tin cậy
Thống kinh 0,08 1,03 1,00 - 1,05
Đau vùng chậu 
không theo chu kỳ
0,009 1,13 1,03 – 1,23
Sau phân tích hồi quy đa biến sử dụng 
mô hình Cox, chúng tôi nhận thấy chỉ có yếu 
tố đau vùng chậu không theo chu kỳ ảnh 
hưởng đến tỷ lệ tái phát đau sau điều trị có 
ý nghĩa thống kê với OR = 1,13 (khoảng tin 
cậy ở 95%: 1,03 – 1,23, p=0,009); Triệu chứng 
thống kinh không ảnh hưởng đến tái phát 
đau với OR = 1,03 (khoảng tin cậy ở 95%: 
1,00 - 1,05, p=0,08). 
Bàn luận
Các triệu chứng hay gặp của LNMTC là 
thống kinh, đau vùng chậu mãn tính, giao 
hợp đau, đại tiện đau và vô sinh.
Đa số BN trong nghiên cứu của chúng tôi 
có triệu chứng thống kinh. Triệu chứng thống 
kinh chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,4%, tiếp đến 
là đau vùng chậu không theo chu kỳ kinh là 
50,9%, có 34 BN có triệu chứng giao hợp đau 
chiếm 30,9%, 26 BN đại tiện đau với tỷ lệ 23,6% 
(Bảng 1). Kết quả này phù hợp với biểu hiện 
lâm sàng bình thường của bệnh lý LNMTC. 
Theo tác giả Ferrero và cs, các triệu chứng hay 
gặp của LNMTC thể hiện như: thống kinh, 
đau vùng chậu, giao hợp đau, đại tiện đau [6]. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 
phù hợp với nghiên cứu của Mahmood và 
cs. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy 
tỷ lệ thống kinh là 68,1%, tiếp đến là đau 
vùng chậu không theo chu kỳ kinh chiếm tỷ 
Nguyễn Văn Tuấn/Lê Minh Toàn/Cao Ngọc Thành l 183
lệ 58,7% và 37,3% số BN có triệu chứng giao 
hợp đau [7].
Leng và cs (2007) cho thấy sau triệu chứng 
thống kinh chiếm tỷ lệ cao nhất 76,9%, triệu 
chứng đại tiện đau chiếm tỷ lệ 51,5% [8].
Chúng tôi có nhận xét rằng, tính điển 
hình của triệu chứng đối với bệnh LNMTC 
thì triệu chứng cơ năng có tính điển hình 
hơn triệu chứng thực thể. Khoảng tần suất 
các triệu chứng cơ năng như thống kinh, đau 
vùng chậu, giao hợp đau... đã được chấp 
nhận trong lúc đó thì tần suất triệu chứng 
thực thể giữa các nghiên cứu vẫn chưa được 
thống nhất với nhau.
Liên quan giữa triệu chứng đau trước 
điều trị với mức độ dính
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tần 
suất triệu chứng thống kinh, đau vùng chậu 
không theo chu kỳ, giao hợp đau và đại tiện 
đau trong nhóm dính mức độ trung bình/
nặng cao hơn so với nhóm không dính/
dính nhẹ
Có 22 trường hợp có mức độ không dính 
và dính nhẹ chiếm tỷ lệ 30,1% trong khi có 
đến 51 BN dính vừa và dính nhiều chiếm tỷ 
lệ 69,9% đối với triệu chứng thống kinh. Sự 
khác biệt này còn thể hiện rõ đối với triệu 
chứng đau vùng chậu không theo chu kỳ với 
tỷ lệ 82,1% dính vừa, dính nhiều so với 17,9% 
không dính và dính ít. Triệu chứng giao hợp 
đau và đại tiện đau chiếm tỷ lệ cao ở mức 
độ dính vừa, dính nhiều lần lượt là 79,4% , 
53,8% so với mức độ không dính, dính ít lần 
lượt là 20,6% và 46,2% (Bảng 3).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 
phù hợp với nghiên cứu của Li và cs (2009), 
ở 662 BN LNMTC ở buồng trứng được phẫu 
thuật tại Bệnh viện Trường Đại học Y Peking 
Union từ 01/2003 - 05/2008. Kết quả cho thấy 
tỷ lệ thống kinh, giao hợp đau, cảm giác khó 
chịu ở vùng hậu môn, đau vùng chậu mãn 
tính ở nhóm BN có dính mức độ trung bình/
nặng cao hơn một cách đáng kể so với các 
BN không dính/dính nhẹ (p=0,000; 0,000; 
0,001; 0,006). Các tác giả kết luận rằng mức 
độ dính càng nhiều thì đau càng nhiều [5]. 
Theo Olive (2008), cùng với hiệu quả 
giảm triệu chứng đau của chất đồng vận 
GnRH, tác dụng phụ luôn được cân nhắc 
dưới ảnh hưởng bởi nồng độ estrogen giảm 
đến mức 15pg/ml trong suốt thời gian điều 
trị [9]. Một nghiên cứu lâm sàng so sánh hiệu 
quả và độ an toàn của medroxyprogesterone 
acetate với chất đồng vận GnRH cho triệu 
chứng đau của bệnh LNMTC sau 3 tháng 
điều trị đã kết luận: có hiệu quả làm cải 
thiện đáng kể triệu chứng đau, chất lượng 
sống trong bệnh LNMTC đối với cả hai 
nhóm tại thời điểm theo dõi 6 tháng và 18 
tháng. Tuy nhiên, những bất lợi do tác dụng 
phụ gây ra ảnh hưởng đến sự không hài 
lòng BN chiếm tỷ lệ 3,9% BN trong nhóm 
medroxyprogesterone acetate và 2,1% BN 
trong nhóm chất đồng vận GnRH [10]. Dựa 
trên các nghiên cứu ngẫu nhiên, so sánh 
hiệu quả của Danazol với chất đồng vận 
GnRH, các tác giả Cheng và cs đã đưa ra 
lời đề nghị chất đồng vận GnRH được lựa 
chọn sử dụng trong điều trị giảm trị chứng 
đau trong bệnh LNMTC [11].
Điều trị ngoại khoa cũng được chỉ định 
khi triệu chứng đau trầm trọng hoặc cấp tính, 
điều trị nội khoa thất bại (không giảm đau) 
và bệnh có những dấu hiệu đang tiến triển 
nhiều [12]. Nhằm đánh giá hiệu quả của phẫu 
thuật đến triệu chứng đau trong LNMTC, 
các tác giả đã tiến hành một thử nghiệm lâm 
sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng với 74 BN 
LNMTC độ I, II và độ III đã được phân ngẫu 
nhiên thành hai nhóm. Nhóm I được đốt các 
tổn thương LNMTC, gỡ dính và cắt dây thần 
kinh tử cung - cùng qua nội soi. Nhóm II 
được nội soi chẩn đoán đơn thuần. Có 63 BN 
hoàn tất quá trình theo dõi 06 tháng, có một 
sự cải thiện đáng kể triệu chứng đau ở 62,5% 
BN nhóm I và 22,6% BN nhóm II. Theo dõi 
những BN có giảm triệu chứng đau ở thời 
điểm 6 tháng sau phẫu thuật bảo tồn, các tác 
giả phát hiện rằng 90% trường hợp tiếp tục 
có giảm đau sau 12 tháng [13]. Ferrero và cs 
184 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
(2007) đã nghiên cứu khảo sát hiệu quả của 
phẫu thuật nội soi điều trị trên 68 phụ nữ bị 
LNMTC mức độ nặng có triệu chứng giao 
hợp đau và chất lượng sống tình dục giảm. 
Tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng sau phẫu 
thuật nội soi cắt bỏ tổn thương thì triệu chứng 
giao hợp đau giảm và chất lượng sống tình 
dục được cải thiện. Kết quả này cũng tương 
tự kết quả của Trần Đình Vinh và nghiên cứu 
của Abott IA (2003) [14], [15], [16].
Trong nghiên cứu chúng tôi, có sự cải 
thiện rõ rệt về triệu chứng đau sau điều trị 
phối hợp chất đồng vận GnRH sau phẫu 
thuật với thời gian theo dõi 12 tháng (Bảng 
4; Biểu đồ 4). 
Chúng tôi có nhận xét rằng, trong điều 
trị giảm đau, chưa có bằng chứng có giá 
trị cao thuyết phục cho thấy loại thuốc 
nào hơn thuốc nào, chưa có bằng chứng 
có giá trị cao cho thấy điều trị nội khoa 
hay ngoại khoa có ảnh hưởng đến tương 
lai sinh sản. 
Biểu hiện lâm sàng của LNMTC gồm 
3 hội chứng chính: đau vùng chậu, khối u 
của LNMTC ở vùng chậu và vô sinh. Tiến 
triển của bệnh phụ thuộc hormon và ngày 
càng ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống. 
Điều trị nội khoa được lựa chọn trong điều 
trị đau thì ngoại khoa được lựa chọn trong 
điều trị vô sinh nhưng không thể dễ dàng 
để chọn lựa một phương pháp điều trị cho 
tất cả BN LNMTC mà quyết định điều trị 
phải dựa trên mức độ đau, vị trí tổn thương, 
mong muốn có con, tuổi và tác dụng phụ 
của cách điều trị [17], [18]. Điều trị nội khoa 
hoặc ngoại khoa đơn thuần hay phối hợp 
điều trị nội ngoại khoa cũng cần có nhiều 
nghiên cứu hơn để góp phần giải quyết triệt 
để hơn những hội chứng chính của bệnh và 
đem lại chất lượng sống cao nhất có thể cho 
BN LNMTC.
Triệu chứng tái phát đau sau điều trị là 
một trong 3 dấu hiệu được xem là căn cứ 
để đánh giá hiệu quả của điều trị LNMTC. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi gồm 
101/110 bệnh nhân có triệu chứng đau trước 
điều trị và các triệu chứng này biến mất 
sau khi kết thúc điều trị có phối hợp sau 
phẫu thuật với Zoladex 6 liều. Tuy nhiên, 
triệu chứng đau xuất hiện trở lại với mức 
độ nhẹ tại thời điểm ít nhất 6 tháng trong 
quá trình theo dõi sau điều trị 12 tháng. Kết 
quả này cho thấy hiệu quả của sự điều trị 
phối hợp đã kéo dài thời gian tái phát đau 
trở lại tốt hơn so với nghiên cứu của Coccia 
và cs (2011) có thời gian tái phát đau sau 
điều trị đơn thuần bằng phẫu thuật chỉ sau 
3 tháng theo dõi [19]. Để tìm ra các yếu tố 
ảnh hưởng đến tái phát đau sau điều trị, 
chúng tôi đã khảo sát các yếu tố trước và 
sau điều trị như: tuổi chỉ định phẫu thuật 
điều trị có phối hợp GnRH, triệu chứng 
đau trước điều trị, triệu chứng thống kinh, 
triệu chứng đau vùng chậu không theo chu 
kỳ, triệu chứng giao hợp đau, triệu chứng 
đại tiện đau, mức độ bệnh, mức độ dính, có 
thai sau điều trị. Các yếu tố này được phân 
tích bởi mô hình Cox đa biến để tìm mối 
nguy cơ tái phát đau theo tỷ lệ. Kết quả cho 
thấy rằng, nguy cơ tái phát đau cao gặp ở 
những bệnh nhân có đau vùng chậu không 
theo chu kỳ và thống kinh trước điều trị 
(Bảng 5 và Bảng 6).
Đau vùng chậu không theo chu kỳ trước 
điều trị là yếu tố nguy cơ đáng kể cho sự 
tái phát đau sau điều trị. Một nghiên cứu 
trước đây đã cho thấy, trong số 58 bệnh 
nhân LNMTC có triệu chứng đau vùng 
chậu trước điều trị thì có 48 bệnh nhân 
(83%) qua phẫu thuật điều trị đã sinh thiết 
tổn thương chẩn đoán là LNMTC đang ở 
giai đoạn hoạt động [20], [21]. Có thể giải thích 
hợp lý cho sự xuất hiện triệu chứng đau 
sau điều trị là có thể do sự phát triển trở 
lại của các tổn thương vi thể còn sót lại sau 
khi ngừng điều trị. Theo Coccia và cs (2011) 
thì triệu chứng đau trước điều trị cũng là 
một trong số các yếu tố ảnh hưởng đến tái 
phát đau sau điều trị LNMTC bằng phẫu 
thuật [19].
Nguyễn Văn Tuấn/Lê Minh Toàn/Cao Ngọc Thành l 185
Kết luận
Triệu chứng đau giảm rõ rệt từ tháng thứ 
3 sau điều trị và sau 6 tháng tất cả BN không 
còn triệu chứng đau. Bệnh nhân hài lòng với 
điều trị. 
Cường độ các triệu chứng đau trước 
điều trị giảm đáng kể sau kết thúc điều trị 
12 tháng.
Đau vùng chậu không theo chu kỳ trước 
điều trị là yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tái 
phát đau sau điều trị.
1. Paolo V., Luigi F., Giorgio A. (2006), 
“Reproductive performance, pain 
recurrence and disease relapse after 
conservative surgical treatment for 
endometriosis: the predictive value of the 
current classification system”, Human 
Reproduction, 21(10):2679–2685.
2. Rodrigo D. P., Vivian F. D. (2009), 
“Depressive symptoms, anxiety, and 
quality of life in women with pelvic 
endometriosis”, European Journal 
of Obstetrics & Gynecology and 
Reproductive Biology, 142:53–56.
3. Damario L., Rock J. A. (1995), “Pain 
recurrence: a quality of life issue in 
endometriosis”, International Journal of 
Gynecology & Obstetrics, 1:27-42.
4. Vercellini P., Fedele L., Aimi G. (2007), 
“Association between endometriosis 
stage, lesion type, patient characteristics 
and severity of pelvic pain symptoms: 
a multivariate analysis of over 1000 
patients”, Human Reproduction, 
22(1):266–271. 
5. Li X., Leng J., Lang J., et al (2009), Study 
on incidence and associated factors 
of different degree endometrioma 
adhesions, Obstetrics and Gynecology, 
44(5), pp.328-32.
6. Ferrero S., Remorgida V., Venturini P. L. 
(2009), Endometriosis, Clinical Evidence, 
8, pp.802.
7. Mahmood T., Templeton A. (1991), 
Menstrual symptoms in women with 
pelvic endometriosis, British Journal of 
Obstetrics and Gynaecology, 98, pp.558-563.
8. Leng J., Lang J., Dai Y., et al (2007), 
Relationship between pain symptoms 
and clinico-pathological features of 
pelvic endometriosis, Obstetrics and 
Gynecology, 42(3), pp.165-168.
9. Olive L. D. (2008), Gonadotropin 
Releasing Hormone Agonists for 
Endometriosis, N Engl J Med, 359, 
pp.1136-1142.
10. Crosignani P. G., Luciano A., Ray 
A., et al (2006), Subcutaneous depot 
medroxyprogesterone acetate versus 
leuprolide acetate in the treatment of 
endometriosis-associated pain, Human 
Reproduction, 21(1), pp.248-256.
11. Cheng M. H., Yu B. K., Chang S. P., 
et al (2005), A Randomized, Parallel, 
Comparative Study of the Efficacy and 
Safety of Nafarelin Versus Danazol in the 
Treatment of Endometriosis in Taiwan, J 
Chin Med Assoc, 68(7), pp. 307-314.
12. Trần Thị Lợi (2010), “Điều trị đau trong 
lạc nội mạc tử cung”, Hội nghị khoa học 
thường niên HORSREM lần VI.
13. Barton S. P., Ballard K. (2006), 
Endometriosis: A general review 
and rationale for surgical therapy, 
Gynaecological and Perinatal Practice, 6, 
pp.168-176.
14. Trần Đình Vinh (2010), “Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của 
siêu âm doppler màu trong chẩn đoán và 
theo dõi kết quả u lạc nội mạc tử cung”, 
Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại Học Y 
Dược Huế.
15. Abbott J. A., Hawe J., Clayton R. D., et 
al (2003), The effects and effectiveness of 
laparoscopic excision of endometriosis: a 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
186 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
prospective study with 2±5 year follow-
up, Human Reproduction, 18(9), pp.1922-
1927.
16. Ferrero S., Abbamonte L. H., Giordano 
M., et al (2007), Deep dyspareunia and 
sex life after laparoscopic excision of 
endometriosis, Human Reproduction, 
22(4), pp.1142-1148.
17. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2010), “Tổng 
quan điều trị lạc nội mạc tử cung và vô 
sinh”, Hội nghị khoa học thường niên 
HORSREM lần VI.
18. Coccia M. E., Rizzello F., Palagiano 
A., et al (2011), Long-term follow-
up after laparoscopy treatment for 
endometriosis: multivariate analysis 
of predictive factors for recurrence 
of endometriosis lesions and pain, 
Obstetrics and Gynecology, 157, pp.78-83.
19. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2011), “Tổng quan về 
lạc nội mạc tử cung hoạt động và không 
hoạt động”, Hội nghị Sản phụ khoa Việt - 
Pháp - Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 
XI, Thành phố Hồ Chí Minh.
20. Chung M. (2002), The evil twins 
of chronic pelvic pain syndrome: 
endometriosis and interstitial cystitis, J 
Pain, 6, pp.311-314.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_giam_dau_trong_dieu_tri_u_lnmtc_o_buong_tr.pdf