Đánh giá hiệu quả điều trị lạc nội mạc tử cung bằng phẫu thuật nội soi

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị LNMTC bằng phẫu thuật nội soi. Đối tượng và phương

pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang gồm 150 bệnh nhân LNMTC được phẫu thuật nội soi tại

Khoa Phụ sản BV Đà Nẵng. Kết quả: Có sự cải thiện rõ rệt về cường độ đau của các triệu

chứng thống kinh (53 so với 33, p<0,001), đau="" vùng="" chậu="" không="" theo="" kỳ="" kinh="" (52="" so="" với="">

p<0,001), giao="" hợp="" đau="" (78="" so="" với="" 25,=""><0,001), đại="" tiện="" đau="" (53="" so="" với="" 18,=""><0,001), điểm="">

lượng cuộc sống (59,5 so với 80, p<0,001), và="" chỉ="" số="" hài="" lòng="" tình="" dục="" (3,0="" so="" với="" 6,0,=""><>

trước và sau điều trị. Tỉ lệ có thai tích lũy sau 12 tháng là 35,0% và đa số là bệnh nhân có thai

trong khoảng thời gian 5 tháng đầu sau mổ. Tỉ lệ tái phát u LNMTC ở BT trên siêu âm là 5,3%.

Kết luận: Có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng đau vùng chậu, chất lượng cuộc sống, và chỉ số

hài lòng tình dục tổng thể sau điều trị với thời gian theo dõi 12 tháng. Tỉ lệ có thai tích luỹ sau

12 tháng ở các bệnh nhân hiếm muộn là 35,0% và đa số là bệnh nhân có thai trong khoảng thời

gian 5 tháng đầu sau mổ. Tỉ lệ tái phát u LNMTC ở BT trên siêu âm là 5,3%.

pdf 10 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả điều trị lạc nội mạc tử cung bằng phẫu thuật nội soi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả điều trị lạc nội mạc tử cung bằng phẫu thuật nội soi

Đánh giá hiệu quả điều trị lạc nội mạc tử cung bằng phẫu thuật nội soi
Trần Đình Vinh l 167
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LẠC NỘI MẠC 
TỬ CUNG BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI
Trần Đình Vinh
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị LNMTC bằng phẫu thuật nội soi. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang gồm 150 bệnh nhân LNMTC được phẫu thuật nội soi tại 
Khoa Phụ sản BV Đà Nẵng. Kết quả: Có sự cải thiện rõ rệt về cường độ đau của các triệu 
chứng thống kinh (53 so với 33, p<0,001), đau vùng chậu không theo kỳ kinh (52 so với 26, 
p<0,001), giao hợp đau (78 so với 25, p<0,001), đại tiện đau (53 so với 18, p<0,001), điểm chất 
lượng cuộc sống (59,5 so với 80, p<0,001), và chỉ số hài lòng tình dục (3,0 so với 6,0, p<0,001) 
trước và sau điều trị. Tỉ lệ có thai tích lũy sau 12 tháng là 35,0% và đa số là bệnh nhân có thai 
trong khoảng thời gian 5 tháng đầu sau mổ. Tỉ lệ tái phát u LNMTC ở BT trên siêu âm là 5,3%. 
Kết luận: Có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng đau vùng chậu, chất lượng cuộc sống, và chỉ số 
hài lòng tình dục tổng thể sau điều trị với thời gian theo dõi 12 tháng. Tỉ lệ có thai tích luỹ sau 
12 tháng ở các bệnh nhân hiếm muộn là 35,0% và đa số là bệnh nhân có thai trong khoảng thời 
gian 5 tháng đầu sau mổ. Tỉ lệ tái phát u LNMTC ở BT trên siêu âm là 5,3%.
Abstract: 
Evaluation o Laparoscopic Management of endometriosis
Objective: To evaluate the treatment results of endometriosis by laparoscopy. Methods: 
a cross-sectional study including 150 cases of endometriosis operated laparoscopically 
at Da Nang hospital. Results: Pain scores were all significantly reduced at 12 months for 
dysmenorrhoea (median VAS baseline versus follow-up 12 months) 53 versus 33 (p< 0.0001), 
non-menstrual pelvic pain 52 versus 26 (p< 0.0001), dyspareunia; 78 versus 25 (p< 0.0001) and 
dyschesia 53 versus 18 (p< 0.0001). Quality of life for EQ-5Qvas (59.5 versus 80.0, p<0,001) 
and Global Sexual Satisifaction Index (3.0 versus 6.0, p<0,001) was improved significantly. 
The cumulative rate of getting pregnancy after 12 months was 35,0%. The recurrent rate 
of endometrioma on ultrasound was 5.3%. Conclusion: Laparoscopic management of 
endometriosis significantly reduces pain and improves quality of life as well as Global 
Sexual Satisifaction IndexGlobal Sexual Satisifaction Index. The cumulative rate of getting 
pregnancy after 12 months was 35.0% and most of them pregnant within 5 month after 
operation . The recurrent rate of endometrioma on ultrasound was 5.3%.
Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng
Đặt vấn đề
Lạc nội mạc tử cung là bệnh lý phụ 
khoa mãn tính thường gặp. Tại Mỹ, đây là 
nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong các 
bệnh lý phụ khoa khiến bệnh nhân phải 
nhập viện điều trị[1]. Mặc dù được miêu tả 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 167-176, 2012
168 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
lần đầu tiên cách đây hơn 300 năm, nhưng 
cho đến nay, vẫn còn nhiều bàn cãi về cơ chế 
sinh bệnh, chẩn đoán và hướng xử trí lạc nội 
mạc tử cung[2]. 
Lạc nội mạc tử cung làm giảm đáng kể 
chất lượng cuộc sống, có thể gây trầm cảm 
cho người bệnh. Có nhiều phương pháp 
trong điều trị lạc nội mạc tử cung như 
nội khoa, ngoại khoa, kết hợp điều trị nội 
khoa trước mổ và sau mổ. Với nhiều ưu 
điểm, phẫu thuật nội soi là “tiêu chuẩn 
vàng” trong điều trị lạc nội mạc tử cung 
bằng phẫu thuật. Tuy nhiên, người ta 
vẫn còn bàn cãi về phương thức xử trí tốt 
nhất trong phẫu thuật nội soi điều trị lạc 
nội mạc tử cung[3]. Đề tài được tiến hành 
nhằm đánh giá kết quả điều trị LNMTC 
bằng phẫu thuật nội soi.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 150 bệnh nhân LNMTC đến khám 
và điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đà 
Nẵng từ 12/2006-12/2009.
Tiêu chuẩn chọn
- Các trường hợp nghi ngờ u LNMTC 
khi khám lâm sàng:
+ Có các triệu chứng: thống kinh, đau 
vùng chậu không theo kỳ kinh, giao hợp 
đau, đại tiện khó.
+ Vô sinh.
+ Có khối u buồng trứng.
- Siêu âm đường âm đạo, siêu âm 
Doppler màu nghi ngờ có khối u phần phụ, 
u LNMTC.
- Có kết quả mô học sau mổ là lạc nội 
mạc tử cung.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ có thai.
- Phụ nữ có tiền sử phẫu thuật vùng 
chậu về bệnh lý phụ khoa.
- Phụ nữ có các bệnh lý khác có thể gây 
vô sinh như không phóng noãn, bất thường 
tinh dịch đồ, hoặc những bệnh nhân đã từng 
được điều trị vô sinh.
- Các trường hợp được mổ mở ngay từ 
đầu hoặc được điều trị nội khoa trước/sau 
phẫu thuật.
- Phụ nữ có các bệnh lý tim mạch, gan, 
thận, nội tiết.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
cắt ngang.
Các bước tiến hành
Khi bệnh nhân đến khám, khai thác và 
ghi nhận các dữ liệu về tiền sử, bệnh sử, các 
triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.
- Các triệu chứng cơ năng
+ Thống kinh
+ Đau vùng chậu không theo chu kỳ kinh
+ Giao hợp đau
+ Đại tiện khó
Cường độ triệu chứng đau được đánh 
giá theo thước đo cảm giác đau (thời điểm 
trước phẫu thuật) và được phân chia mức 
độ theo Vercellini và cộng sự[4]:
- Đau nhẹ: 1-50 điểm
- Đau vừa 51-80 điểm
- Đau nhiều: 81-100 điểm
Đánh giá chất lượng cuộc sống theo EQ-
5Vas[5] (thời điểm trước phẫu thuật)
Đánh giá chất lượng tình dục theo chỉ 
số hài lòng tình dục tổng thể (Global Sexual 
Satisifaction Index)[6]: bệnh nhân tự đánh giá 
sự hài lòng theo thang đo 9 điểm, trong đó:
- Mức 0 điểm tương ứng với chất lượng 
tình dục xấu nhất.
- Mức 9 điểm tương ứng với chất lượng 
tình dục tốt nhất.
Hình 1. Thang điểm đánh giá chất 
lượng tình dục[6]
Điều trị: Phẫu thuật nội soi giải quyết 
nguyên nhân, đồng thời lấy bệnh phẩm (tất 
cả các tổn thương) làm giải phẫu bệnh lý. 
Sau đó, đối chiếu với kết quả siêu âm để rút 
ra các đặc điểm của LNMTC.
Các trường hợp nghi ngờ dính nặng, có 
Trần Đình Vinh l 169
liên quan đến ruột, trực tràng, túi cùng sau, 
chúng tôi mời thêm phẫu thuật viên nội soi 
ngoại tiêu hoá hỗ trợ.
Trong quá trình phẫu thuật, chỉ định 
chuyển sang mổ hở khi gặp tai biến hoặc 
dính nặng không thể bóc tách.
Theo dõi và đánh giá sau điều trị: Vào 
thời điểm 12 tháng sau điều trị, chúng tôi 
ghi nhận:
- Sự thay đổi của các triệu chứng thống 
kinh, đau vùng chậu không theo kỳ kinh, 
giao hợp đau, đại tiện khó theo thước đo 
cảm giác đau so với trước điều trị.
- Chất lượng cuộc sống liên quan đến 
sức khoẻ theo EQ-5vas so với trước điều trị.
- Chỉ số hài lòng tình dục tổng thể so với 
trước điều trị.
- Tỷ lệ có thai ở nhóm bệnh nhân hiếm 
muộn.
- Các dấu hiệu trên siêu âm xác định u 
LNMTC tái phát:
Theo tiêu chuẩn của Exacoustos và cộng 
sự, LNMTC ở buồng trứng được xem là tái 
phát trên siêu âm khi có sự hiện diện của tiêu 
chuẩn điển hình với đường kính>10mm[7].
Kết quả nghiên cứu
Từ tháng 12/2006 đến 12/2009, có 150 
bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn và loại 
trừ được đưa vào nghiên cứu.
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo lứa 
tuổi
Bảng 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu 
theo lứa tuổi
Tuổi n %
<20 03 2,0
20-29 48 32,0
30-39 58 38,7
40-49 26 17,3
≥50 15 10,0
Tổng 150 100,0
Bệnh nhân trong nhóm tuổi từ 30-39 tuổi 
chiếm tỉ lệ cao nhất là: 38,7%. Chiếm tỉ lệ thấp 
nhất là bệnh nhân trong độ tuổi <20: 2,0%.
Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên 
cứu là 34,5 ± 9,3 tuổi. Nhỏ nhất: 17 tuổi, lớn 
nhất: 57 tuổi.
Bảng 2. Phân bố đối tượng nghiên cứu 
theo triệu chứng cơ năng
Triệu chứng cơ năng n %
Thống kinh 108 72,0
Đau vùng chậu không 
theo kỳ kinh
76 50,7
Giao hợp đau 
44 29,3
Đại tiện đau 44 29,3
Cảm giác khó chịu ở 
vùng hậu môn
11 7,3
Rong huyết 6 4,0
Hiếm muộn 
40 26,7
Thống kinh là triệu chứng chiếm tỉ lệ cao 
nhất: 72,0%. 
Phương pháp phẫu thuật
Trong số 150 bệnh nhân LNMTC được 
phẫu thuật nội soi, có 17 trường hợp được 
chuyển qua mổ mở vì dính mức độ nặng 
hay tai biến chiếm 11,3%.
Cách thức phẫu thuật
Bảng 3. Cách thức phẫu thuật
Cách thức phẫu thuật n %
Bóc u lạc nội mạc 21 14,0
Bóc u + cắt tổn thương 
LNMTC
64 42,7
Cắt phần phụ + cắt tổn 
thương LNMTC
40 26,7
Cắt tử cung+01 phần phụ 12 8,0
Cắt tử cung+02 phần phụ 13 8,6
Tổng 150 100,0
Bóc u và cắt tổn thương LNMTC chiếm tỉ 
lệ cao nhất: 42,7%. 
170 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Có 40 trường hợp được cắt phần phụ và 
cắt tổn thương LNMTC chiếm 42,7%. Tỉ lệ 
của cắt tử cung+1 phần phụ và cắt tử cung+2 
phần phụ lần lượt là 8,0% và 8,6%.
Thời gian phẫu thuật
Bảng 4. Phân bố đối tượng nghiên cứu 
theo thời gian phẫu thuật
Thời gian (phút) n %
30-60 94 62,7
61-90 37 24,7
91-120 14 9,3
>120 5 3,3
Tổng 150 100,0
Thời gian trung bình 59,4±31,2
Đa số bệnh nhân có thời gian phẫu thuật 
từ 30-60 phút (62,7%).
Thời gian phẫu thuật trung bình là 
59,4±31,2 phút, ngắn nhất là 32 phút, dài 
nhất là 275 phút.
Tai biến trong mổ
Bảng 5. Tai biến trong mổ
Tai biến trong mổ n %
Chảy máu phải truyền 
máu
05 3,3
Tổn thương đại tràng 
sigma
01 0,7
Tổn thương trực tràng 01 0,7
Tổn thương niệu quản 02 1,3
Không 141 94,0
Tổng 150 100
Tổn thương đại tràng sigma và trực tràng 
có 1 trường hợp chiếm 0,7%, tổn thương 
niệu quản có 2 trường hợp chiếm 1,3%. Có 
5 trường hợp chảy máu phải truyền máu 
trong mổ chiếm 3,3%.
Biến chứng sau mổ
Bảng 6. Biến chứng sau mổ
Biến chứng sau mổ n %
Nhiễm trùng 3 2,0
Tụ máu vết mổ 2 1,3
Tụ máu mỏm cắt 3 2,0
Không 142 94,7
Tổng 150 100
Có 3 trường hợp nhiễm trùng vết mổ 
chiếm 2,0%. Tụ máu vết mổ có 2 trường hợp 
chiếm 1,3%. Tụ máu mỏm cắt âm đạo gặp 
trong 3 trường hợp chiếm 2,0%.
Thời gian hậu phẫu
Bảng 7. Thời gian hậu phẫu
Thời gian (ngày) n %
<5 11 7,3
5-7 126 84,0
8-10 05 3,3
>10 08 5,4
Tổng 150 100,0
Đa số bệnh nhân có thời gian hậu phẫu 
từ 5-7 ngày, chiếm 84,0%.
Thời gian hậu phẫu trung bình 6,3±2,0 
ngày, ít nhất là 3 ngày, dài nhất là 14 ngày.
Sự thay đổi triệu chứng cơ năng theo 
thước đo cảm giác đau sau 12 tháng
Bảng 8. Cường độ triệu chứng đau trước 
và sau điều trị
Cường 
độ
Triệu 
chứng
Trước điều 
trị
Trung vị 
(Khoảng)
Sau điều 
trị
Trung vị 
(Khoảng)
p
Thống kinh 53 (1-100) 33 (1-65) <0,001*
Đau vùng 
chậu không 
theo chu kỳ
52 (3-88) 26 (2-40) <0,001*
Giao hợp 
đau
 78 (3-100) 25 (2-50) <0,01*
Đại tiện đau 53 (3-85) 18 (5-45) <0,001*
(*) Kiểm định hạng Wilcoxon
Trần Đình Vinh l 171
Có sự cải thiện rõ rệt về cường độ đau của các triệu chứng thống kinh (Z=-8,286, p=0), đau 
vùng chậu không theo kỳ kinh (Z=-7,010, p=0), giao hợp đau (Z=-5,579, p=0,004) và đại tiện 
đau (Z=-5,712, p=0) trước và sau điều trị.
Chất lượng cuộc sống, tình dục trước và sau phẫu thuật
Bảng 9. Chất lượng cuộc sống, tình dục trước và sau phẫu thuật
Yếu tố Trước điều trị Sau điều trị p
Chất lượng cuộc sống theo EQ-5Dvas
TB± ĐLC
Trung vị (Khoảng)
58,1 ±7,0
59,5 (25-70)
80,4±9,4 
80 (40-98) <0,001*
Chỉ số hài lòng tình dục tổng thể TB± ĐLC
Trung vị (Khoảng)
3,3±0,8
3,0 (0-5)
5,8±1,3
6,0 (0-9) <0,001*
(*) Kiểm định hạng Wilcoxon
Sau phẫu thuật, có sự cải thiện rõ rệt 
về điểm chất lượng cuộc sống trước (Z=-
10,591, p=0), và chỉ số hài lòng tình dục (Z=-
10,477, p=0) 
Tỉ lệ bệnh nhân có thai chung trong 
nhóm bệnh nhân hiếm muộn 
Bảng 10. Tỉ lệ có thai chung sau phẫu thuật
Có thai sau phẫu thuật n %
Có thai
Tự nhiên
Kích thích buồng trứng
14
11
03
35,0
27,5
7,5
Không có thai 26 65,0
Tổng 40 100
Có 14 trường hợp có thai sau phẫu thuật 
trong số 40 bệnh nhân hiếm muộn, chiếm 
35,0% (14/40). Trong đó có 11 trường hợp 
có thai tự nhiên chiếm 27,5% (11/40) và 3 
trường hợp cần phải kích thích BT làm thụ 
tinh nhân tạo chiếm 7,5% (3/40).
Thời gian có thai sau phẫu thuật
Bảng 11. Thời gian có thai sau phẫu thuật
Thời gian có 
thai (tháng)
n %
<3 5 35,7
3-5 6 42,9
6-8 3 21,4
Tổng 14 100
Đa số bệnh nhân có thai trong khoảng 
thời gian 5 tháng sau phẫu thuật.
Thời gian trung bình có thai sau phẫu 
thuật là 3,7±1,7 tháng, nhanh nhất là 2 tháng, 
lâu nhất là 7 tháng.
Tái phát u được phát hiện qua siêu âm 
trong thời gian theo dõi
Bảng 12. Tái phát u LNMTC trong thời gian 
theo dõi
Tình trạng n %
Tái phát
Thời gian tái 
phát (tháng)
06
08
09
10
11
08
1
1
2
3
1
5,3
0,7
0,7
1,2
2,0
0,7
Không tái 
phát
142 94,7
Tổng 150 100
Sau 12 tháng, có 8 bệnh nhân bị tái phát, 
chiếm tỉ lệ 5,3%. 
Không có trường hợp tái phát nào trong 
thời gian 06 tháng đầu sau mổ. Thời gian 
trung bình từ lúc phẫu thuật đến thời điểm 
tái phát là 9,1±1,6 tháng.
Bàn luận
Phương pháp phẫu thuật
Mổ mở và PTNS là hai phương pháp điều 
trị bằng phẫu thuật đối với LNMTC. Với nhiều 
ưu điểm như tổn thương mô ít hơn, tầm quan 
172 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
sát rộng hơn, đường rạch nhỏ hơn, hồi phục 
sau phẫu thuật nhanh hơn, tình trạng dính 
và biến chứng sau mổ ít hơn, PTNS là “tiêu 
chuẩn vàng” trong điều trị LNMTC bằng 
phẫu thuật. Sự thành công của PTNS phụ 
thuộc chủ yếu vào kỹ năng và kinh nghiệm 
của phẫu thuật viên[8] . Ngày nay, với sự phát 
triển của trang thiết bị cũng như sự hoàn thiện 
về mặt kỹ năng, kinh nghiệm của phẫu thuật 
viên, PTNS không chỉ áp dụng đối với các 
trường hợp u BT lành tính mà còn được chỉ 
định trong các trường hợp ung thư BT giai 
đoạn tiến triển[9].
Nghiên cứu này chỉ chọn những trường 
hợp LNMTC được mổ nội soi. Tuy nhiên, 
trong quá trình phẫu thuật có 17 trường 
hợp được chuyển qua mổ hở vì dính mức 
độ nặng hay tai biến chiếm 11,3%.
Phương thức phẫu thuật
Vẫn còn nhiều bàn cãi về thái độ xử trí 
tốt nhất đối với LNMTC ở BT cũng như 
ở phúc mạc[10],[11]. Một số phẫu thuật viên 
không lựa chọn việc đốt tổn thương bằng 
dao điện với lý do việc hoại tử tại chỗ có thể 
làm tăng hoạt động phản ứng viêm. Ngoài 
ra, nguy cơ tổn thương mô kế cận của đốt 
điện cũng là một yếu tố khác khiến cho việc 
áp dụng nó bị hạn chế. Đối với LNMTC ở 
phúc mạc và LNMTC thâm nhiễm sâu, việc 
cắt bỏ các tổn thương cho thấy có hiệu quả 
cao trong điều trị triệu chứng giảm đau và 
vô sinh[12].
Đối với u LNMTC ở BT, hai nghiên cứu 
gần đây cho thấy hiệu quả điều trị tốt hơn 
nếu như không sử dụng đốt điện mà chỉ 
có bóc nang, khâu cầm máu[12]. Tuy nhiên, 
theo Radosa và cs, người ta vẫn chưa xác 
định rõ kết quả này là do không có đốt điện 
hay là do khâu cầm máu, tái tạo. Trong các 
thử nghiệm trên động vật, việc đốt bằng 
dao điện lưỡng cực gây phá huỷ các mô 
BT nhiều hơn so với các kỹ thuật khác. Một 
phương thức khác có thể thay cho việc cắt 
bỏ tổn thương cổ điển là sử dụng laser CO2. 
Mặc dù kết quả ban đầu cho thấy khả quan 
và đầy triển vọng, nhưng việc sử dụng 
rộng rãi phương thức này còn hạn chế do 
vấn đề kỹ thuật và chi phí cao[12],[13].
Tuy nhiên, người ta khuyến cáo rằng, tuỳ 
theo mức độ tổn thương, giai đoạn LNMTC, 
mức độ dính, tổn thương phối hợp mà phẫu 
thuật viên sẽ có hướng xử trí thích hợp[13]. 
Trong nghiên cứu này, việc cắt bỏ tổn 
thương tại phúc mạc và BT được lựa chọn. 
Tỉ lệ cắt TCTP+ 1 phần phụ và cắt TCTP+2 
phần phụ lần lượt là 8,0 và 8,6%. Cắt tử 
cung, có hoặc không có cắt BT được xem là 
biện pháp điều trị triệt để đối với LNMTC. 
Nguy cơ phẫu thuật lần hai ở những bệnh 
nhân LNMTC được bảo tồn BT cao gấp 8 lần 
so với những phụ nữ được cắt 2 BT. Cắt tử 
cung bảo tồn BT có liên quan với 62% khả 
năng tái phát triệu chứng và 31% cần điều 
trị phẫu thuật hỗ trợ thêm. Ở những người 
bị cắt phần phụ hai bên, 10% có khả năng tái 
phát triệu chứng nhưng chỉ có 04% trường 
hợp cần phẫu thuật lại[10],[11]. 
Thời gian phẫu thuật
Một trong những ưu điểm của PTNS là 
thời gian mổ ngắn hơn so với mổ hở. Thời 
gian mổ trung bình trong nghiên cứu này là 
59,4± 31,2 phút và đa số bệnh nhân có thời 
gian phẫu thuật từ 30-60 phút (62,7%). Kết 
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của 
Nguyễn Bá Mỹ Nhi và cs: 53,4%[14].
Trong nghiên cứu này, thời gian mổ dài 
nhất là 275 phút, đây là trường hợp gặp 
tai biến (tổn thương trực tràng), phải kết 
hợp với bác sĩ khoa ngoại xử lý tai biến cho 
bệnh nhân.
Tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ
LNMTC làm biến dạng giải phẫu, không 
có mặt cắt mô rõ ràng và các tổn thương nội 
mạc lạc chỗ ở ruột, bàng quang, dây chằng 
tử cung-cùng, trực tràng, niệu quản và các 
cấu trúc mạch máu càng làm cho việc phẫu 
thuật thêm khó khăn, phức tạp. Do đó, các 
tai biến trong mổ có thể xảy ra trong những 
trường hợp như thế.
Tổn thương đại tràng sigma có 1 trường 
Trần Đình Vinh l 173
hợp chiếm 0,7%, tổn thương trực tràng có 1 
trường hợp chiếm 0,7% và tổn thương niệu 
quản có 2 trường hợp chiếm 1,3% (Bảng 5). 
Có 5 trường hợp chảy máu phải truyền máu 
trong mổ chiếm 3,3%. Tất cả các trường hợp 
tai biến đều xảy ra ở bệnh nhân LNMTC có 
mức độ dính nặng. Như vậy, tỉ lệ tai biến 
chung là 6,0% và tất cả các trường hợp đều 
được phát hiện trong mổ. Đây là điều quan 
trọng bởi vì việc phát hiện tai biến muộn sẽ 
làm cho việc xử trí sau này khó khăn hơn. 
Ngoài ra, nó còn có nguy cơ đe doạ tính 
mạng của bệnh nhân.
Bảng 6 cho thấy có 3 trường hợp nhiễm 
trùng vết mổ chiếm 2,0%. Tụ máu vết mổ 
có 2 trường hợp chiếm 1,3%. Tụ máu mỏm 
cắt âm đạo gặp trong 3 trường hợp chiếm 
2,0%. Tất cả các trường hợp này đều xảy 
ra ở các bệnh nhân có mức độ dính nặng, 
thời gian phẫu thuật kéo dài. Vì vậy, đối 
với các trường hợp khó, cần phải thận trọng 
trong mổ và sử dụng kháng sinh thích hợp 
sau mổ.
Trong nghiên cứu của Kaloo PD và cộng 
sự, tỉ lệ tai biến chung của PTNS điều trị 
LNMTC là 8,8/1000. Tất cả các tai biến đều 
được phát hiện trong mổ. Các tác giả này 
cho rằng hiệu quả mà PTNS đem lại cho 
bệnh nhân quan trọng hơn so với các tai 
biến trong mổ. Điều quan trọng là việc tiên 
lượng được các trường hợp khó dựa vào dữ 
liệu lâm sàng, siêu âm, nồng độ CA-125 để 
có kế hoạch phẫu thuật chi tiết, cẩn thận và 
thông báo trước các nguy cơ có thể xảy ra 
cho bệnh nhân[15].
Thời gian hậu phẫu
Một trong những ưu điểm của PTNS là có 
thời gian hậu phẫu ngắn hơn. Trong nghiên 
cứu này, đa số bệnh nhân có thời gian hậu 
phẫu từ 5-7 ngày, chiếm 84,0%. Thời gian 
hậu phẫu TB 6,3±2,0, ít nhất là 3 ngày, dài 
nhất là 14 ngày. Theo Nguyễn Bá Mỹ Nhi và 
cộng sự, 65,3% bệnh nhân u LNMTC được 
phẫu thuật nội soi có thời gian nằm viện 
dưới 3 ngày[14].
Sự thay đổi triệu chứng cơ năng, chất 
lượng cuộc sống và tình dục sau điều trị 
với thời gian theo dõi 12 tháng
Năm 1776, một bác sĩ người Scotland 
đã nói về bệnh LNMTC như sau “sự mệt 
mỏi về thể xác và tinh thần là điều không 
thể tránh khỏi đối với bệnh nhân LNMTC”. 
Hai thế kỷ sau, “sự mệt mỏi” đó vẫn còn là 
phần không thể tách rời của bệnh và tiếp 
tục gây giảm chất lượng cuộc sống do đau 
và vô sinh[16].
Nghiên cứu của Sepulcri DP và Amaral 
VF ở 104 bệnh nhân LNMTC từ 07/2004-
12/2006 cho thấy 86,5% bệnh nhân có triệu 
chứng trầm cảm và 87,5% có triệu chứng 
lo âu. Chất lượng cuộc sống ở dưới mức 
chuẩn, và có sự liên quan dương tính giữa 
cường độ đau và triệu chứng lo âu[17].
Vì thế, việc điều trị nhằm nâng cao chất 
lượng cuộc sống là điều cần thiết. Trong 
nghiên cứu này, có sự cải thiện rõ rệt về 
triệu chứng đau vùng chậu, chất lượng cuộc 
sống, và chỉ số hài lòng tình dục tổng thể 
sau điều trị với thời gian theo dõi 12 tháng 
(Bảng 8 và 9). Kết quả này cũng tương tự kết 
quả của Abott JA và cs[16], Ferrero S và cs[18].
Tỉ lệ có thai chung trong nhóm bệnh 
nhân hiếm muộn
Hiếm muộn cũng là một trong những 
mục tiêu của việc điều trị LNMTC. Tỉ lệ có 
thai dao động từ 23%-67% sau phẫu thuật 
LNMTC[19]. Trong một phân tích gộp so 
sánh phẫu thuật với các biện pháp điều trị 
không phẫu thuật ở tất cả các giai đoạn, 
người ta nhận thấy phẫu thuật đem lại tỉ lệ 
có thai cao hơn. Trong cùng phân tích gộp 
đó, khi so sánh phẫu thuật nội soi và mổ 
mở so với các biện pháp không phẫu thuật 
khác thì biện pháp phẫu thuật cũng đem lại 
hiệu quả cao hơn. Hiệu quả điều trị bằng 
CO2 laser, KTP-532, laser argon và đốt điện 
trong PTNS là như nhau. Giảm dự trữ BT 
sau PTNS là một trong những vấn đề được 
nhiều tác giả quan tâm. Theo Kahyaoglu và 
cs, PTNS bóc u và đốt mặt trong u LNMTC 
174 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
buồng trứng qua nội soi làm giảm dự trữ 
buồng trứng, nhưng không ảnh hưởng đến 
tỷ lệ có thai trong mỗi chu kỳ thụ tinh trong 
ống nghiệm và chuyển phôi[20]. Trong khi 
đó, nghiên cứu Busacca và cs cho thấy PTNS 
không làm hoặc làm giảm nhẹ dự trữ BT sau 
phẫu thuật[19]. Khi phẫu thuật nội soi cho các 
bệnh nhân hiếm muộn có LNMTC mức độ 
nhẹ, không có sự khác nhau về tỉ lệ có thai ở 
nhóm cắt tổn thương và đốt điện[21]. 
Tỉ lệ có thai tích luỹ sau 12 tháng là 35,0% 
và đa số là bệnh nhân có thai trong khoảng 
thời gian 5 tháng đầu sau mổ (Bảng 10 và 
bảng 11). Kết quả này cũng phù hợp với 
nghiên cứu Hồ Viết Thắng và cs[22]. Trong 
nghiên cứu này, một trong những tiêu 
chuẩn loại trừ là các trường hợp vô sinh do 
các bệnh lý khác như không phóng noãn, tắc 
vòi trứng không phải do u lạc nội mạc tử 
cung, bất thường tinh dịch đồ, hoặc những 
bệnh nhân đã từng được điều trị vô sinh 
nên việc có thai sau phẫu thuật là do kết quả 
điều trị u lạc nội mạc tử cung thành công.
Có nhiều bằng chứng cho thấy phẫu 
thuật có hiệu quả điều trị vô sinh ở tất cả các 
giai đoạn LNMTC, bao gồm cả u LNMTC ở 
BT. Một nghiên cứu đa trung tâm tại Canada 
(ENDOCAN) cho thấy khả năng sinh sản 
tăng gấp đôi sau phẫu thuật LNMTC giai 
đoạn I-II. Trong khi đó, một nghiên cứu tại 
Ý không cho thấy sự khác biệt. Tuy nhiên, 
yếu điểm của nghiên cứu tại Ý là cỡ mẫu 
nhỏ. Một phân tích gộp của hai nghiên cứu 
đa trung tâm này cho thấy có sự cải thiện 
về khả năng sinh sản sau phẫu thuật. PTNS 
được khuyến cáo trong điều trị vô sinh 
ở bệnh nhân LNMTC. Điều này cho phép 
chẩn đoán xác định, loại bỏ tổn thương, điều 
trị triệu chứng đau, chẩn đoán các bệnh lý 
khác kèm theo nếu có và làm tăng khả năng 
sinh sản[13].
Tỉ lệ tái phát u LNMTC trên siêu âm 
trong thời gian theo dõi.
Tái phát là một đặc trưng của bệnh lý 
LNMTC, nguy cơ tái phát tăng cao ở những 
bệnh nhân lớn tuổi và LNMTC giai đoạn 
tiến triển. Theo tiêu chuẩn của Exacoustos 
và cộng sự, LNMTC ở BT được xem là tái 
phát trên siêu âm khi có sự hiện diện của 
tiêu chuẩn điển hình với đường kính>1cm[7]. 
Sử dụng cùng tiêu chuẩn, tỉ lệ tái phát 
u LNMTC ở BT trên siêu âm trong nghiên 
cứu này (5,3%) thấp hơn trong nghiên cứu 
của Sesti F và cs (36/240=15%). Tuy nhiên, 
nghiên cứu của các tác giả trên có thời gian 
theo dõi là 18 tháng trong khi nghiên cứu 
của chúng tôi là 12 tháng[3]. Theo Cheong và 
cs tỷ lệ tái phát thay đổi từ 5-24%[23].
LNMTC là một bệnh mãn tính. Tuỳ theo 
mức độ của bệnh mà tỉ lệ tái phát khác nhau. 
Tỉ lệ tái phát được đánh giá trên siêu âm sau 
05 năm là 20%[24]. Các bệnh nhân LNMTC 
với mức độ từ trung bình đến nặng, triệu 
chứng đau tồn tại dai dẳng và không muốn 
sinh con thì biện pháp điều trị lý tưởng là 
cắt tử cung toàn phần và hai phần phụ. Mặc 
dù vậy, vẫn có 3% bệnh nhân tái phát nên 
việc tiếp tục theo dõi là vấn đề quan trọng[10].
Kết luận
Có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng đau 
vùng chậu, chất lượng cuộc sống, và chỉ số 
hài lòng tình dục tổng thể sau điều trị với 
thời gian theo dõi 12 tháng.
Tỉ lệ có thai tích luỹ sau 12 tháng ở các 
bệnh nhân hiếm muộn là 35,0% và đa số là 
bệnh nhân có thai trong khoảng thời gian 5 
tháng đầu sau mổ.
Tỉ lệ tái phát u LNMTC ở BT trên siêu âm 
là 5,3%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Missmer SA, Cramer DW (2003), The 
epidemiology of endometriosis, Obstet 
Gynecol Clin N Am, 30, pp.1 - 19.
2. Hudelist G, Oberwinkler KH, Singer CF 
et al (2009), Combination of transvaginal 
sonography and clinical examination 
Trần Đình Vinh l 175
for preoperative diagnosis of pelvic 
endometriosis, Human Reproduction, 24(5), 
pp.1018-1024.
3. Sesti F, Capozzolo T, Pietropolli A et al 
(2009), Recurrence rate of endometrioma 
after laparoscopic cystectomy: A 
comparative randomized trial between 
post-operative hormonal suppression 
treatment or dietary therapy vs. 
placebo, European Journal of Obstetrics & 
Gynecology and Reproductive Biology, 147, 
pp.72-77.
4. Vercellini P, Fedele L, Aimi G (2007), 
Association between endometriosis 
stage, lesion type, patient characteristics 
and severity of pelvic pain symptoms: 
a multivariate analysis of over 1000 
patients, Human Reproduction, 22(1), 
pp.266-271.
5. Brooks R and the EuroQol Group (1996), 
EuroQol: the current state of play, Health 
Policy, 37, pp.53-72.
6. Ferrero S, Esposito F, Abbamonte 
LH et al (2005), Quality of sex life in 
women with endometriosis and deep 
dyspareunia, Fertil Steril, 83, pp.573-9.
7. Exacoustos C, Zupi E, Amadio A et al 
(2006), Recurrence of endometriomas 
after laparoscopic removal: sonographic 
and clinical follow-up and indication for 
second surgery, J Minim Invasive Gynecol, 
13(4), pp.281-8.
8. Yazbek J, Helmy S, Ben-Nagi J et al 
(2007), Value of preoperative ultrasound 
examination in the selection of women 
with adnexal masses for laparoscopic 
surgery, Ultrasound Obstet Gynecol, 30, 
pp.883-888.
9. Deffieux X, Castaigne D, Pomel C(2006), 
Role of laparoscopy to evaluate 
candidates for complete cytoreduction 
in advanced stages of epithelial ovarian 
cancer, Int J Gynecol Cancer, 16 (Suppl. 
1), pp.35-40.
10. ACOG Practice Bulletin (2007), “Điều trị 
nội khoa lạc nội mạc tử cung”, Tạp chí 
Phụ Sản, 6(1-2), tr. 33-43.
11. Chapron C, Vercellini P, Barakat H 
et al (2002), Management of ovarian 
endometriomas, Human Reproduction 
Update, 8(6), pp.591-597.
12. Radosa MP, Bernardi TS, Georgiev I et 
al (2010), Coagulation versus excision 
of primary superficial endometriosis: 
a 2-year follow-up, European Journal of 
Obstetrics & Gynecology and Reproductive 
Biology, 150, pp.195-198.
13. Barton-Smith P, Ballard K, Kent ASH 
(2006), Endometriosis: A general review 
and rationale for surgical therapy, 
Reviews in Gynaecological and Perinatal 
Practice, 6, pp.168-176.
14. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2003), “Tình hình 
chẩn đoán và điều trị u lạc nội mạc tử 
cung vào buồng trứng trong năm 2002 
tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ TP Hồ Chí 
Minh”, Nội san Sản Phụ khoa, Số đặc biệt, 
Đại hội đại biểu Hội Phụ Sản Việt Nam 
khoá XV, tr. 200-211.
15. Kaloo PD, Cooper MJW, Reid G (2006), 
A prospective multi-centre study of 
major complications experienced 
during excisional laparoscopic surgery 
for endometriosis, European Journal of 
Obstetrics & Gynecology and Reproductive 
Biology, 124, pp.98-100.
16. Abbott JA, Hawe J, Clayton RD et al 
(2003), The effects and effectiveness of 
laparoscopic excision of endometriosis: a 
prospective study with 2-5 year follow-
up, Human Reproduction, 18(9), pp.1922-
1927.
17. Sepulcri R, Amaral VF (2009), Depressive 
symptoms, anxiety, and quality of life 
in women with pelvic endometriosis, 
European Journal of Obstetrics & 
Gynecology and Reproductive Biology, 142, 
pp.53-56.
18. Ferrero S, Abbamonte LH, Giordano 
M et al (2007), Deep dyspareunia and 
176 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
sex life after laparoscopic excision of 
endometriosis, Human Reproduction, 
22(4), pp.1142-1148.
19. Busacca M, Riparini J, Somigliana E et 
al (2006), Postsurgical ovarian failure 
after laparoscopic excision of bilateral 
endometriomas, American Journal of 
Obstetrics and Gynecology, 195, pp.421-5.
20. Kahyaoglu S, Ertas E, Kahyaoglu I et al 
(2008), Does laparoscopic cystectomy 
and cauterization of endometriomas 
greater than 3 cm diminish ovarian 
response to controlled ovarian 
hyperstimulation during IVF-ET? A 
case-control study, J. Obstet. Gynaecol. 
Res, 34(6), pp.1010-1013.
21. Ozkan S, Murk W, Arici AA (2008), 
Endometriosis and Infertility 
Epidemiology and Evidence-based 
Treatments, Ann. N.Y. Acad. Sci, 1127, 
pp.92-100.
22. Hồ Viết Thắng (2005), Đánh giá kết quả 
nội soi điều trị bệnh nhân vô sinh có lạc nội 
mạc tử cung, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ 
nội trú, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
23. Cheong Y, Tay P, Luk F et al (2008), 
Laparoscopic surgery for endometriosis: 
How often do we need to re-operate, 
Journal of Obstetrics and Gynaecology, 
28(1), pp.82 - 85.
24. Griffiths AN, Koutsouridou RN, Penketh 
RJ (2007), Predicting the presence 
of rectovaginal endometriosis from 
the clinical history: A retrospective 
observational study, Journal of Obstetrics 
and Gynaecology, 27(5), pp.493 - 495.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_dieu_tri_lac_noi_mac_tu_cung_bang_phau_thu.pdf