Đánh giá hiệu quả điều trị vẹo cột sống vô căn bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chenneau

Mục tiêu: Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị của áo nẹp nắn chỉnh BostonChenneau trên các trường hợp vẹo cột sống vô căn. Khảo sát các yếu tố liên quan đến

kết quả điều trị.

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng không đối chứng trên 126 trường hợp

vẹo cột sống vô căn nguyên phát điều trị bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chêneau từ

01/03/2006 đến 01/09/2016 tại bệnh viện Phục hồi Chức năng – Điều trị bệnh nghề

nghiệp (PHCN-ĐTBNN).

pdf 10 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả điều trị vẹo cột sống vô căn bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chenneau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả điều trị vẹo cột sống vô căn bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chenneau

Đánh giá hiệu quả điều trị vẹo cột sống vô căn bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chenneau
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
20
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN 
BẰNG ÁO NẸP NẮN CHỈNH BOSTON – CHÊNEAU
Đinh Quang Thanh1, Lê Thị Hạ Quyên1, Lê Thành Thật1, 
Đinh Thị Lan1, Cao Hoàng Thái1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị của áo nẹp nắn chỉnh Boston- 
Chenneau trên các trường hợp vẹo cột sống vô căn. Khảo sát các yếu tố liên quan đến 
kết quả điều trị. 
Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng không đối chứng trên 126 trường hợp 
vẹo cột sống vô căn nguyên phát điều trị bằng áo nẹp nắn chỉnh Boston-Chêneau từ 
01/03/2006 đến 01/09/2016 tại bệnh viện Phục hồi Chức năng – Điều trị bệnh nghề 
nghiệp (PHCN-ĐTBNN). 
Kết quả: Nghiên cứu trên 126 bệnh nhi: 108 nữ (85,7%), tuổi trung bình 14,86, 
độ Risser trung bình lúc bắt đầu điều trị 2,52, góc COBB trung bình lúc bắt đầu điều trị 
30,9, Bending test dương tính. Đa số trường hợp mới phát hiện bị vẹo cột sống (53,2%). 
Thời gian thích nghi để mặc áo nẹp là 2 tuần (65,1%). Đa số bệnh nhi mặc được trên 20 
giờ/ngày (72,2%). 93,7% có triệu chứng đau khi mặc áo nẹp, 9,5% bị phồng da, 13,5% 
bị nhiễm trùng da, 14,3% bị giới hạn tầm độ khớp (ROM). Thời gian điều trị trung bình 
là 4 năm. Tuổi đạt được Risser độ 5 là 18,53. Kết quả điều trị tiến bộ và cải thiện 78,6%, 
đạt (78,6%). Bệnh nhi mặc áo nẹp trên 20 giờ/ ngày có mức tiến bộ ĐẠT chiếm tỷ lệ 
100% (p<0,001). Không có mối liên quan giữa mức tiến bộ và giới tính, độ Risser, góc 
COBB, tuổi bắt đầu điều trị và tuổi bắt đầu có kinh. 
Kết luận: Kết quả điều trị liên quan rõ rệt đến thời gian mặc áo nẹp trong ngày 
của bệnh nhi. Bệnh nhi mặc trên 20 giờ/ ngày kết quả ĐẠT 100%.
Từ khóa: Vẹo cột sống vô căn nguyên phát, áo nẹp nắn chỉnh Boston - Chêneau
1 Bệnh viện Phục hôi Chức năng
Người phản hồi (Corresponding): Đinh Quang Thanh ([email protected])
Ngày nhận bài: 2/5/2020, ngày phản biện: 6/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
21
ASSESS EFFECTIVE TREATMENT OF IDIOPATHIC SCOLIOSIS BY 
BRACE FOR CORRECTION BOSTON – CHÊNEAU
ABSTRACT
Objective: Assess effective treatment of idiopathic scoliosis by corset for 
correction Boston – Chêneau. Survey related factors to treated results. Methods: Clinical 
trials. Performed on 126 cases idiopathic scoliosis treated by brace for correction Boston 
Chêneau from 01 Mars 2006 to 01 September 2016 in Hospital for Rehabilitation and 
Professional diseases. Results: There were 126 cases including:108 females(85,7%),18 
males (14,3%) with the mean age of 14,86, mean Risser grade at beginning treatment 
2,52, mean Cobb degree at beginning treatment 30,9, positive Bending test, menarche age 
most common 11. The majority of scoliosis are new detected (53,2%). Adapted time to 
wearing the brace is 2 weeks (65,1%). Majority of cases wore the braces over 20 hours a 
day (72,2%). 93,7% cases had pain when wearing the braces. 85,7% cases had shortness 
of breath, 9,5% had blisters on the skin, 13,5% had skin infection, 14,3% had ROM 
limitation. The average duration of treatment is 4 years. The achieved age to have Riser 5 
grade is 18,53. Treatment outcomes: improvement and ameliorate 78,6%. Achieved result 
78,6%. In group had achieved result, the rotation also be corrected(96%). In group who 
wore the braces over 20 hours a day, had achieved results 100% (p< 0,001). There was 
no relationship between achieved results and gender, Riser grade, Cobb angle, age of 
beginning treatment and menarche age. Conclusions: There is a clear correlation between 
treated results and time that scoliosis patients wore the braces a day. Scoliosis patients 
wore the braces over 20 hours a day had achieved results 100%.
Keywords: Primary idiopathic scoliosis, brace for correction Boston – Chêneau.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước đây người ta rất ít quan tâm 
đến vẹo cột sống vì cho rằng nó chỉ làm 
ảnh hưởng đến thẩm mỹ chứ không hề gây 
đau đớn và ảnh hưởng đến sinh hoạt của 
người bị vẹo cột sống [8]. Tuy nhiên, tùy 
theo mức độ, các trường hợp biến dạng cột 
sống nhiều và nặng trong trường hợp gù, 
vẹo cột sống có thể ảnh hưởng đến sinh 
hoạt của bệnh nhân trong xã hội. Hơn thế 
nữa, tình trạng biến dạng cột sống này còn 
có thể gây tàn tật cho người bệnh.
Tình trạng biến dạng cột sống 
thường gặp nhất cần điều trị là vẹo cột 
sống (scoliosis) [7]. Theo nghiên cứu của 
Yaman O và cộng sự (2014) tỷ lệ vẹo cột 
sống cấu trúc là 1,5% [15]. Tại Việt Nam, 
vẹo cột sống chiếm tỷ lệ 2% dân số [2], 
trong các loại vẹo cột sống, vẹo cột sống 
vô căn chiếm 80% [2]. Nếu phát hiện 
muộn và điều trị chỉnh hình không kịp thời 
có 5% bệnh nhi vẹo cột sống phải điều trị 
bằng phẫu thuật. 
Hippocrat đầu tiên mô tả các dấu 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
22
hiệu và triệu chứng vẹo cột sống từ năm 
2400 trước công nguyên và đề ra hướng 
điều trị bằng các cách kéo giãn cột sống. 
Dựa trên nguyên tắc kéo thẳng cột sống 
này người ta dần dần phát triển các phương 
cách điều trị vẹo cột sống bằng phẫu thuật 
và không phẫu thuật. Năm 1874, Sayre là 
người đầu tiên dùng bột để nắn chỉnh biến 
dạng cột sống. Năm 1944, Milwaukee đề 
xuất sử dụng nẹp Milwaukee cổ – ngực 
– thắt lưng – cùng (CTLSO) mặc 23 giờ/
ngày. Sau đó, ra đời nhiều loại nẹp thấp hơn 
(TLSO) như nẹp Boston, nẹp Mami, nẹp 
Wilmington, nẹp Lyon, nẹp Charleston, 
nẹp Chêneau, nẹp Boston-Chêneau ra đời để 
điều trị vẹo cột sống. Nẹp được sử dụng rộng 
rãi hiện nay là nẹp Boston – Chêneau [8].
Ở Việt Nam, nhất là ở khu vực 
phía nam lĩnh vực dụng cụ chỉnh hình 
cũng được phát triển trong thời gian gần 
đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá về 
kết quả điều trị của áo nẹp chỉnh hình chưa 
nhiều. Chúng tôi thấy cần có một đánh giá 
kết quả điều trị của áo nẹp nắn chỉnh trên 
các bệnh nhi vẹo cột sống. Mục tiêu: Đánh 
giá hiệu quả điều trị của áo nẹp nắn chỉnh 
Boston- Chêneau trên các trường hợp vẹo 
cột sống vô căn và các yếu tố liên quan. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Thiết kế và đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành một nghiên 
cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng 
trong thời gian từ 03/2006 đến 09/2016 
trên tổng số 126 bệnh nhi vẹo cột sống 
điều trị tại bệnh viện PHCN – ĐTBNN. Sử 
dụng kỹ thuật chọn mẫu liên tục với tiêu 
chí chọn vào bao gồm tất cả các bệnh nhi 
vẹo cột sống vô căn có góc Cobb từ 20 – 
400 đồng ý tham gia nghiên cứu, không có 
các bệnh lý cột sống đi kèm như lao, u
và không phải là vẹo cột sống bẩm sinh, 
tái khám đầy đủ theo hẹn của bác sỹ để 
theo dõi cho đến tuổi trưởng thành xương 
(Risser độ 5). 
2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Sau khi cung cấp thông tin về 
nghiên cứu, bệnh nhi và người giám hộ 
ký vào bảng đồng thuận tham gia nghiên 
cứu. Nghiên cứu viên sẽ tiến hành thu thập 
thông tin qua hồ sơ bệnh án, kết quả dựa 
trên phim X-quang, bending test điền vào 
phiếu khảo sát đã soạn sẵn. Đối tượng sẽ 
được theo dõi mỗi 3 tháng trong 6 tháng 
đầu và sau đó là mỗi 6 tháng cho đến khi 
đạt độ trưởng thành xương (Risser độ 5). 
Tất cả đối tượng được chụp X-quang và 
thực hiện bending test lần đầu. Sau đó, cứ 
mỗi 6 tháng sẽ được chụp một lần. Phim 
X-quang được chụp sau khi tháo áo nẹp 12 
giờ và theo phim chuẩn từ C7-S5 (thẳng 
nghiêng) tại trung tâm kỹ thuật y khoa Hòa 
Hảo. Trong thời gian theo dõi sẽ được ghi 
nhận thời gian thích nghi để mặc áo nẹp 
được 23 giờ trong 1 ngày. Số giờ mặc thật 
sự trong 1 ngày. Sau khi ngưng mặc áo 
nẹp, bệnh nhi sẽ được theo dõi mỗi 6 tháng 
trong thời gian 2 năm.
2.3. Công cụ thu thập số liệu
Phiếu khảo sát soạn sẵn bao gồm 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
23
các đặc tính nền (tuổi, giới tính, nơi cư 
trú, tuổi bắt đầu có kinh), các đặc điểm 
liên quan đến bệnh như góc vẹo cột sống 
- góc Cobb (được đo bằng thước trên 
phim X-quang), độ xoay (được đánh giá 
dựa vào độ lệch của các chân cung trên 
phim X-quang), độ trưởng thành xương - 
độ Risser, thời gian phát hiện vẹo cột sống 
trước khi đến bệnh viện để làm áo nẹp, góc 
vẹo cột sống lúc mới phát hiện (nếu biết) và 
kết quả Bending test, phân loại King, các 
vấn đề phát sinh trong thời gian mang nẹp.
Kết quả điều trị được đánh giá dựa 
theo Basset và Brunell với tình trạng cải 
thiện khi có góc Cobb giảm đi 5 độ, ổn 
định khi có góc Cobb giảm đi <5 độ, xấu 
đi khi có góc Cobb tăng lên so với góc Cobb 
ban đầu. Mức độ tiến bộ đạt khi góc Cobb 
giảm lớn hơn hoặc bằng 0 độ, không đạt bao 
gồm góc Cobb tăng trên từ 1 độ trở lên.
2.4. Phân tích số liệu
Tần số và tỷ lệ phần trăm được 
dùng để mô tả biến định tính (giới, nơi cư 
trú, phân độ King), trung bình và độ lệch 
chuẩn để mô tả biến định lượng có phân 
phối bình thường, trung vị tứ phân vị kèm 
theo dùng để mô tả biến định lượng có 
phân phối lệch. Các kiểm định Chi bình 
phương, kiểm định chính xác Fisher, được 
dùng khi phù hợp. Tất cả phân tích được 
thực hiện bằng phần mềm SPSS.
2.5. Đạo đức nghiên cứu
Đề cương được hội đồng Khoa 
học kỹ thuật bệnh viện Phục hồi chức 
năng – ĐTBNN cho phép thực hiện. Việc 
không đồng ý tham gia vào nghiên cứu 
cũng không làm ảnh hưởng quá trình điều 
trị của bệnh nhi.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm của nhóm nghiên cứu 
Trong số 126 bệnh nhi được can 
thiệp điều trị có 108 là nữ và 18 nam (nữ 
85,7%; nam 14,3%). Số bệnh nhi ở khu 
vực và các tỉnh là ngang nhau (tỷ lệ 50%). 
Đa số các bệnh nhi được gửi đến từ BV 
Chấn thương chỉnh hình TP.HCM (tỷ lệ 
68,25%). Trong nhóm nghiên cứu, góc 
Cobb ở số bệnh nhi trong khoảng từ 20o 
– 29o và số bệnh nhi trong khoảng từ 30o 
– 40o có tỷ lệ xấp xỉ nhau nhau. Hầu hết 
các bệnh nhi trong nhóm nghiên cứu đều 
có xoay độ + (95,24%), Đa số bệnh nhi bắt 
đầu điều trị có Risser ở độ 2 (46,03%) và 
độ 3 (48,41%). Tất cả đều có Bending test 
dương tính thì khi đó mới có khả năng điều 
trị bằng áo nẹp được. King 3 chiếm đa số 
(46%). Tuổi có kinh thường gặp nhất là độ 
tuổi 11 ( 44%). Tuổi trung bình lúc bắt đầu 
điều trị là 14,86. Đa số các đối tượng tham 
gia vào nghiên cứu thuộc trường hợp mới 
phát hiện vẹo cột sống, chiếm 53,2%. Hầu 
hết phụ huynh và bệnh nhi đều không biết 
mình bị vẹo cột sống bao nhiêu độ, chiếm 
97,62%. 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
24
Bảng 1: Đặc điểm nền của bệnh nhân Bảng 2: Đặc điểm trước điều trị
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ 
(%)
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ 
(%)
Giới tính Góc Cobb 
Nam 18 14,3 Từ 20o – 29o 72 57,1
Nữ 108 85,7 Từ 30o – 40o 54 42,9
Nơi cư trú Độ xoay
Thành phố HCM 63 50 Độ 0 5 4,0
Tỉnh 63 50 Độ + 120 95,2
Nơi gửi bệnh đến Độ + + 1 0,8
BV CTCH 86 68,2 Độ Risser
Các BV khác 21 16,7 Độ 1 3 2,4
Tự đến 19 15,1 Độ 2 58 46,0
Tuổi bắt đầu có kinh Độ 3 61 48,4
10 Tuổi 15 13,9 Độ 4 4 3,2
11 Tuổi 48 44,4 Phân độ King
12 Tuổi 29 26,9 King 1 19 15,1
13 Tuổi 9 8,3 King 2 49 38,9
14 Tuổi 7 6,5 King 3 58 46,0
Tuổi bắt đầu điều trị Thời gian phát hiện vẹo cột sống
12 5 4,0 Mới phát hiện 67 53,2
13 10 7,9 Khoảng 3 tháng 30 23,8
14 30 23,8 Khoảng 6 tháng 7 5,5
15 42 33,3 Trên 1 năm 22 17,5
16 31 24,6 Biết được góc Cobb lúc mới phát hiện
17 8 6,4 Biết 3 2,4
Không biết 123 97,6
Đa số bệnh nhi thích nghi mặc áo 
nẹp trong vòng 2 tuần đầu (65,1%) và mặc 
được trên 20 giờ/ngày (72,2%). Các triệu 
chứng gặp phải trong thời gian đầu mang 
áo nẹp bao gồm đau (93,7%), ngộp thở 
(85,7%), phồng da (9,5%), nhiễm trùng 
da (13,5%), teo cơ (0,8%), giới hạn ROM 
(14,3%). Nhóm bệnh nhi có thời gian điều 
trị 4 năm chiếm tỷ lệ nhiều nhất (35,7%). 
Bệnh nhi có thời gian điều trị ngắn là 2 
năm (7,1%) và dài nhất là 6 năm (4,8%). 
Bệnh nhi đạt được Risser độ 5 sớm nhất là 
17,5 tuổi và trễ nhất là 19 tuổi. Tuổi trung 
bình để đạt được Risser độ 5 là 18,53.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
25
Bảng 3. Đặc điểm theo dõi điều trị Bảng 4. Đặc điểm liên quan kết quả điều 
trị
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ 
(%)
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ 
(%)
Thích nghi mặc áo nẹp Tuổi đạt được Risser độ 5
2 tuần 82 65,1 17,50 1 0,8
3 tuần 41 32,5 18,00 42 33,3
4 tuần 3 2,4 18,50 31 24,6
Số giờ mặc áo nẹp/ngày 19,00 52 41,3
Trên 20 giờ 91 72,2 Kết quả
Từ 15 - 20 giờ 23 18,3 Đạt 99 78,6
Dưới 15 giờ 11 9,5 Không đạt 27 21,4
Các triệu vấn đề khi mặc áo nẹp Mức độ tiến bộ
Đau (có) 118 93,7 Cải thiện 96 76,2
Ngộp thở (có) 108 85,7 Ổn định 3 2,4
Phồng da (có) 12 9,5 Xấu đi 27 21,4
Nhiễm trùng da (có) 17 13,5 Thay đổi độ xoay
Teo cơ (có) 1 0,8 Nhóm trẻ đạt (có) 95 96,0
Giới hạn ROM (có) 18 14,3 Nhóm trẻ không đạt (có)
1 3,7
Thời gian điều trị Kết quả đạt là 99 bệnh nhi (78,6%), cải 
thiện: 96 bệnh nhi (76,2%). Kết quả ổn 
định 3 bệnh nhi (2,4%). Góc Cobb trung 
bình lúc bắt đầu điều trị của nhóm nghiên 
cứu là 30,9o và góc Cobb trung bình lúc 
đạt Risser độ 5 là 22o. Sau điều trị, ở 
nhóm bệnh nhi có kết quả ĐẠT thì độ 
xoay cũng được điều chỉnh (96,0%).
2 năm 9 7,1
2,5 năm 6 4,8
3 năm 27 21,4
3,5 năm 23 18,3
4 năm 45 35,7
5 năm 8 6,3
5,5 năm 2 1,6
6 năm 6 4,8
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
26
Bảng 5. Mối liên quan giữa mức độ tiến bộ và các yếu tố
Đặc điểm Mức độ tiến bộ Giá 
trị p
Giá trị 
Pearson
RR
(KTC 95%)Đạt 
n (%)
Không đạt 
n (%)
Giới tính
Nam 14 (77,8) 4 (22,2) 1,000 
(*)
0,008 0,99
(0,76-1,29)Nữ
85 (78,7) 23 (21,3)
Độ tuổi bắt đầu điều trị
10 – 15 68 (78,2) 19 (21,8) 0,867 0,028 0,98
(0,81-1,19)≥ 16
31 (79,5) 8 (20,5)
Độ tuổi bắt đầu có kinh
10-12 63 (76,8) 19 (23,2) 1,000 
(*)
0,025 1,02
(0,75 – 1,39)
13-14 12 (75,0) 4 (25,0)
Góc Cobb
20-290 59 (81,9) 13 (18,1) 0,287 1,135 1,11
(0,91-1,34)
30-400 40 (74,1) 14 (25,9)
Thời gian mang áo nẹp
≤ 20 giờ 8 (22,9) 27 (77,1) <0,001 
(*)
89,35 0,23
(0,12-0,42)
> 20 giờ 91 (100) 0 (0)
Phân độ King
1- 20 King 53 (77,9) 15 (22,1) 0,852 0,035 0,98
(0,81-1,17)
3-50 King 46 (79,3) 12 (20,7)
Độ Risser
1-20 46 (77,9) 13 (22,1) 0,947 0,005 0,99
(0,82 – 1,20)
≥30 51 (78,5) 14 (21,5)
(*) Kiểm định chính xác Fisher
Kết quả từ Bảng 5 cho thấy giới 
tính, tuổi bắt đầu điều trị, tuổi có kinh, góc 
Cobb ban đầu, phân độ King, độ Risser 
không có liên quan đến mức độ tiến bộ của 
bệnh nhi. Tuy nhiên, thời gian đeo áo nẹp 
được tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê đến mức độ tiến bộ. Cụ thể bệnh 
nhi có thời gian mang áo nẹp trên 20 giờ 
có mức độ tiến bộ đạt gấp 4,38 lần so với 
bệnh nhi có thời gian mang áo nẹp ≤ 20 giờ 
với KTC 95% từ 0,12 – 0,42 và p<0,001.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
27
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi 
phần lớn là bệnh nhi nữ với 85,7%. Tỷ lệ 
này tương đồng với các nghiên cứu khác 
với tỷ lệ bệnh nhi nữ chiếm tỷ lệ cao hơn. 
Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi vẫn thấp 
hơn các nghiên cứu của tác giả Houtkin và 
cộng sự nghiên cứu trên 66 bệnh nhi trong 
đó có 62 nữ (chiếm 93,94%). Nghiên cứu 
của Zheng (2012) cũng cho kết quả tương 
tự với kết quả bệnh nhi nữ chiếm 92,20%. 
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 
là 14,86. Độ Risser trung bình lúc bắt đầu 
điều trị là 2,52. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy bệnh nhi vẹo cột sống 
ở các nhóm theo phân loại theo King 1 
King 2, King 3 lần lượt là 15,1%, 38,9% 
và 46%. Hầu hết phụ huynh và bệnh nhi 
đều không biết mình bị vẹo cột sống bao 
nhiêu độ (97,62%) cho đến khi được các y 
bác sĩ chẩn đoán thông qua phim X-quang.
Theo Hiệp Hội Vẹo Cột Sống Thế 
Giới thì hiện tại thống nhất thời gian mặc 
áo nẹp là 23 giờ trong một ngày (1 giờ bỏ 
ra để vệ sinh cá nhân và tập mạnh cơ) [6]. 
Tuy nhiên trên thực tế do hầu hết các bé 
vẹo cột sống là các bé nữ trong độ tuổi đi 
học nên vấn đề mặc suốt 23 giờ trong một 
ngày cũng là một thách thức đáng kể. Đối 
với các nước Âu Mỹ, quan niệm mặc áo 
nẹp bên ngoài được xem là bình thường. 
Nhưng ở nước ta, do điều kiện thời tiết 
cũng như xấu hổ khi mặc nẹp đến trường 
có thể làm trẻ hạn chế việc mặc áo trong 
thời gian đi học. Chúng tôi khi tiếp xúc 
ban đầu và khởi đầu điều trị cho bệnh nhi 
đều có tư vấn rất kĩ về tình trạng vẹo cột 
sống, chẩn đoán nguyên nhân, các phương 
thức điều trị, các hậu quả khi cột sống bị 
vẹo nặng và cách theo dõi điều trị cho gia 
đình và bệnh nhi. Dù vậy, số bệnh nhi mặc 
được 23 giờ trong một ngày cũng không 
thể tuyệt đối nên có những bệnh nhi chỉ 
mặc được 20 đến 22 giờ một ngày, có 
những bệnh nhi chỉ mặc được dưới 20 giờ 
và một số ít thậm chí chỉ mặc được dưới 
15 giờ một ngày.
Các vấn đề phát sinh khi mặc áo 
nẹp được theo dõi nhằm phòng tránh và 
hạn chế tối đa các bất tiện xảy ra cho bệnh 
nhi để giúp cho bệnh nhi có điều kiện tuân 
thủ tốt việc mặc áo nẹp giúp mang lại 
kết quả điều trị tốt nhất. Triệu chứng đau 
thường xảy ra ở hầu hết các trẻ trong thời 
kì đầu mang nẹp (93%) do các lực nắn đẩy 
của áo nẹp. Do áo siết vào vị trí thượng 
vị nơi có đám rối thần kinh giao cảm khi 
mang nên sẽ gây ra triệu chứng ngộp thở. 
Bệnh nhi cần siết dây áo nẹp một cách từ 
từ và tăng dần theo thời gian thích nghi. 
Để giảm triệu chứng phồng da bệnh nhi 
được hướng dẫn mặc áo nẹp trong những 
ngày đầu khoảng 2 giờ thì mở ra, quan 
sát phần da có bị ửng đỏ lên hoặc bị trầy 
sướt không. Sau đó ít nhất là 30 phút mới 
mặc tiếp 2 giờ và lại mở ra quan sát da. 
Ban đầu mặc 6 giờ/ngày, dần tăng lên 10 
giờ, 16 giờ và từ từ thích nghi đến 23 giờ/
ngày sau 2 đến 3 tuần. Nghiên cứu cũng 
ghi nhận phần nhỏ bệnh nhi bị nhiễm trùng 
da, lý giải có thể do bệnh nhi do nôn nóng 
muốn được kết quả nhanh nên mặc áo nẹp 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
28
rất nhiều giờ trong những ngày đầu và siết 
rất chặt nên da bị phồng, nổi bọng nước 
và nhiễm trùng. Những trường hợp này sẽ 
được tư vấn điều trị cho đến khi lành da 
thì mặc lại áo nẹp và mặc lại từ từ theo 
quy trình.
Về tuổi trưởng thành xương của 
bệnh nhi, chưa tìm thấy một công trình 
nghiên cứu nào trong nước có đánh giá 
vấn đề này. Theo các tài liệu thì tuổi 
trưởng thành xương (đạt được Risser độ 5) 
của các bệnh nhi ở các nước Âu Mỹ trung 
bình là 16 – 17 tuổi [12]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi thì tuổi trưởng thành xương 
trung bình là 18,53. Trong đó bệnh nhi đạt 
được Risser độ 5 sớm nhất là 17,5 tuổi và 
trễ nhất là 19 tuổi. 
Trong nhóm nghiên cứu của chúng 
tôi, kết quả ĐẠT là 78,6 %, tương ứng với 
nghiên cứu của tác giả Trịnh Quang Dũng 
đánh giá sự tiến bộ chung cho cả đường 
cong ngực và thắt lưng sau can thiệp, tỷ lệ 
bệnh nhi có tiến bộ chiếm 68,3%. Houtkin 
và cộng sự [1] cũng đã áp dụng áo nẹp 
Prenyl cho 66 bệnh nhân bị vẹo cột sống 
tự phát trong đó có 4 nam và 62 nữ, với 
thời gian theo dõi trung bình là 36 tháng 
và thời gian mang áo nẹp ban đầu là 23 
giờ/ngày. Các tác giả nhận thấy có 53 bệnh 
nhân (80%) có sự cải thiện đáng kể khi 
mang áo nẹp. Nghiên cứu của De Giorgi S 
và cộng sự năm 2013 [9] nghiên cứu trên 
48 bé gái bị vẹo cột sống vô căn nguyên 
phát được điều trị bằng áo nẹp Chênneau 
theo dõi trong 2 năm và kết luận là đạt hiệu 
quả ở 100% bệnh nhi. Nghiên cứu của 
Angelo G Aulisa và cộng sự năm 2009 [4] 
nghiên cứu trên 50 bé gái bị vẹo cột sống 
vô căn nguyên phát được điều trị bằng áo 
nẹp ngực thắt lưng cùng (TSLO) theo dõi 
trong 2 năm và kết luận là đạt hiệu quả ở 
94% bệnh nhi. 
Về mối liên quan giữa mức tiến bộ 
và thời gian mặc áo nẹp. Nghiên cứu của 
chúng tôi có kết quả: nhóm bệnh nhi mặc 
trên 20 giờ trong 1 ngày đạt được mức tiến 
bộ sau điều trị chiếm tỷ lệ 100%; nhóm 
bệnh nhi mặc dưới 20 giờ trong 1 ngày đạt 
được mức tiến bộ sau điều trị chiếm tỷ lệ 
34,8%. Điều này chứng tỏ mức tiến bộ có 
mối liên quan rõ rệt với thời gian mặc áo 
nẹp trong ngày và sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p<0,001. Chúng tôi chưa tìm 
thấy mối liên quan giữa kết quả điều trị và 
giới tính (p=0,929), độ Risser (p=0,695), 
tuổi bắt đầu điều trị (p=0,981), góc Cobb 
ban đầu (p=0,287), tuổi bắt đầu có kinh 
(p=0,791).
KẾT LUẬN
Kết quả đạt được điều trị có liên 
quan rõ rệt đến thời gian mặc áo nẹp của 
các bệnh nhi. Theo kết quả nghiên cứu 
thì nhóm bệnh nhi mặc áo nẹp trên 20 
giờ/ngày đạt được kết quả điều trị rất tốt 
(100%). Kết quả này cho thấy chúng ta có 
thể giảm cho bệnh nhi một vài giờ thư giãn 
thay vì mặc áo nẹp suốt 23 giờ/ngày là một 
việc hết sức khó khăn, bệnh nhi có thể mặc 
trên 20 giờ cũng đạt hiệu quả.
Trong nghiên cứu của chúng tôi 
chỉ điều trị dùng áo nẹp nắn chỉnh cho 
nhóm bệnh nhi từ 20 – 40o. Thời gian gần 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
29
đây có xu hướng điều trị áo nẹp cho những 
bệnh nhi có góc Cobb lớn hơn 40o mà 
Bending test dương tính và Risser chưa 
đạt được độ 5 (tức là chưa đến tuổi trưởng 
thành xương). Chúng tôi vẫn tiếp tục theo 
dõi cho các bệnh nhi đã đạt được Risser độ 
5 trong thời gian 2 năm sau, hầu hết đều 
ổn định đường cong cột sống và hình dạng 
bên ngoài cơ thể, không bị biến dạng lồng 
ngực nhiều. Các nghiên cứu cần được tiếp 
tục đề bổ sung cho việc điều trị vẹo cột 
sống trong tương lai sẽ tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Quang Dũng (2015) “Nghiên 
cứu hiệu quả can thiệp cho bệnh nhi vẹo cột sống 
không rõ nguyên nhân bằng áo nẹp chỉnh hình 
TLSO”. Luận án tiến sĩ y học, tr. 57-80.
2. Nguyễn Thế Luyến (2005) “Bài giảng 
bệnh học chấn thương chỉnh hình- phục hồi chức 
năng” Bộ môn Chấn thương chỉnh hình, 3, tr.14-
21.
3. Adam CJ, Askin GN (2006). 
“Automatic measurement of vertebral rotation in 
idiopathic scoliosis”. SPINE; 31(3), pp. 80-83.
4. Aulisa AG, Guzzanti V (2009) 
“Treatment of thoraco-lumbar curves in adolescent 
females affected by idiopathic scoliosis with a 
progressive action short brace (pasb): assessment 
of results according to the srs committee on bracing 
and nonoperative management standardization 
criteria”, Biomed central.
5. Aulisa AG, Giordano M (2014) 
“Correlation between compliance and brace 
treatment in juvenile and adolescent idiopathic 
scoliosis: Sosort 2014 award winner”, Biomed 
Central.
6. Delisa JA (2010) “Physical medicine 
and rehabilitation” Lippincott Wiliams & Wilkins 
34, pp. 883-907.
7.Tidswell M (1998) “Orthopaedic 
physiotherapy”, Mosby, Spinal Deformities 13, 
pp. 173-185
8.Lusardi MM, Nielsen CC (2019) 
“Orthotics and prosthetics in rehabilitation”, 
Saunders Elsevier, 13, pp. 381-387.
9. De Giorgi S, Piazzolla A, Tafuri 
S, Borracci C, Martucci A, De Giorgi G (2013) 
“Chêneau brace for adolescent idiopathic scoliosis: 
Long-term results. can it prevent surgery?” 22(6), 
pp. 815-822. 
10. Taft E, Frances R (2003) “Evaluation 
and management of scoliosis”. pediatric health 
care; 17, pp. 42-44. 
11. Warner WC (2001) “Juvenile 
idiopathic scoliosis”. Lippincott Wiliams and 
Wilkins; pp. 329-345. 
12. Weinstein SL, Ponseti (1983) “Curve 
progression in idiopathic scoliosis”, J Bone Joint 
Surg, 4: pp. 447-455 
13. Normelli WUH, Aaro s, et al,(1993) 
“Long term results of the boston brace treatment on 
veterbral rotation in idiopathic scoliosis”, SPINE, 
4, pp. 432-435.
15. Winter C, Müller C, Fuchs K, 
Rosenbaum D, Schmidt C, Bullmann V, Schulte 
Tl.(2011) “Prospective evaluation of physical 
activity in patients with idiopathic scoliosis or 
kyphosis receiving brace treatment”. EUR SPINE 
J. 20(7), pp. 1127–1136. DOI: 10.1007/S00586-
011-1791-9.
16. Yaman O, Dalbayrak S (2014) 
“Idiopathic Scoliosis”. İdiopatik Skolyoz. 24 (1), 
pp. 38-52.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_dieu_tri_veo_cot_song_vo_can_bang_ao_nep_n.pdf