Đánh giá hiệu quả của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh trên các thông số tinh dịch đồ

Để đánh giá tác dụng của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh (TMT) giãn lên các thông số tinh dịch đồ ở những

bệnh nhân vô sinh, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi dọc có nhóm chứng trên

214 bệnh nhân tới khám tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Trong đó, 148 bệnh nhân nam vô sinh có giãn

tĩnh mạch tinh thuộc nhóm bệnh và 66 nam giới có sức khỏe sinh sản bình thường không giãn TMT thuộc

nhóm chứng. Kết quả cho thấy giãn TMT làm suy giảm cả về số lượng và chất lượng của tinh trùng. Mật

độ tinh trùng ở nhóm bệnh là 49,7 ± 40,5 triệu/ml thấp hơn so với nhóm chứng là 96,62 ± 59,1 với triệu/

ml với p = 0,001. Tỷ lệ tinh trùng di động ở nhóm bệnh cũng có sự suy giảm rõ rệt (33,8 ± 20,24% so với

nhóm chứng là 52,98 ± 14,36%, p = 0,001). Vi phẫu thắt TMT giúp cải thiện các thông số tinh dịch đồ, trong

đó mật độ tinh trùng có sự cải thiện rõ rệt (49,8 ± 41,1 triệu/ml lên 71,4 ± 57,5 triệu/ml với p = 0,001). Sự

cải thiện sau phẫu thuật chưa đủ lớn để đưa các thông số tinh dịch đồ trở về mức độ của nhóm chứng

pdf 8 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh trên các thông số tinh dịch đồ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh trên các thông số tinh dịch đồ

Đánh giá hiệu quả của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh trên các thông số tinh dịch đồ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019164
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VI PHẪU THẮT TĨNH MẠCH TINH 
TRÊN CÁC THÔNG SỐ TINH DỊCH ĐỒ 
Nguyễn Hoài Bắc¹, Nguyễn Cao Thắng², Phạm Minh Quân¹
 ¹Trường Đại học Y Hà Nội, ²Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Để đánh giá tác dụng của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh (TMT) giãn lên các thông số tinh dịch đồ ở những 
bệnh nhân vô sinh, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi dọc có nhóm chứng trên 
214 bệnh nhân tới khám tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Trong đó, 148 bệnh nhân nam vô sinh có giãn 
tĩnh mạch tinh thuộc nhóm bệnh và 66 nam giới có sức khỏe sinh sản bình thường không giãn TMT thuộc 
nhóm chứng. Kết quả cho thấy giãn TMT làm suy giảm cả về số lượng và chất lượng của tinh trùng. Mật 
độ tinh trùng ở nhóm bệnh là 49,7 ± 40,5 triệu/ml thấp hơn so với nhóm chứng là 96,62 ± 59,1 với triệu/
ml với p = 0,001. Tỷ lệ tinh trùng di động ở nhóm bệnh cũng có sự suy giảm rõ rệt (33,8 ± 20,24% so với 
nhóm chứng là 52,98 ± 14,36%, p = 0,001). Vi phẫu thắt TMT giúp cải thiện các thông số tinh dịch đồ, trong 
đó mật độ tinh trùng có sự cải thiện rõ rệt (49,8 ± 41,1 triệu/ml lên 71,4 ± 57,5 triệu/ml với p = 0,001). Sự 
cải thiện sau phẫu thuật chưa đủ lớn để đưa các thông số tinh dịch đồ trở về mức độ của nhóm chứng.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ khóa: Giãn tĩnh mạch tinh, thắt tĩnh mạch tinh vi phẫu, tinh dịch đồ, tinh trùng bình thường, ít, yếu, 
dị dạng
Giãn tĩnh mạch tinh (TMT) là tình trạng 
giãn bất thường của đám rối TMT nằm trong 
bìu do sự trào ngược máu từ tĩnh mạch thận ở 
bên trái và tĩnh mạch chủ ở bên phải về TMT 
trong. Bệnh xuất hiện với tần số khoảng 15% 
nam giới trong cộng đồng nói chung, 19 - 41% 
các trường hợp nam vô sinh nguyên phát và 
khoảng 45 - 84% các trường hợp vô sinh thứ 
phát [1]. 
Giãn TMT gây ảnh hưởng đến chức năng 
sinh sản của nam giới theo nhiều cơ chế khác 
nhau. Tuy nhiên, một vài cơ chế được nhắc đến 
nhiều là sự thiếu oxy mô và tổ chức khi tuần 
hoàn bị ứ trệ gây rối loạn chức năng của các 
tế bào dòng tinh, sự trào ngược của các sản 
phẩm chuyển hóa từ thận và tuyến thượng thận 
qua tĩnh mạch thận, và sự gia tăng nhiệt độ của 
tinh hoàn [2] Những cơ chế này tác động xấu 
đến quá trình sản xuất tinh trùng và chức năng 
của tế bào Leydig, chất lượng tinh dịch bị suy 
giảm đáng kể ở những người bị giãn tĩnh mạch 
tinh và mức độ suy giảm càng nặng khi độ giãn 
càng tăng [3].
Trên thế giới có đã có nhiều nghiên cứu về 
hiệu quả của vi phẫu thắt TMT đối với chức 
năng sinh sản của nam giới. Tuy nhiên, vẫn 
chưa có sự thống nhất trong các kết luận thu 
được. Trong khi nhiều tác giả cho rằng phẫu 
thuật giãn TMT đã làm tăng tỉ lệ có thai tự nhiên 
cũng như cải thiện các thông số tinh dịch thì 
vẫn có những tác giả khác đưa ra các ý kiến 
ngược lại [2; 4]. Tại Việt Nam, đã có một số báo 
cáo về kết quả phẫu thuật giãn TMT lên các 
thông số tinh dịch đồ [5 - 7]. Tuy nhiên, hầu hết 
những nghiên cứu này chỉ là những nghiên cứu 
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hoài Bắc, 
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 11/06/2019
Ngày được chấp nhận: 15/07/2019
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019 165
hồi cứu, cỡ mẫu nhỏ, đánh giá kết quả ngắn 
hạn của phẫu thuật đối với sự thay đổi một số 
thông số tinh dịch và không có nhóm đối chứng. 
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này 
với mục tiêu:
Đánh giá hiệu quả vi phẫu thuật thắt tĩnh 
mạch tinh trên các thông số tinh dịch đồ ở 
những bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện trên 214 bệnh 
nhân trong đó 148 bệnh nhân giãn TMT thuộc 
nhóm bệnh và 66 bệnh nhân khỏe mạnh, vợ 
đang mang bầu tự nhiên, không vô sinh và 
không giãn TMT thuộc nhóm chứng.
Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm bệnh
- Được chẩn đoán giãn TMT một bên.
- Có chỉ định phẫu thuật thắt TMT giãn
- Khám lâm sàng, làm đầy đủ các xét nghiệm 
tại thời điểm nghiên cứu.
- Được phẫu thuật vi phẫu thắt tĩnh mạch 
tinh.
Tiêu chuẩn loại trừ nhóm bệnh
- Giãn TMT thể cận lâm sàng (giãn độ 0)
- Những bệnh nhân giãn thể lâm sàng nhưng 
lại không thấy có dấu hiệu giãn trên siêu âm.
- Được điều trị giãn TMT bằng các phương 
pháp khác như phẫu thuật nội soi hoặc nút 
mạch.
Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng
- Là những người đến khám sức khỏe định 
kỳ có vợ đang mang thai tự nhiên.
- Không giãn TMT được xác định qua khám 
lâm sàng và siêu âm Doppler tinh hoàn.
- Bệnh nhân có sức khỏe toàn thân bình 
thường (được xác nhận qua khám sức khỏe 
định kỳ).
2. Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi dọc 
có nhóm chứng.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2013 
đến tháng 8 năm 2018. 
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đại học Y 
Hà Nội.
Xét nghiệm tinh dịch đồ
Tất cả các mẫu tinh dịch được phân tích tại 
Trung tâm Tư vấn Di truyền, Bệnh viện Đại học 
Y Hà Nội bằng máy CASA (Computer Aided 
Sperm Analysis- Hệ thống phân tích tinh trùng 
có hỗ trợ của máy tính) của hãng MTG-Đức. 
Giá trị tham khảo được lấy theo khuyến cáo 
của Tổ chức Y tế thế giới năm 1999 [8]. Chỉ 
số tổng số tinh trùng di động (TMC) được tính 
bằng công thức TMC= thể tích tinh dịch x mật 
độ tinh trùng x % tinh trùng di động. Phân nhóm 
chỉ số TMC dựa trên các giá trị tham khảo của 
các thông số thành phần.
Siêu âm Doppler tinh hoàn
Tiêu chuẩn để chẩn đoán giãn tĩnh mạch 
tinh trên siêu âm Doppler: dòng trào ngược 
tĩnh mạch tồn tại trên 1 giây (theo tiêu chuẩn 
của Cornud) và đường kính tĩnh mạch tinh 
tăng lên trước và sau khi làm nghiệm pháp 
Valsava với trên 3 tĩnh mạch có đường kính 
lớn hơn 3 mm khi làm nghiệm pháp Valsava.
Theo dõi sau phẫu thuật
Sau phẫu thuật, bệnh nhân được hẹn 
khám lại sau 3 tháng để đánh giá hiệu quả 
của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh lên các thông 
số tinh dịch đồ. Trong 148 bệnh nhân thuộc 
nhóm giãn, có 138 bệnh nhân đến khám lại.
3. Xử lý số liệu
Các biến liên tục được mô tả dưới dạng 
trung bình ± độ lệch chuẩn, sự khác biệt 
giữa 2 nhóm được ước tính theo thuật toán 
T-student test đối với biến phân bố chuẩn và 
Mann Whitney test với biến phân bố không 
chuẩn. 
Các biến phân loại được mô tả dưới dạng 
số lượng và tỷ lệ phần trăm, sự khác biệt giữa 
các tỷ lệ được ước tính bằng thuật toán Χ2 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019166
hoặc Fisher’s exact tests Phân tích phương 
sai (ANOVA) và phân tích hậu định Bonferroni 
được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa 
nhiều nhóm. 
Tất cả các dữ liệu trên được nhập và phân 
tích bằng phân mềm STATA 13 của Tổ chức 
Y tế Thế giới.
III. KẾT QUẢ 
1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh và nhóm chứng
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh và nhóm chứng
Đặc điểm
Nhóm bệnh
(n = 148)
Nhóm chứng 
(n = 66) p
(Mean ± SD) (Mean ± SD)
Tuổi (năm) 29,9 ± 5,5 28,8 ± 4,3 0,07
BMI (kg/m²) 21,9 ± 2,4 22,5 ± 2,5 0,07
Thể tích trung bình tinh hoàn (ml) 12,8 ± 3,8 13,7 ± 3,8 0,08
Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh là 29,9 ± 5,5 năm và nhóm chứng là 28,8 ± 4,3 năm. BMI của 
hai nhóm tương đồng nhau (21,9 ± 2,4 ở nhóm bệnh và 22,5 ± 2,5 ở nhóm chứng). Thể tích tinh 
hoàn của hai nhóm nằm trong giới hạn bình thường.
2. So sánh các thông số tinh dịch đồ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
4. Đạo đức nghiên cứu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu là 
hoàn toàn tự nguyện và có quyền rút khỏi 
nghiên cứu khi không muốn tham gia. Các 
thông tin liên quan đến người tham gia nghiên 
cứu được đảm bảo bí mật. 
Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban giám 
đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Biểu đồ 1. So sánh đặc điểm tinh dịch đồ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
Các thông số tinh dịch đồ của nhóm bệnh đều thấp hơn nhiều so với nhóm chứng.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019 167
3. Tác dụng của vi phẫu đối với các thông số tinh dịch đồ
Bảng 2. So sánh các thông số tinh dịch đồ của nhóm bệnh trước và sau phẫu thuật
Đặc 
điểm
Nhóm bệnh trước 
phẫu thuật
Nhóm bệnh sau PT Nhóm chứng
p1
(trước 
- sau 
PT)
p2
(sau 
PT - 
chứng)
n Mean ± SD n Mean ± SD n Mean ± SD
Mật độ tinh trùng (triệu/ml)
Toàn 
nhóm 138 49,8 ± 41,1 138 71,4 ± 57,5
66 96,62 ± 59,1 0,001 0,002
< 20 37 9,2 ± 6,7 37 33,2 ± 37,4 4 13,65 ± 4,71 0,001 0,15
≥ 20 101 64,7 ± 38,3 101 85,4 ± 57,3 62 101,97 ± 56,93 0,007 0,04
Độ di động tiến tới (%)
Toàn 
nhóm 138 33,9 ± 20,4 138 39,3 ± 21,9
66 52,98 ± 14,36 0,0017 0,001
< 50 103 25,2 ± 15,6 103 34,3 ± 21,6 24 37,88 ± 9,69 0,001 0,02
≥ 50 35 59,6 ± 6,3 35 54,0 ± 15,2 42 61,62 ± 7,98 0,29 0,003
Tổng số tinh trùng di động tiến tới (triệu)
Toàn 
nhóm 138 65,0 ± 74,9 138 108,5 ± 117,3
66 188,16 ± 174,89 0,001 0,001
< 20 54 6,1 ± 5,9 54 45,1 ± 72,1 8 12,14 ± 3,81 0,001 0,1
≥ 20 84 102,8 ± 74,3 84 149,3 ± 122,8 58 212,44 ± 173 0,003 0,006
Sau phẫu thuật, các thông số tinh dịch đều được cải thiện. Trong đó, có sự cải thiện đáng kể về 
MĐTT ở nhóm tinh trùng ít (Oligospermia) từ 9,2 ± 6,7 lên 34,3 ± 21,6 với p = 0,001.
Biểu đồ 2. Tỷ lệ bất thường của tinh dịch đồ của nhóm bệnh sau phẫu thuật so với 
nhóm chứng
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019168
Ở nhóm bệnh tỉ lệ tinh dịch đồ bất thường 
được cải thiện đáng kể sau phẫu thuật. Tuy 
nhiên, tỉ lệ này vẫn thấp hơn nhóm chứngTỷ lệ 
bất thường các thông số tinh dịch đồ của nhóm 
bệnh tuy có sự cải thiện nhiều nhưng vẫn thấp 
hơn so với nhóm chứng.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi trên 214 đối tượng 
nam giới, trong đó 148 đối tượng là những nam 
giới có giãn TMT thể lâm sàng (nhóm bệnh) và 
66 đối tượng là những nam giới có khả năng 
sinh sản bình thường không giãn tĩnh mạch 
tinh (nhóm chứng). Số liệu từ Bảng 1 cho thấy 
không có sự khác biệt đáng kể về một số đặc 
điểm chung giữa hai nhóm như tuổi, chỉ số BMI 
và thể tích tinh hoàn. Đây là cơ sở giúp chúng 
tôi có thể so sánh những dữ liệu thu thập được 
giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. 
Các tác giả Abdel-Meguid (2011) và Ghazi 
(2011) cũng nghiên cứu trên nhóm đối tượng 
có đặc điểm chung tương đồng với nghiên cứu 
của chúng tôi. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi 
có thể so sánh kết quả thu được với các tác giả 
khác [4; 9]. 
Ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch tinh tới số 
lượng và chất lượng của tinh trùng đã được 
chứng minh trong nhiều nghiên cứu. Trong một 
nghiên cứu có quy mô lớn đa trung tâm của 
WHO trên 9034 nam giới cho thấy tỉ lệ giãn tĩnh 
mạch tinh chiếm 25,4% ở những nam giới vô 
sinh có bất thường tinh dịch đồ trong khi tỉ lệ 
này chỉ chiếm 11,7% ở những nam giới vô sinh 
có tinh dịch đồ bình thường. Điều này cho thấy 
giãn tĩnh mạch tinh đã có tác động xấu đến quá 
trình sản xuất tinh trùng và chức năng của tế 
bào Leydig [3]. 
Một nghiên cứu khác trên những bệnh nhân 
vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh và nhóm chứng 
cũng cho thấy cả mật độ tinh trùng (MĐTT) và 
độ di động tiến tới (DĐTT) ở nhóm vô sinh có 
giãn thấp hơn nhiều so với nhóm chứng. Trong 
khi MĐTT trung bình ở nhóm chứng là 111,8 ± 
74,2 triệu/ml thì ở nhóm giãn tĩnh mạch tinh chỉ 
là 33,7 ± 23,3 triệu/ml, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,02. Tương tự như vậy, độ 
DĐTT của tinh trùng ở nhóm chứng là 58,9 ± 
15,8 % thì ở nhóm giãn tĩnh mạch tinh chỉ là 
37,2 ± 23,9 %; sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê với p = 0,04 [10]. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên 148 
bệnh nhân vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh cho 
thấy MĐTT trung bình là 49,7 ± 40,5 triệu/ml, 
DĐTT là 33,9 ± 20,4% và tổng số tinh trùng di 
động (TMC) là 65 ± 74,9 triệu. Các thông số 
này thấp hơn nhiều so với các thông số tương 
ứng ở nhóm chứng là 96,62 ± 59,1 triệu/ml, 
52,98 ± 14,36% và 188,16 ± 174,89 triệu (Biểu 
đồ 1). Sự khác biệt giữa các thông số này đều 
có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết quả này 
cho thấy giãn tĩnh mạch tinh có tác động tiêu 
cực đến khả năng sản xuất tinh trùng của tinh 
hoàn. 
Phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh làm cải thiện 
các thông số tinh dịch đồ được biết đến từ giữa 
thế kỷ 20. Tác giả đầu tiên báo cáo về mối liên 
quan giữa thắt tĩnh mạch tinh và sự cải thiện các 
thông số tinh dịch đồ là Tulloch. Trong nghiên 
cứu của mình, tác giả đã báo cáo tỉ lệ 66% 
bệnh nhân bị vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh cải 
thiện tinh dịch đồ sau phẫu thuật. Các nghiên 
cứu độc lập sau đó cũng khẳng định mối liên 
quan này. Nghiên cứu trên những bệnh nhân 
vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh thể lâm sàng, 
các tác giả ghi nhận mật độ tinh trùng tăng từ 
11,6 triệu/ml lên 25,3 triệu/ml với p < 0,001 và 
và tỉ lệ di động tiến tới cũng tăng từ 21,3% lên 
30,2% với p < 0,05, sau phẫu thuật thắt tĩnh 
mạch tinh 12 tháng [11]. 
Nghiên cứu tổng hợp của tác giả Agarwal 
từ 17 nghiên cứu khác trên đối tượng là những 
nam giới vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh có bất 
thường ít nhất một trong các thông số tinh dịch 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019 169
đồ. Kết quả cho thấy sau phẫu thuật mật độ 
tinh trùng tăng thêm 9,71 triệu/ml (95% CI: 
7,34 - 12,08 với p < 0,00001) và độ di động 
tiến tới tăng lên 9,92% (95% CI: 4,9 - 14,95 với 
p < 0,0001), [12].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết 
các thông số tinh dịch đồ đều được cải thiện 
đáng kể sau phẫu thuật. Mật độ tinh trùng sau 
phẫu thuật tăng từ 49,8 ± 41,1 triệu/ml lên 71,4 
± 57,5 triệu/ml với p = 0,001. Độ DĐTT tăng từ 
33,9 ± 20,4% lên 39,3 ± 21,9% (với p = 0,0017) 
và chỉ số TMC tăng từ 65,0 ± 74,9 lên 108,5 ± 
117,3 (với p = 0,001) (Bảng 2).
Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương 
đồng với tác giả Cho.Y khi so sánh giá trị trung 
bình của một số thông số tinh dịch đồ sau phẫu 
thuật với trước phẫu thuật. Kết quả cho thấy 
sau phẫu thuật có sự cải thiện đáng kể về mật 
độ tinh trùng (31,8 ± 1,7 triệu/ml so với 27,1 ± 
1,8 triệu/ml với p = 0,011), độ di động tiến tới 
(41,4 ± 1,1% so với 37,5 ± 0,8% với p = 0,003) 
và tổng số tinh trùng di động (61,2 ± 1,1 triệu 
so với 57 ± 1,1 triệu với p = 0,003) [13]. Sau vi 
phẫu thắt tĩnh mạch tinh, dòng máu ứ trệ trong 
tinh hoàn và đám rối tĩnh mạch theo tuần hoàn 
bàng hệ về tuần hoàn chung, sự ứ trệ tuần 
hoàn được cải thiện sẽ hạn chế sự hình thành 
của các gốc oxy hóa. Do vậy, cả số lượng và 
chất lượng đều được cải thiện đáng kể.
Rõ ràng, phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh giãn 
làm cải thiện đáng kể các thông số tinh dịch đồ 
ở những bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh. Tuy 
nhiên, mức độ cải thiện như thế nào ? Liệu sự 
cải thiện này có đủ lớn để đưa các thông số 
tinh dịch đồ có thể trở về mức bình thường có 
thể sinh sản tự nhiên được hay không? 
Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi đã 
tiến hành so sánh giá trị trung bình của các 
thông số tinh dịch đồ sau phẫu thuật với các 
thông số tinh dịch đồ tương ứng của những 
nam giới khỏe mạnh, vợ đang mang bầu và 
không có giãn tĩnh mạch tinh (nhóm chứng). 
Kết quả cho thấy cả ba thông số: MĐTT, độ 
DĐTT và chỉ số TMC sau phẫu thuật của nhóm 
bệnh đều thấp hơn so với nhóm chứng với p < 
0,005 (Bảng 2). 
Tương tự như vậy, khi so sánh tỉ lệ bất 
thường các thông số tinh dịch đồ giữa nhóm 
bệnh sau phẫu thuật với nhóm chứng, chúng 
tôi cũng nhận thấy tỉ lệ bất thường về mật độ 
tinh trùng, độ di động tiến tới và chỉ số TMC ở 
nhóm bệnh sau phẫu thuật vẫn cao hơn nhiều 
so với nhóm chứng p < 0,005 (Biểu đồ 2). Như 
vậy phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh đã làm cải 
thiện các thông số tinh dịch đồ, tuy nhiên mức 
độ cải thiện chưa đủ lớn để đưa các thông số 
này trở về mức độc của nhóm chứng. Theo 
chúng tôi, để đưa các thông số tinh dịch đồ trở 
về mức độ của nhóm chứng có lẽ cần thêm 
thời gian theo dõi hoặc các biện pháp điều trị 
nội khoa phối hợp.
V. KẾT LUẬN
Giãn tĩnh mạch tinh làm suy giảm chất 
lượng tinh trùng cả về số lượng và chất lượng. 
Vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh làm cải thiện các 
thông số tinh dịch đồ. 
Mức độ cải thiện các thông số tinh dịch đồ 
chưa đủ lớn để đạt tới mức của nhóm chứng 
sinh sản bình thường không giãn tĩnh mạch 
tinh.
Lời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến 
những bệnh nhân đã tham gia vào nghiên cứu 
này. Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể 
Trung tâm Y Khoa số 1 Tôn Thất Tùng và khoa 
Ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mohammed A. and Chinegwundoh F. 
(2009). Testicular varicocele: an overview. Urol 
Int, 82(4), 373-9.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019170
2. Ficarra V., et al (2012). Varicocele repair 
for infertility: what is the evidence? Curr Opin 
Urol, 22(6), 489-94.
3. WHO (1992). The influence of varicocele 
on parameters of fertility in a large group of men 
presenting to infertility clinics. World Health 
Organization. Fertil Steril, 57(6), 1289-93.
4. Abdel-Meguid T.A., et al (2011). Does 
varicocele repair improve male infertility? 
An evidence-based perspective from a 
randomized, controlled trial. Eur Urol, 59(3), 
455-61.
5. Nguyễn Thành Như và Nguyễn Hồ Vĩnh 
Phước (2010). Vô tinh không bế tắc kèm giãn 
tĩnh mạch tinh: Hiệu quả của vi phẫu cột tĩnh 
mạch tinh hai bên ngả bẹn bìu. Y học Việt Nam, 
375(Tháng 11- số 2/2010), 97- 101.
6. Trịnh Hoàng Giang, Nguyễn Phương 
Hồng và Vũ Nguyễn Khải Ca (2013). Tình hình 
điều trị phẫu thuật giãn tĩnh mạch tinh tại Trung 
tâm Nam học Bệnh viện Việt Đức 10 năm nhìn 
lại. Y học Việt Nam, 403(3/2013), 535-543.
7. Nguyễn Hoài Bắc và Bùi Cảnh Vin 
(2017). Tác dụng của vi phẫu thắt tĩnh mạch 
tinh lên độ phân mảnh DNA tinh trùng ở những 
bệnh nhân vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh. Tạp 
chí Nghiên cứu y học, 106(1), 137-146.
8. WHO (2000). WHO Manual for the 
Standardized Investigation and Diagnosis of 
the Infertile Couple. Cambridge: Cambridge 
University Press.
9. Ghazi S. and Abdelfattah H. (2011). 
Effect of microsurgical varicocelectomy on 
sperm DNA fragmentation in infertile men. 
Middle East Fertility Society Journal, 16(2), 
149-153.
10. Pasqualotto F.F., et al (2005). Semen 
profile, testicular volume, and hormonal levels 
in infertile patients with varicoceles compared 
with fertile men with and without varicoceles. 
Fertility and Sterility, 83(1), 74-77.
11. Okuyama A., et al (1988). Surgical 
repair of varicocele: effective treatment for 
subfertile men in a controlled study. Eur Urol, 
14(4), 298-300.
12. Agarwal A., et al (2007). Efficacy 
of varicocelectomy in improving semen 
parameters: new meta-analytical approach. 
Urology, 70(3), 532-8.
13. Cho S.Y., et al (2011). Beneficial effects 
of microsurgical varicocelectomy on semen 
parameters in patients who underwent surgery 
for causes other than infertility. Urology, 77(5), 
1107-10.
Summary
EFFECTS OF MICROVARICOCELECTOMY ON SEMEN 
PARAMETERS IN INFERTILE MEN
This study was conducted to evaluate the effect of surgical varicocelectomy on sperm 
analysis in infertile men. A controlled observational study was based on 214 patients who sought 
medical consultation at Hanoi Medical University Hospital. The study group is composed of 
148 males diagnosed with male infertility and the control group is composed of 66 males with 
normal reproductive function. It has been observed that varicocele had an negative effect on 
all semen characteristics. Sperm concentration of the study group was 49.7 ± 40.5 million/
ml which is lower than the control group at 96.62 ± 59.1 million/ml with p = 0.001. Similarly, 
there was a decline in sperm motility in the study group, 33.8 ± 20.24% compared to 52.98 
± 14.36% in the control group with p = 0.001. Surgical varicocelectomy has improved semen 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 123 (7) - 2019 171
quality, most notable in sperm concentration which has increased from 49.8 ± 41.1 million/ml 
to 71.4 ± 57.5 million/ml with p = 0.0001. Therefore, surgical varicocelectomy is determined 
to be an effective method for treating varicocele patients with impaired semen analysis.
Keywords: Varicocele, varicocelectomy, semen analysis, oligozospermia, asthenospermia, 
tetratospermia.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_cua_vi_phau_that_tinh_mach_tinh_tren_cac_t.pdf